tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19380609
Truyện ngắn
05.11.2012
Vũ Bằng
Cô gọi hồn Quán Gánh (tiếp và hết)

Nhiêu Tâm nói:


– Anh chẳng biết nghĩ ra thế nào... Nhưng hồi còn đi học ở tỉnh, anh có đọc mấy cuốn sách nói về bí mật Đông phương, bí mật đời người thì thấy có nhà bác học viết rằng trong các cuộc vận dụng với thế giới vô hình, bao giờ cũng có sự hiểm nghèo, nhưng cuộc vận dụng ấy tự nó, có một tính cách cao quý bởi vì đó là cuộc vận dụng của khoa học. Trong thế giới này, thiếu gì người hy sinh cho khoa học, thiếu gì người tiên phong đã phải trả nợ đến hình hài giúp cho những người đi sau thẳng tiến trên vết xe người đi trước.


Trong tám năm nay, hại tim mệt óc mà không quản ngại, em đã phụng sự cho khoa học huyền bí mà em không biết. Bây giờ nhiệm vụ đó có thể coi như xong rồi. Kể từ nay, em có thể tự do hưởng một cuộc đời sung sướng với chồng con.


Yểng nhìn Tâm trìu mến. Vẻ mặt nàng trở lại bình thường. Nàng nhìn lên cái đồng hồ treo trên tường:


– Bà Soa đến chậm, hay là bà ấy không đến?


– Không có lẽ. Có thể đồng hồ của em đi nhanh.


Yểng đi đi lại lại ở gian nhà ngoài, thắp thêm nhang lên mấy bàn thờ và chắp tay lễ một cách thành kính. Lễ xong, nàng quay ra nói với Tâm:


– Bà Soa là người lai, lấy ông này trong trường hợp nào? Trước đây, bà làm gì? Ở đâu? Con cái nhà ai? Họ hàng ra sao? Chúng ta không biết gì về bà ta, coi cũng là điều hơi ngố.


Tâm nhún vai:


– Hầu hết những người đi xem bói, gọi hồn, phụ thợ tiên đều tìm các cách để cho ông thầy hay bà thầy không biết họ là ai. Đó là một cách đề phòng sơ đẳng và cũng là một cách để tìm xem ông thầy, bà thầy có bịp bợm, có dò la, thăm hỏi thân thế, gia cảnh của người đến coi không?


Giữa khi đó có tiếng xoảng khá to. Nhiêu Tâm giật mình. Thì ra cái lọ cắm hoa mà Yểng vừa đặt lại trên bàn thờ tự nhiên rớt xuống vỡ tan từng miếng. Mặt Yểng nhợt hẳn đi. Nàng nhìn trân trân vào mặt Nhiêu Tâm và nói:


– Đấy, anh coi. Em không yên tâm chút nào. Y như người mất hồn vậy. Em muốn... em muốn từ khước bà Soa, không gọi hồn cho con bà ấy nữa.


Tâm nói:


– Cái đó tùy em... Nhưng nếu em không giúp bà ấy, gọi hồn con nhỏ Amêly về thì mặt anh không còn ra trò gì. Anh đã hứa với người ta. Thêm một lẽ là chịu ơn người ta nữa...


– Biết vậy, nhưng không, em không gọi hồn con bà ấy nữa đâu... Em không gọi...


Đôi mắt Tâm như một mũi nhọn đâm vào trái tim Yểng. Nàng rùng mình. Tâm nói:


– Thêm một lẽ này nữa, anh nên nói hết với em. Anh không phải là một kẻ ham tiền, nhưng em cũng nên nhớ rằng số tiền mà bà ấy tặng em trong phiên gọi hồn trước, không phải là một món tiền nhỏ...


– Nói thực với anh, em không nghề nghĩ đến chuyện đó bao giờ. Ai đến coi, tùy tâm, muốn trả thế nào thì trả. Trả em một hào hay mười ngàn bạc cũng vậy mà thôi. Ở đời, còn bao nhiêu việc quan trọng gấp mấy mươi tiền bạc...


Tâm gật đầu tán thành:


– Cố nhiên thế rồi. Chính anh cũng nghĩ như em vậy. Em cứ nghĩ thực kỹ xem, người đàn bà ấy là một người mẹ, một người mẹ mất đứa con duy nhất. Nếu quả là em không yếu mệt thật, nếu em không ưa một người điệu nghệ, hách xằng, em rất có thể không chiều một người đàn bà có tiền, có địa vị nhưng anh thiết nghĩ em không có quyền từ khước, an ủi một người mẹ thiết tha được nhìn lại lần nữa đứa con rứt ruột đẻ ra.


Yểng giơ tay lên, úp vào mặt, tuyệt vọng, và nói như nghẹn ngào nước mắt:


– Anh không thương em tí nào... Nhưng anh nói đúng. Em sẽ nghe lời anh, làm bất cứ điều gì anh muốn... Nhưng bây giờ thì em biết là em sợ gì rồi, anh ạ. Em sợ một chữ, một chữ thôi, chữ “Mẹ”.


Yểng nói tiếp:


– Ở đời, có những quyền lực nguyên thủy, sơ đẳng bị văn minh tiêu hủy, nhưng tình mẫu tử thì vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Loài vật... Loài người... Cũng giống nhau. Ở đời, không có một thứ tình cảm nào khả dĩ sánh được với lòng mẹ thương con. Tình mẫu tử không bị trói buộc vào luật lệ, tình mẫu tử dám làm hết mọi việc, dám vượt hết mọi trở ngại, mà không hối hận.


Yểng thở dốc ra một hồi lâu rồi ngưng bặt. Nàng nhìn Tâm, cười một cách thất vọng:


– Hôm nay em có vẻ kỳ cục quá, phải không? Chính em cũng tự biết như vậy.


– Bây giờ bà Soa chưa tới, hay là em vào trong nghỉ một lát cho đỡ mệt?


Yểng cười và đi vào nhà trong.


Ngồi một mình suy nghĩ, Tâm thỉnh thoảng lại vơ lấy cái điếu hút một hơi thuốc lào lách cách. Đoạn, chàng đứng dậy, đi ra đi vào. Ở phía tay trái, có một lá màn đỏ, chàng lật lên, bước vào. Đó là một căn phòng nhỏ bé, tối bít bùng, le lói hai dĩa đèn màu đỏ đặt trên một bàn thờ cũng màu đỏ, chung quanh treo nhiều đồ mã như nón, hài, hình nhân, chó, mèo, rắn và chuông khánh. Đó là nơi Yểng gọi hồn, Yểng gọi hồn trên một cái phản ngựa trải chiếu cạp điều. Trước giường là một tấm màn đỏ cánh sen căng từ bên này phòng sang bên kia, hơi vén lên nơi phía giữa. Ở ngoài, có mấy cái ghế già nua để cho người đến gọi hồn ngồi. Vì tối, mà cũng vì màn che nữa, người đến gọi hồn bà con thân thích chỉ nhìn thấy thấp thoáng cô gọi hồn ngồi ở bên trong, chứ không thể nhìn được rõ mặt và lúc xuất thần ra sao.


Lúc ấy, Hiền đang châm nước lên bàn thờ, đốt nhang khấn vái. Trên phản ngựa, có một cơi trầu, một cái trống cơm, một bộ chũm chọe, và một tép giấy chữ Nho viết bằng mực đen thỉnh thoảng lại khuyên tròn bằng son.


Hiền vừa sửa soạn vừa nói với một vẻ bực mình:


– Lần chót... Đây là buổi gọi hồn chót đây. Anh Nhiêu ạ, thật tâm em muốn là phiên chót rồi thì có phải là hay hơn biết chừng nào!


Bỗng nhiên có tiếng kẹt cửa, rồi có tiếng hỏi:


– Có ai trong nhà không?


Hiền giựt mình nói:


– Đến rồi đấy! Cái bà đầm lai tướng đàn ông đến rồi đấy!


Rồi cô lẩm bẩm, trong khi bước ra phía ngoài: “Người đâu kỳ cục! Nhớ con, thương con thì đi vào chùa lễ, rồi xin cái hạn, thờ nó, có phải giản tiện biết bao nhiêu không? Gọi hồn với chẳng gọi hồn!”.


Nhiêu Tâm nói:


– Thôi đi cô Hiền! Ra mời người ta vào, cứ nói lẩm bẩm như thế, có ích gì?


Hiền nhìn Tâm với cặp mắt giận dữ, nhưng nghe lời bước ra mở cửa, mời bà Soa ngồi xơi nước. Nhiêu Tâm bước ra chào bà Soa, trong khi Hiền dằn tiếng xuống, nói với bà Soa:


– Phiền bà chủ ngồi đợi một chút, cô gọi hồn đương rửa mặt.


Tâm nhìn bà Soa và nhớ lại lời của Yểng vừa nói khi nãy: “Bà ta hách quá, cao sang quá, mà hai gò má lại đen sậm lại. Nhất là hai bàn tay...”.


Tâm hỏi:


– Bà chủ hôm nay đi có một mình? Ông nhà không tới?


– Nhà tôi bận, tôi đi với một ông bạn ở viện Bảo tàng Phinô. Ông ấy sắp tới...


Đúng. “Bà ta hách quá, cao sang quá, mà hai gò má đen sậm lại. Nhất là hai bàn tay”.


Đó là một người đàn bà lai cao lớn, vóc dáng nặng nề, chân tay khô lậu. Bà ta vận áo đen, đi bít tất đen, giày đen. Tiếng nói ông ổng, tuy cố làm ra vẻ dịu hiền. Bà nói sõi tiếng Việt, nhưng cố làm ra lơ lớ để cho người ta khỏi quên bà là người Pháp tập nói tiếng Việt:


– Tôi đến hơi chậm một chút, có phải không, bác Nhiêu? Tại là vì tôi phải đợi ông bạn nhà tôi. Kìa, ông ấy đến kia rồi!..


Ông bạn của bà Soa hơi già, lưng còng, râu quai nón. Ông có vẻ một người trí thức, hai mắt tròn xoe, lúng liếng như mắt chuột. Ông không nói được tiếng Việt, toàn nói tiếng Pháp với bà Soa.


Tâm nói với bà Soa:


– Xin lỗi bà ngồi chơi một lát. Cô đồng hôm nay hơi mệt, vừa vào nằm nghỉ. Cô nhức đầu, thần kinh có vẻ căng thẳng quá.


Bà Soa nắm chặt lấy tay Tâm, hỏi:


– Thế cô ấy có gọi hồn hôm nay không?


Tâm nhớ lại một câu của Hiền “cái bà đầm lai tướng đàn ông...” và đáp:


– Thưa, có chứ! Gọi chứ!


Bà Soa thở ra một cách dễ chịu và ngồi xuống cái chõng tre, tháo cái khăn voan choàng ở cổ ra. Bà nói khẽ:


– Bác Nhiêu, bác có biết rằng tôi hết sức ngạc nhiên, tôi hết sức sảng khoái mỗi khi được dự khán một buổi gọi hồn như thế này... Con ơi, Amêly ơi... Amêly yêu quí của mẹ ơi... Được nhìn thấy nó tận mắt, được nghe thấy tiếng nó tận tai, có khi còn được giơ tay sờ mặt nó, sờ tay nó...


Tâm nói rất nhanh với một giọng cương quyết:


– Thưa bà Soa.... Tôi không biết nói thế nào cho bà hiểu... Nhưng tôi đã nói rất kỹ với cô đồng rồi. Bà không thể vì lẽ gì, trong bất cứ trường hợp nào làm một cử chỉ gì không được tôi chấp nhận. Bà tha lỗi, nhưng cái phép nó phải như thế. Nếu bà không nghe tôi, rất có thể xảy ra chuyện vô cùng nguy hiểm.


– Nguy hiểm cho ai? Cho bác hay cho tôi? Hay cho cô gọi hồn?


– Không nguy hiểm cho bà, cho tôi hay cho ông bạn này, nhưng nguy hiểm cho chính cô gọi hồn. Chính cô gọi hồn đã bảo cho tôi biết như thế và dặn tôi phải ngồi trông cho cẩn thận, đừng để bà làm bất cứ hành động gì mà không có sự chấp thuận của tôi. Tại sao lại thế? Theo như sự chỉ bảo của chư vị thần thánh cho cô đồng trong giấc ngủ, thì một linh hồn, muốn hiển hiện, cần phải dùng cái thực chất vật chất của người gọi hồn. Chắc trong lần gọi hồn trước đây, bà đã nhận thấy cái linh khí thoát ra từ đôi môi của cô gọi hồn. Cái linh khí ấy lần lần đọng lại và biến thành hình thức cụ thể của cái thân xác đã chết của cái linh hồn ấy. Có người không tin, muốn bắt lấy cái hình thức cụ thể đó của linh hồn để khảo nghiệm, nhưng có điều rất khó là hễ đụng đến cái hình thức cụ thể đó thì cô gọi hồn đau nhói đến tim óc, rất là nguy hiểm.


Bà Soa nghe Nhiêu Tâm nói với một vẻ lơ đãng, không mấy lưu ý. Bà nói một tràng tiếng Pháp với ông Tây già, rồi bảo Nhiêu Tâm:


– Ông khảo cổ bạn tôi bảo rằng ông thích thú lắm, ông muốn biết về bí mật của tâm linh học, huyền bí học. Ông muốn biết rồi đây, một ngày kia, sự hiển hình có thể tiến tới cái độ mà hình thức cụ thể của linh hồn có thể tách rời cô gọi hồn được không?


Nhiêu Tâm lắc đầu:


– Tôi ít học, làm sao mà hiểu thấu được những chuyện cao xa như thế?


Bà Soa không chịu thôi, cứ nằn nèo hỏi:


– Nhưng dựa vào những sự việc cụ thể đã hình thành, bác Nhiêu cho rằng công việc đó có thể thực hiện được không?


– Bả hỏi thì tôi phải trả lời. Không thể thực hiện được trong lúc này.


– Nhưng rồi đây, nghĩa là vào vài chục năm nữa, có được không?


May sao, giữa lúc Nhiêu Tâm đang bối rối, không biết trả lời ra sao, thì cô gọi hồn từ trong nhà bước ra.



Sau khi nằm nghỉ, Yểng lại có vẻ mệt mỏi hơn lúc nãy. Mặt nàng xanh nhợt, hai mắt như mất thần, cặp môi tím ngắt, nhưng cô có vẻ trấn tĩnh được tinh thần hơn cả bao giờ. Nàng đến trước mặt bà Soa và ông Tây già, cúi đầu chào, nhưng Tâm thấy nàng rùng mình khi nhìn vào mặt bà Soa.


Bà Soa nói:


– Bác Nhiêu vừa cho tôi biết hôm nay cô không được mạnh. Tôi hết sức băn khoăn.


Yểng đáp một cách khô khan:


– Ồ, không có sao đâu, thưa bà. Bà nghĩ có nên gọi hồn ngay bây giờ không? Tôi không muốn làm mất thời giờ quí báu của bà... và cả của ông đây nữa.


Không đợi trả lời, Yểng vén cái màn che gian phòng nhỏ bên tay trái và ngồi lên trên ghế ngựa. Đột nhiên, Nhiêu Tâm cảm thấy sợ hãi vẩn vơ. Anh nói với Yểng:


– Em không được mạnh. Hay là hôm nay ta hãy hoãn phiên gọi hồn này lại để đến hôm nào em khỏe cũng được. Chắc bà Soa cũng thể tình mà hiểu cho như vậy!


Bà Soa đương ngồi trên ghế, đứng dậy, vẻ không bằng lòng:


– Bác Nhiêu!


Nhiêu Tâm nhìn bà Soa nói:


– Xin lỗi bà quả thực hôm nay cô gọi hồn không được mạnh. Tôi thiết nghĩ ta nên hoãn gọi thì hơn.


– Nhưng cô gọi hồn đã hứa chắc với tôi gọi hồn lần chót vào ngày hôm nay.


Thấy hai bên nói đi nói lại, Yểng đỡ lời Tâm, nói nhẹ nhàng:


– Đúng vậy. Tôi đã hứa và tôi xin giữ lời hứa. Tôi thành thực triệt để. Tôi gọi hồn cháu Amêly, nhưng gọi được hay không, chưa biết. Tôi là con cái nhà Phật, không dám nói giấu ai một câu. Bao giờ gọi được thì bảo được, không gọi được thì bảo là không được.


Bà Soa cúi đầu:


– Cảm ơn cô. Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi cô.


– Tôi nhắc lại, có sao tôi nói vậy, không dối trá, không bịa đặt.


Giọng Yểng lạnh nhạt và khô khan. Nàng quay sang nhìn Tâm, nói tiếp:


– Anh đừng lo... Thôi, còn bữa nay thôi... Gọi hồn lần này là lần chót.


Theo con mắt liếc ra hiệu của Yểng, Tâm đứng dậy kéo cái màn đỏ căng bên này sang bên kia phòng. Rồi anh ra đóng cửa sổ trông ra vườn, ở đàng sau cái phản ngựa.


Gian phòng chìm vào bóng tối u huyền. Bà Soa, ông Tây già và cả Nhiêu Tâm cũng cảm thấy mình lạc vào trong một cái vực âm u, vắng lặng. Yểng sửa soạn ngồi vào giữa phản ngựa, trước một cái mâm bằng cây trong có một bát nhang, ba lá trầu, một cái dĩa đựng mấy phẩm oản và một chén nước lạnh. Tâm chỉ một cái ghế mời bà Soa ngồi và một cái ghế mời ông Tây già. Anh sắp sửa nói một câu gì thì bà Soa đưa tay ra hiệu, vẫy Nhiêu Tâm lại gần và nói nhỏ vào tai:


– Ông này là bạn thân của ông nhà tôi, có thế lực lắm. Ông ấy đến đây để tìm sự thực. Bác Nhiêu phải hiểu lòng tôi mới được, tôi hoàn toàn tin bác thành thật mà tôi cũng tin cô gọi hồn không kém. Nhưng theo ý ông Tây này và ông nhà tôi muốn cho bằng chứng có giá trị hơn, các ông ấy yêu cầu tôi mang cái này theo.


Bà Soa mở ví ra lấy một cuốn dây chuối. Tâm hiểu và kêu lên:


– Đã đành rằng ông bà giúp đỡ tôi nhiều trong vụ bắt rượu lậu ở thửa ruộng nhà tôi, nhưng bà làm như thế thì hơi quá, ông bà khinh tôi...


– Bác Nhiêu đừng buồn. Đây chỉ là một cách làm phép cho có lễ mà thôi... Mình thành thật, không dối trá thì sợ gì... Cây ngay không sợ chết đứng...


– Nhưng làm như thế thực là coi chúng tôi không ra gì. Chúng tôi nhục quá...


– Không sao đâu bác Nhiêu à. Đề phòng lấy lệ, chứ có gì đâu mà nhục.


Ông Tây già nói một hồi với bà Soa. Bà Soa dịch ra tiếng Việt:


– Ông ấy không hiểu tại sao bác Nhiêu lại phản đối. Nếu mình thành thật, không bịp, không mánh, chính mình phải hết sức tán thành việc người ta trói mình lại mới phải vì như thế là chứng tỏ người ta nghi ngờ bậy bạ.


Tâm cười nhạt và trả lời hơi sỗ sàng:


– Tôi có thể đoan chắc với bà rằng tôi chẳng sợ gì hết. Tôi bằng lòng để cho bà trói tôi lại, nếu bà lấy việc đó làm thích thú.


Câu nói đó không đem lại phản ứng mà chàng mong đợi đối với bà Soa. Bà dửng dưng như không có việc gì xảy ra, và nói khẽ:


– Cảm ơn bác Nhiêu nhiều nhé!


Rồi liếc mắt cho ông Tây già, bà Soa và ông lại gần Nhiêu Tâm, trói cả tay chân Nhiêu Tâm lại cho Nhiêu Tâm không tiếp xúc, ra ám hiệu gì cho Yểng hoặc làm một trò quỷ thuật gì.


Bỗng nhiên ở đàng sau bức màn đỏ, Yểng la lên:


– Không, không thể được, anh Nhiêu, anh không thể để cho họ làm như vậy.


Bà Soa cười một cách ngạo nghễ:


– Cô gọi hồn sợ ư?


– Phải, thưa bà, chúng tôi sợ.


Tâm nói:


– Em nên thận trọng những lời em nói. Anh cảm thấy rằng bà Soa có ý ngờ chúng ta là phù thủy, nên bà đem dây chuối có cuộn chỉ ngũ sắc để buộc tay buộc chân anh.


Bà Soa, ỷ vào cái thế của chồng mình là Tây đoan, hơn cả bao giờ hết, nói dẻo quẹo:


– Ông nhà tôi, ông Tây này và tôi nữa đã không biết thì thôi, nhưng biết phải biết cho đích xác.


Rồi không đợi thêm ý kiến của cô gọi hồn và Nhiêu Tâm, bà và ông Tây già cùng bắt tay vào việc trói chặt Nhiêu Tâm vào lưng một cái ghế kê gần đó.


Ở vào cái thế yếu, sợ Tây, lại thêm một lẽ nữa là Tây đó lại cứu mình thoát tội tù, Nhiêu Tâm đành phải cười gượng và chịu để cho họ trói. Nhiêu Tâm chỉ nói một câu: “Gớm, trói tôi chặt quá... Mà trói có phương pháp nữa, rồi đây mới cởi làm sao ra?”.


Bà Soa không trả lời. Bà đi vòng quanh khắp nhà, giậm chân xuống đất thình thình xem có hầm bí mật không, lật màn ra xem có ai trốn ở trong ấy không và gõ vào bộ ván ngựa, cúi xuống xem kỹ cái gầm giường... Đoạn, bà ra đóng cửa lại, lấy một sợi dây kẽm buộc chặt hai cái đanh khung lại với nhau (vì không có khóa) rồi ngồi xuống ghế, bên cạnh ông Tây già, bà nói:


– Xong rồi, bây giờ ta có thể bắt đầu được chưa, cô gọi hồn? Gian phòng âm u, im lặng một cách rùng rợn. Không khí cô đặc lại như có thể thái ra từng miếng. Thời khắc trôi qua... Chầm chậm trôi qua.


Qua tấm màn màu đỏ, ba Soa thấy hai ngọn lửa trên hai đĩa đèn dầu lạc bập bùng, tạt sang bên này tạt sang bên kia, rồi có tiếng gì tựa như tiếng người bị sặc nước hay sặc cơm. Bà Soa thấy toàn thân lạnh giá. Ông già trợn tròn con mắt, nhìn vào cái màn, không hiểu gì hết.


Tiếng rên mỗi lúc một rùng rợn hơn. Rồi đột nhiên tất cả lại chìm vào trong im lặng để sau đó một lát thì phát ra những tiếng rên rú rất dài... Y như tiếng rên rú của một người bị siết cổ rất chặt muốn kêu lớn để cho người ta đến cứu mà không kêu được.


 Đồng thời cái ván ngựa rung chuyển, có vẻ đảo đi đảo lại như đưa võng. Cái trống cơm tự nhiên ngã xuống, lăn mấy vòng, cái chũm chọe kêu xoang xoảng; rồi một lá trầu bay lên, quay mấy vòng rồi lại rớt xuống đất, nguyên chỗ cũ. Im phăng phắc một hồi lâu. Hình như có một tiếng cười ré lên. Tấm màn rộng dường như hé mở từ từ. Qua chỗ hé mở, người ta vừa vặn nhìn thấy mặt cô gọi hồn, lúc ấy xếp bằng tròn, mắt nhắm nghiền lại, đầu gục xuống ngực như một người chết ngồi. Mặt bà Soa sáng ngời lên. Ông Tây già ngồi cạnh nghe rõ bà thở phì phò.


Một làn hơi toát ra từ đôi môi cô gọi hồn, y như thể một sợi dây tơ trời rất mong manh. Làn hơi ấy dần dần cô đọng lại rồi tụ thành một đám mông lung như sương khói. Lần lần, lần lần, hoặc ra hình bóng một đứa trẻ con, hư hư thực thực, đứng ở giữa thinh không, đưa hai tay ra phía trước.


Bà Soa kêu lên một tiếng khẽ khẽ thôi, nhưng bởi vì lúc ấy im lặng quá cho nên kêu khẽ mà như la thét vậy:


“Amêly, con ơi...Ới con ơi... Con đi đâu bỏ má...”


Cái hình bóng hư hư thực thực đó rõ dần, rõ rệt dần dần, như một bức truyền thần chấm phá của người Tàu. Tâm giương to mắt lên nhìn đứa trẻ, dáng sợ sệt, kinh ngạc và hoan hỉ. Chưa bao giờ anh lại thấy trường hợp linh hồn được thực thể hóa một cách tuyệt vời đến thế. Ờ, ờ bây giờ nhất định nó là một đứa trẻ y như thật, chứ không phải là một cái vong, cái hồn hiện lên. Đứa trẻ ấy đứng giơ tay lên kia kìa!


– Má ơi, má...


Tiếng nói của đứa trẻ êm dịu, dễ thương quá chừng!


Bà Soa chảy nước mắt, khóc sụt sịt:


– Con ơi, Amêly con ơi, con đi đâu bỏ má...


Rồi bà đứng phắt dậy, tiến lên hai bước. Thì cũng chính lúc ấy cái thực thể của cái linh hồn đứa bé cũng lách qua kẽ hở của bức màn đó, bước ra. Đúng rồi! Đúng là một đứa nhỏ. Rõ ràng nó đứng kia kìa! Và nó giơ tay ra như muốn lết đến gần má nó.


– Má ơi, má...


– Trời ơi, con tôi! Con tôi! Trời ơi là trời!


Bà Soa tiến thêm hai bước nữa.


Nhiêu Tâm lạnh toát người, la lên:


– Bà Soa, đứng lại. Bà phải đứng im. Bà phải nghĩ tới cô gọi hồn... Bà tiến lên bước nữa, nguy hiểm lắm....


Nhiêu Tâm vừa nói vừa vùng vẫy, như thể muốn rứt đứt dây chuối có tết chỉ ngũ sắc ra, nhưng không được.


Bà Soa tiến thêm một bước nữa, lẩm bẩm nói một mình:


– Con tôi! Tôi phải bế con tôi... Amêly con ơi...


Nhiêu Tâm la lên:


– Bà Soa, tôi van bà. Bà phải bình tĩnh. Bà không thể hành động sát nhân, ác đức như thế.


Giọng Tâm run rẩy. Mặt chàng nhợt nhạt. Chưa bao giờ chàng lại sợ hãi đến thế. Anh lại la lên:


– Tôi van bà... Tôi van bà. Bà trở lại ngồi ở trên ghế đi. Không được làm gì hết. Bà chỉ có quyền trông và nghe thôi. Bà thương lấy cô gọi hồn. Bà mà đụng đến đứa bé thì chết cô gọi hồn...


Bà Soa cần gì nghe lời ai nữa! Bà cứ hành động theo ý mình. Mặt bà khác hẳn đi. Bà ngơ ngác như một người mắc chứng bệnh thụy du. Rồi đột nhiên mắt bà sáng hẳn ra, má bà hồng lên. Bà sung sướng như một người trèo núi lên được tới đỉnh. Hai tay bà ôm choàng lấy đứa trẻ, nhấc ra khỏi cái khe hở của tấm màn.


Trong khi ấy, cô gọi hồn kêu thét lên một tiếng hãi hùng rồi rên lên như một con thú bị bắn.


Nhiêu Tâm lăn lộn rồi chôm lên như một người ngây dại:


– Quân sát nhân, ác đức! Bỏ con nhỏ xuống... Đừng có làm hại cô gọi hồn.


Rồi anh nhào ra trên mặt đất.


– Trời ơi, trời ơi, chết tôi rồi... Còn gì là cô gọi hồn!


Bà Soa quay lại nhìn Nhiêu Tâm và bật ra một tiếng cười rởn óc, như xé lụa:


– Ối, tôi cần gì cô gọi hồn! Tôi chỉ biết con tôi thôi, con cưng của tôi thôi... Tôi ôm nó, tôi bế nó, tôi hôn nó... Amêly, má mi con cái nữa... Đưa má kia đây...


– Bà giết người ta bà có biết không hở bà Soa? Bà là quỷ. Bà điên khùng rồ dại...


– Thì tôi đã bảo là tôi chỉ cần biết con tôi thôi mà! Ngoài ra, mặc hết. Tôi chẳng cần gì hết. Đứa trẻ này là con tôi đẻ rứt ruột, trở về với tôi... Con ơi, Amêly ơi... Này, này nó thở đây này, nó sống lại thực đây này.


Nhiêu Tâm há lớn miệng ra nhưng bây giờ thì không thể thốt ra thêm được một lời nào nữa. Quả người đàn bà lai này là quỷ, chứ không phải người... Ích kỷ, hèn hạ, bất nhơn, chỉ biết nghe lòng dục của mình thôi, ai sống ai chết, không cần biết...


Hai làn môi đứa trẻ hé ra như một cánh hoa hàm tiếu. Và nó lại bập bẹ nói lần thứ ba hai chữ: “Má ơi”.


Bà Soa ôm chặt Amêly vào lòng. Đằng sau bức màn, có một tiếng rú hãi hùng kéo dài ra, kéo dài mãi ra... nghe sởn óc.


Ở ngoài này, Nhiêu Tâm kêu thét lên một tiếng cấp cứu:


– Yểng ơi là Yểng ơi...


Thế rồi cả gian nhà quay đi. Đất hình như co rúm lại, và chao đảo lộn ngược đi. Như mơ như tỉnh, Tâm thấy lờ mờ bà Soa, hai tay không, xô ghế chạy ở trước mặt anh, rồi ông Tây già cũng hốt hoảng chạy theo. Rồi có tiếng mở cửa thình thình... Tiếng giày lộc cộc trên thềm gạch.


Trong khi đó, tiếng rú hãi hùng vẫn kéo dài ở đàng sau bức màn – một tiếng rú mà Nhiêu Tâm không hề nghe thấy bao giờ, một tiếng rú hình như nghẹt lại, như tắt lại. Sau chót, có một cái gì nặng rớt xuống. Hình như là một thân người rớt ở trên ván ngựa.



Thôi bây giờ Nhiêu Tâm điên thật rồi. Chàng đập đầu, lăn lộn, la hét để cố tìm cách cởi dây nhợ ngũ sắc buộc lấy mình chàng: vẫn không thể được.


– Cô Hiền ơi, có ra tiếp đây không?


Cởi được dây trói cho Tâm rồi, Hiền cùng Tâm chạy lại vén cái màn đỏ lên thì Tâm chỉ kịp kêu được một tiếng “Trời ơi”, rồi té xỉu liền trên mặt đất.


Cô Hiền vừa khóc như mưa, vừa lẩm bẩm: “Đỏ... Đỏ như lửa.. Thế là nghĩa làm sao?”.


Nằm lịm trên mặt đất, Tâm nghe thấy Hiền ghé tai vào, nói:


– Tâm, anh đã tỉnh chưa, anh?


– Không có sao đâu... Nhưng chị ra thế nào, có nguy lắm không?


Trong cơn bàng hoàng, Tâm nghe thấy Hiền nói như người ta kể một câu chuyện cổ tích:


– Thế là xong đời chị Yểng. Phí cả một kiếp người. Bây giờ, đánh người vàng cũng không lại... Nhưng, anh Tâm, tại sao lại thế, hở anh? Tôi làm ở dưới bếp, không hay gì cả. Tại làm sao lại chết tức chết tưởi như thế? Mà tại sao chị chết mà người lại co rúm lại như một đứa trẻ lên năm? Chết gì mà lạ vậy?


 


Câu chuyện cô gọi hồn Quán Gánh xảy ra đã được nửa thế kỷ rồi, có nhiều lúc tôi đã quên đi, nhưng vì đôi khi đi tản bộ thấy cô đồng Gù (có người kêu là cậu trạng gù) ngồi xem họa phước cho người ta ở chợ cũ, bùng binh Sài Gòn và ở cái kẹt đằng sau Ngân hàng (lối đi ra đường Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão) tôi lại nhớ tới cô gọi hồn Quán Gánh và cái chết kỳ bí của cô.


Cô đồng Gù có lẽ sinh ra đã có tật và mang thân hình nhỏ thó, nhưng không hiểu tại sao cứ thấy cái hình dáng cô và đứng xem cô lên đồng, tôi lại cứ thích tưởng tượng rằng đó là một thứ “Cô gọi hồn Quán Gánh” trước đây là một người xinh xẻo, dễ thương nhưng bị tai nạn trong khi tiếp xúc với yêu ma quỷ sứ – mà nay lại không chết hẳn – nên bây giờ người teo lại chỉ bằng một đứa trẻ lên năm.


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info







 







 




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (3, tiếp và hết) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (2) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (1) - Khái Hưng 26.05.2017
Nỗi niềm gối trắng - Dạ Ngân 25.05.2017
Cây đòn nóc và chiếc bình vôi - Triệu Văn Đồi 18.05.2017
Biển vỡ - Triệu Văn Đồi 29.04.2017
Hạ bệ - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Ba con cáo - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
xem thêm »