tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20509246
Truyện ngắn
03.11.2012
Vũ Bằng
Cô gọi hồn Quán Gánh (1)

Bấy giờ, vào buổi sáng sớm, mỗi khi đi quán Chợ Cũ hay bùng binh Sài Gòn [1] phía trước Sở Hỏa xa [2], hoặc qua đường Phạm Ngũ Lão, tại cái mẹt nhỏ ở đàng sau Ngân hàng, tôi thấy người ta bu lại để xem cô Đồng Gù, mặt già khằn, người nhỏ thó như đứa trẻ lên năm, thì tôi lại nhớ đến cô gọi hồn Quán Gánh ở miền Bắc khi tôi còn nhỏ.


Đến lúc ngồi thuật lại chuyện này hơn nửa thế kỷ đã qua; nhiều sự việc tôi chỉ còn nhớ lờ mờ như mây khói, nhưng riêng cô gọi hồn Quán Gánh tôi nhớ rõ hết sức bởi vì chuyện cô, kinh dị và lạ lùng đã in vào óc tôi bằng những nét lửa, không thể nào phai được.


Nhưng trước khi kể chuyện, tôi không biết có nên gọi cô là “cô gọi hồn” không, hay là phải lựa một danh từ gì đúng hơn. Là vì ở miền Nam, nói đến những người ngồi đồng, ngồi bóng được hồn ma nhập vào nói chuyện họa phước, ban bùa phép trị bệnh v.v... có rất nhiều danh từ khác nhau: cốt đồng, bà bóng, cô rí, cậu trạng... Sự khác biệt giữa các danh từ đó không mấy rõ rệt, cho nên tên không biết phân biệt ra thế nào, đành cứ phải kêu là “cô gọi hồn” theo lối Bắc; bởi vì trong danh từ đó, tôi thấy gói ghém việc xuất thần để cho hồn ma nhập vào, việc ngồi hay nằm thiếp đi để cho hồn mình chu du, thiên đường, địa ngục để tìm người đã chết mời về nói chuyện hay việc ngồi một chỗ, nhờ một sức thần bí gì không biết để gọi người chết về hỏi câu này chuyện kia.


Cô gọi hồn Quán Gánh nổi tiếng ở miền Bắc một thời vì nói đâu trúng đó. Trái với các người gọi hồn khác, một khi người chết đã nhập vào cho nói thường hay đọc thơ, đọc vè, cô gọi hồn Quán Gánh nói như ta nói chuyện thường thường với nhau, không có nói vè, nói thơ gì hết, mà cũng chẳng nhõng nhẽo, nói líu lô líu lương như mọi.


Đặc điểm của cô gọi hồn Quán Gánh là chỉ xem ở nhà cô thôi. Ai mời đi xem ở nhà họ thì giàu có cách mấy, oai quyền cách mấy cô cũng không chịu, mặc cho mà giận.


Cô bao nhiêu tuổi? Lúc đó, cô độ chừng ba mươi mốt, ba mươi hai tuổi, nhưng vì là người ở quê, cô già như một người bốn mươi tuổi. Răng đen, đầu vấn khăn nâu; da ngăm ngăm da dâu, mặc váy, đi chân đất; môi ăn trầu cắn chỉ.


Vì tôi có một người em gái và một người em trai chết sớm, mẹ tôi mỗi khi hàng họ ế ẩm thường hay ủy cho tôi cái việc đi mời thầy bói, thầy phù thủy và các cô gọi hồn về nhà xem. Vì thế tôi đã biết tiếng cô gọi hồn Quán Gánh và biết luôn rằng cô không bao giờ rời nhà để xem cho bất cứ ai. Sau này, mẹ tôi phải đi về tận Quán Gánh để xem và vì thế mà tôi biết cô hơn. Có khi không có việc gì, tôi cũng trốn nhà đến xem cô gọi hồn. Tôi thành ra một đứa trẻ quen thuộc trong nhà. Do đó, tôi đã được biết cái chết kỳ dị của cô trong một buổi lên đồng chót ngay tại nhà, ở ngã ba Quán Gánh – một làng nổi tiếng về nhiều thứ bánh dầy nhân mỡ và nhân đậu, mà gần đây có người bắt chước làm bán ở các chợ miền Nam.


Một buổi sáng mùa đông năm 1922, Nhiêu [3] Tâm đi đến cổng làng Quán Gánh cảm thấy như nở hoa trong bụng.


Đó là một chàng trai nhà giàu, bố làm Chánh tổng, mẹ chết sớm, ở với dì ghẻ, mặt mũi tròn trĩnh, có vẻ phởn phơ, vì ở miền Bắc lúc đó mua được cái Nhiêu cái Xã không phải là chuyện xoàng mà bất cứ ai cũng có thể làm được – nhất là ở một cái làng không giàu có gì cho lắm như Quán Gánh.


Đến cây đa ở đầu làng, mấy đứa trẻ đang nô đùa gần đấy trong khi trâu bò của chúng đương đầm mình trong vũng, thấy Tâm, cất tiếng hỏi:


– Chớ bác Tâm sáng hôm nay có việc gì mà đi sớm thế? Sao không cho thằng Tèo, sang luôn, hở bác?


Nhiêu Tâm đã có một đời vợ chết trong khi ở cữ đứa thứ hai. Thằng nhỏ đầu lòng là thằng Tèo mà bọn trẻ chăn trâu vừa hỏi. Tâm gật đầu:


– Được, mai kia nó sang chơi với chúng mày. Chúng mày có biết cô Yểng có nhà không hẩy?


Một đứa nói:


– Cô ấy vừa đi chợ về qua đây.


Nhiêu Tâm cho mỗi đứa một cái kẹo vừng rồi đi thẳng về phía cái giếng nước ở cách cây đa đầu làng chừng dăm chục bước, đẩy cái liếp tre vào một gian nhà lá nhỏ. Trước nhà là một khoảnh vườn con có trồng mấy cây hoa mào gà. Trước khi vào trong nhà, phải đi vòng một bàn thiên. Cửa đi vào nhà mở rộng. Không có tiếng chó sủa. Mà ở trong nhà cũng không thấy bóng người nào hết.


Vào ngồi xuống ghế một giây lâu, Nhiêu Tâm mới thấy một bà bước ra. Người đàn bà này đã lớn tuổi, da mặt nhăn nheo như một quả thị khô. Thấy khách, người đàn bà cười hềnh hệch và nói:


– Kìa anh Nhiêu, sang lúc nào mà cứ im thin thít như thịt nấu đông vậy hả?


– Cũng mới sang. Chị làm gì ở trong đó?


Nghe câu chuyện đối đáp giữa hai nguời, ta đoán rằng người đàn bà ấy là chị em – không biết chị em ruột hay chị em họ với chủ nhà mà Nhiêu Tâm là người quen biết thân tình với cô Yểng, tức là cô gọi hồn Quán Gánh. Người đàn bà đáp:


– Chị vừa đi chợ về, đương bày đồ cúng lên bàn thờ. Anh không nhớ hôm nay là ngày rằm tháng chạp? Anh ngồi chơi xơi nước, đợi một chút, chị ấy sắp xong rồi đấy.


Vừa nói, người đàn bà vừa đi lại gần cái xích đông đóng ở trên tường lấy một cái chén rót nước mời Nhiêu Tâm.


Tâm hỏi:


– Mấy hôm nay, không sang thăm được. Chị có mạnh không?


– Mạnh khỏe gì. Cả đêm qua, chị ấy mất ngủ.


– Sao thế?


– Nào biết tại sao. Cứ thỉnh thoảng lại có một đêm mất ngủ. Ho, sốt, đau xương, đau mình, cơm không nuốt được. Một trăm thứ bệnh. Kìa anh Nhiêu mời nước đi chớ?


Rồi người đàn bà nói tiếp:


– Ờ mà lắm lúc tôi nghĩ thì làm cái nghiệp này, mạnh khỏe làm sao cho được? Hôm kia, hôm qua, có ba bốn chục người khách đến xem; có mười mấy người phải ra về; hôm nay trở lại để nhờ xem, nhưng chị ấy trả lời là ốm, không xem được. Họ khẩn khoản cách gì cũng không bằng lòng coi...


– Tội nghiệp. Thường thường họ đi từ Hà Nội về đây, không xem được lại phải quay về, mất công quá.


– Đành thế, nhưng biết làm sao được? Xem cố, để mà chết à? Tôi vẫn thường phàn nàn làm cái gì chẳng làm, lại đi làm cái nghề gọi hồn này, hại hơi hại sức quá chừng là hại...Tôi cho thế là không tốt... là trái với thiên nhiên... Người ta chết thì để cho người ta yên, hà cớ gì lại bắt hồn người ta phải về trần kể lể con cà con kê... nhất định là Thượng đế không bao giờ lại muốn có những người hành động trái với lẽ trời như vậy. Tôi xin nói để anh biết thâm tâm tôi nghĩ như thế nào: Tôi, tôi cho rằng đó là một cái trò nguy hiểm hết sức, chẳng qua chỉ là đánh đu với quỷ sứ, giao thiệp với tà ma, chớ chẳng có gì lạ hết.


Nhiêu Tâm cười khà khà:


– Nói bậy! Hơi một tí là quỷ sứ với tà ma! Cô Hiền phải biết rằng gọi được hồn người chết lên không phải là một việc mà ai cũng có thể làm được. Đó là một đặc ân của trời cho riêng những người có tiền duyên túc trái; mà cũng là một cái gì rất cao cả, huyền bí mà loài người chưa hiểu nổi. Tốt hơn là đừng suy nghĩ quá làm gì!


Hiền lắc đầu:


– Không, anh Nhiêu ạ. Tôi về đây với chị Yểng đã ba năm trời rồi; tôi dự không biết bao nhiêu vụ gọi hồn rồi; không có cái gì liên quan đến cái nghiệp của chị Yểng mà tôi không biết.


– Tôi có thể nói. Quyết với anh là tôi không thể thích thú nghề đó được, không thích thú một tí nào. Này, mỗi khi gọi một quẻ, xuất thần đi để tìm cái “vong” của người chết rồi người chết đó nhập vào mình, thốt ra lời nói, đừng tưởng là không hại hơi hại sức đâu. Người mỗi ngày một kiệt quệ đi, không ăn không ngủ được, gầy trông thấy. Đấy, anh Nhiêu đã thấy chị Yểng chưa? Có bao giờ có da có thịt đâu. Mà dạo này, không hiểu can cớ vì đâu, sắc chị xấu quá. Hôm nọ, có một ông bác sĩ về gọi hồn cho vợ, nói rằng chị ấy đau gan và thần kinh, nhưng tôi ngờ là không phải. Có một cái gì khác, mà ta không biết đấy thôi. Tôi linh cảm như thế, chớ bảo tôi giải thích thì tôi nhà quê, tôi chịu.


Hiền thở dài đánh thượt, vứt cái bã trầu đi, nói tiếp:


– Không mà, tôi nói thật đấy, anh Nhiêu ạ. Tất cả những cái trò đánh đu với hồn ma, giao thiệp với âm ty, quỷ sứ, tất cả những cuộc xuất thần để đi kiếm những cái vong rải rác trong cõi chết, đối với tôi, không tốt một tí nào, không có lợi cho người gọi hồn tí nào. Hơn nữa, tôi tin rằng cứ làm như thế mãi, sẽ có ngày gặp chuyện không hay. Hừ, gọi hồn, giao tiếp với linh hồn người chết? Những linh hồn tốt thì được lên Niết Bàn, còn những linh hồn khác thì sa địa ngục. Hay thành ra cô hồn lang thang ở đầu chợ cuối sông, lòng khe ngọn suối...


Nhiêu Tâm nói:


– Quan niệm của cô về cái lẽ sinh hóa của con người, về cái định luật luân hồi, tiền kiếp nghe giản dị một cách lạ lùng. – Anh vừa nói vừa rít một hơi thuốc dài thật kêu.


Cô Hiền đang cầm cơi trầu lên định nhặt một miếng nữa để ăn, lại đặt xuống phản, không lấy trầu ăn nữa:


– Anh đừng nói giỡn, tôi theo đạo Phật mười mấy năm rồi, ngày rằm mồng một nào cũng đi lễ và nghe các thầy giảng kinh sách rất đều.


Nói đến đây, cô đứng dậy, vừa đi vào trong nhà vừa quay lại nói với Nhiêu Tâm:


– Thôi, tôi cũng cầu cho cuộc hôn nhân của anh với chị Yểng chóng thành, rồi chị ấy về ở với anh làm ruộng chăn tằm hay là ra tỉnh buôn bán cho xong, chứ tôi không muốn cho chị ấy cứ gọi hồn mãi, tôi sợ lắm anh Nhiêu, có phải rằng anh chị lấy nhau rồi thì... cái trò quỷ quái này sẽ chấm dứt phải không? Nghĩa là chị Yểng thôi hẳn cái nghề gọi hồn phải không?


Nhiêu Tâm lại cười khà khà:


– Cô Hiền là một người em, hơn thế, một người em hết sức trung thành với chị Yểng, tôi nói thật, chớ không phải nịnh, ở vào thời buổi này, có một người em như cô thực hiếm. Xin cô cứ tin tôi. Cưới xin xong xuôi rồi, tôi xin cam đoan với cô điều này: tất cả những cái gì mà cô kêu là đánh đu với quỷ sứ, đi đêm với hồn ma sẽ thôi hẳn không bao giờ còn nữa. Nhiêu Tâm này nhờ trời cũng đủ bát ăn, nhất định không để cho vợ phải làm cái nghề vất vả, hiểm nghèo như cái nghề đi gọi hồn.


Cô Hiền toét miệng ra cười một cách hồn nhiên, thành thật:


– Anh Nhiêu nói đúng như vậy chớ? Không có thay đổi ý kiến phải không?


– Nhất định thế.


Trong khi nói như thế, óc anh bỗng nhiên sực nhớ tới những câu chuyện mà ông bà cha mẹ anh vẫn kể lúc anh còn nhỏ: làm nghề gọi đồng, gọi cốt, làm nghề phù thủy, bắt tà ma, thường vẫn không có hậu, ông bà, cha mẹ anh chỉ nói như thế, chớ không giải thích tại làm sao.


Nhiêu cầm chén nước uống từng ngụm nhỏ rồi lẩm bẩm trong miệng cho mình nghe, chớ không phải nói với Hiền:


“Phải, phải chấm dứt... chớ không thể kéo dài ra mãi, Yểng có một thiên bẩm, một thần nhãn, một khối óc khác người, thông suốt những việc xảy ra ở bên này cũng như bên kia cõi đời, nhưng bây giờ thì đã làm xong nhiệm vụ rồi. Đúng đấy cô Hiền ạ, Yểng ít lâu nay xanh lắm, da trông bệch bạc và mệt mỏi ra mặt, ai cũng nhận thấy rõ ràng như thế. Đời của một người gọi hồn cực khổ vô cùng, mới thấy ai cũng tưởng là nhàn nhã, nhưng có biết đâu rằng mỗi một lần gọi hồn như thế thì dùng sức óc ghê gớm, không thể nào tưởng được...”.


Nhiêu nói lớn hơn:


– Nhưng nói cho thực, có phải Yểng danh bất hư truyền, đúng như lời các cụ vẫn nói không? Có phải đúng là Yểng gọi hồn tài nhất, hay nhất Bắc Việt, mà có lẽ hay nhất Việt Nam, có phải không, cô Hiền? Chẳng cứ ở Trung, ở Nam, người ta đổ ra để nhờ Yểng gọi hồn, mà ngay cả đến người ngoại quốc không tin đồng bóng cốt hồn mà cũng phải kéo đến. Tôi lấy làm ngạc nhiên sao lại có những hiện tượng lạ lùng đến thế. Có nguời không tin, cho là bịp bợm, tìm đủ các cách để dò xét, khám phá xem có sự xảo trá gì không, nhưng rốt cuộc phải chịu.


– Ờ cái gì đã làm cho cô gọi không đi đâu hết chỉ ngồi ở nhà mà đến lúc hồn người chết nhập vào nói ra lời, lại biết hết và nói huỵch toẹt được sự thật nhà người ta ra, đại khái như chết vì bịnh gì, lúc chết ra sao, anh em họ mạc đối với người chết thế nào, ở đâu, có mấy con và lúc chết còn vắng đứa nào không gặp mặt!..


Hiền chép miệng:


– Ôi chao, cái gì hơi kỳ lạ một chút, các ông Tây bây giờ lại chẳng cho là dị đoan, bịp bợm, mê tín, làm tiền.. Anh Nhiêu, anh có nhận rằng dù có cho tiền chị Yểng mà bảo chị ấy bịp một đứa nhỏ, chị ấy cũng không dám bịp, phải không?


– Đúng, nói vụng ở đây, chị ấy phải là một bà thánh sống. Mà lại khiêm nhường hiền lành. Tôi xin cam kết với cô Hiền một câu: Nếu trời Phật thương chúng tôi, cho chúng tôi được ăn ở với nhau, tôi sẽ đem hết khả năng, phương tiện của một người chồng ra để làm cho chị ấy sống một cuộc đời hạnh phúc. Tôi mong rằng cô tin lời tôi nói.


Hiền dừng bước ở cửa, chưa vào trong vội, nói thêm với Nhiêu Tâm:


– Tôi đã nói với anh rằng tôi đi theo Yểng, đỡ đần công việc trên dưới đã ba năm nay rồi. Không phải vắng mặt chị ở đây tôi mới nói, ngay ở trước mặt chị tôi vẫn cứ nói như thường: tôi thương chị, quý chị còn hơn cả ruột thịt ở trong nhà tôi nữa. Nếu tôi không tin chắc rằng, anh là một người có tâm địa tốt. Nếu tôi không tin chắc rằng anh thương chị và quý chị với một tình thương yêu xứng đáng, tôi nói thực... anh đừng giận, tôi móc mắt anh ra, chớ tôi không có chịu đâu. Nói cho anh biết!


Tâm cười:


– Quý lắm, cô Hiền ăn ở như thế, trời sẽ đền công cho. Bây giờ, tôi nói với cô rằng Yểng sẽ bỏ cái nghiệp tiếp xúc, giao du với các hồn ma, Yểng không còn bao giờ đi vào thế giới người chết để mời những hồn lên nói chuyện với người sống thì cô có bằng lòng chưa?


Nói thế, Tâm yên chí rằng cô Hiền sẽ tươi cuời. Trái lại, anh ta lại ngạc nhiên vì thấy Hiền nghiêm hẳn nét mặt lại và nói với một giọng hết sức trang trọng:


– Đã đành là thế, nhưng tôi hỏi anh Nhiêu nhé! Nếu chị Yểng thôi hẳn cái nghề gọi hồn rồi, nhưng các hồn ma, những cái vong người chết lại không chịu bỏ chị ấy thì làm sao?


Tâm đằng hắng, nghĩ câu trả lời:


– Cô nói sao, tôi không hiểu?


Hiền nhắc lại:


– Tôi nói rằng thế ngộ các hồn ma ở cõi âm không chịu bỏ chị ấy thì làm sao?


– Cô nói vậy, thì ra cô không tin có hồn ma à? Cô không tin rằng linh hồn người ta bất diệt à? Linh hồn là cái phần giúp cho ta biết suy nghĩ, biết lẽ phải trái, biết ham muốn.


Hiền đáp:


– Tôi nghe thấy nhiều người nói rằng trong con người, hồn là cái gì bất diệt, thể xác chết đi, nhưng hồn là cái phần còn lại. Sở dĩ sau khi người ta chết rồi mà hồn vẫn còn linh hiển ấy là vì lúc người ta sống cũng như lúc người ta chết, vẫn là cái tinh thần của con người. Lúc người ta sống, mọi hành động của ta do hồn, do tinh thần mà có, sau khi ta chết rồi, hồn vẫn không tiêu tán mà lại phảng phất, vật vờ trong không gian và có thể linh hiển, có thể hóa ra một thứ nửa hư, nửa thực. Phải, tôi vẫn nghe thấy nói như thế. Nhưng bởi vì tôi chưa thấy tận mắt bao giờ nên tôi không tin... Tôi không biết nói thế nào để anh hiểu hết ý kiến của tôi... Tôi chỉ có một cách nghĩ thế nào thì nói ra thế ấy, không thớ lợ một tí, một ly gì.


Trước đây, tôi luôn luôn nghĩ rằng những bà cốt, những cô dí, cô gọi hồn chẳng qua chỉ là những người khéo bịp bợm để đánh lừa người ta, lợi dụng sự đau khổ của những người mất kẻ thân yêu để lừa dối, làm tiền.... Nhưng đến chị Yểng đây thì tôi thấy khác hẳn, không như tôi nghĩ, Yểng là một người thực thà, chất phác; Yểng là một người nhà quê, chưa bước chân ra tỉnh bao giờ, không biết thế nào là ma đầu, lòe bịp; Yểng không thể nào xảo trá được và...


Hiền hạ thấp giọng, tiến lại gần Tâm, nói nhỏ vào tai với vẻ kinh sợ lạ lùng:


– Anh ơi, có những cái gì lạ lắm không thể nào tả được, không thể nào giải thích cho ai hiểu được... Nhất định không phải là đòn phép, không thể là lừa bịp. Có những cái gì lạ lắm, xảy ra thực, vì thế cho nên tôi sợ. Tôi sợ là vì, đúng như lời tôi vừa nói, tôi thấy có một cái gì nó khác thường, nó phản thiên nhiên. Mà cái gì phản thiên nhiên, trái với lẽ trời, thế nào cũng chịu lấy hậu quả không hay. Tôi nghe thấy những thầy phù thủy cao tay, bắt tà ma có tiếng thường là hiếm con và lúc chung cục thường bất đắc kỳ tử. Tôi sợ những người gọi hồn có tiếng cũng sẽ không may hoặc bằng cách này hoặc bằng cách khác.


Bây giờ, Tâm đứng dậy, đập khẽ vào vai Hiền, nói nhỏ:


– Cô yên chí đi, cô Hiền! Tôi có một tin báo cho cô biết: hôm nay Yểng gọi quẻ hồn này là quẻ chót. Từ ngày mai trở đi, ai muốn van xin cách mấy, Yểng cũng không gọi nữa.


– Ủa, tôi cứ tưởng gọi đến quẻ hôm qua là hết rồi. Sáng nay, chị ấy bảo chị ấy ốm quá và “làm sao trong bụng”, không tiếp ai nữa mà!


– Không, cô Hiền ạ. Chúng tôi đã thỏa thuận với nhau rồi. Quẻ hôm nay mới là quẻ chót. Gọi xong quẻ hôm nay mới hoàn toàn giải nghệ.


Hiền lắc đầu, tỏ ý không vui. Cô nói:


– Tội nghiệp, chị ấy kiệt sức, suốt ngày kêu nhức đầu, nhức óc. Từ sáng chỉ nằm, mới dậy đấy, đã ăn được hạt cơm nào vào bụng đâu?


Vừa nói đến đây, Hiền im bặt, và có tiếng người ở trong nhà đi ra.



Người đi ra là Yểng, cô gọi hồn Quán Gánh đã từng nổi tiếng là cô gọi hồn hay nhất nước, nói một trăm điều không sai một, còn hay hơn cả các phù thủy cao tay nhất như thầy Điển, thầy Hoa làng Lũ, thầy Ba Khuyên... chớ đừng nói đến các cô đồng, cô dí tầm thường như cô đồng Yên, cô gọi hồn làng Cót, cô gọi hồn cây đa ba nhánh ở Cừ Đà, Khúc Thủy...


Vừa thấy cô, Nhiêu Tâm đứng dậy. Cô nhìn Nhiêu nhưng không tỏ ra vồn vã như các thiếu nữ, thanh niên ở tỉnh. Sắc mặt cô như thường. Cô chào Tâm như chào một người khách đến gọi hồn. Tâm cầm lấy tay cô nhưng cô nghiêng người, rút tay ra và nói khẽ ở trong miệng: “Anh Nhiêu. Kìa, anh mời nước đi, anh...”.


Một lần nữa, Tâm lại định cầm lấy tay Yểng, nhưng nàng cười gạt đi. Tâm nói:


– Yểng, sao em xanh thế? Cô Hiền vừa cho anh biết là từ sáng em nằm, chẳng ăn uống gì và mới dậy đi chợ. Chớ vậy em mệt à? Em thấy trong người ra sao? Hay là để anh đi mời bác sĩ ở tỉnh tiêm và cho thuốc em uống.


Yểng nhìn Tâm một thoáng rồi nói:


– Em có làm sao đâu?


Giọng nói của nàng hơi ngần ngừ một chút. Yểng ngồi xuống một cái chõng tre lớn kê ở gần đấy. Tâm hỏi:


– Em phải nói thật cho anh biết, em thấy trong người ra sao?


Yểng cười (nhưng không tươi):


– Em nói ra thì anh cười em chết!


– Sao anh lại cười em? Có cái gì kỳ cục đâu! Không bao giờ anh thấy em kỳ cục.


Trong một phút đồng hồ, Yểng ngồi trân trân ra đó, không nhúc nhích, hai mắt lờ đờ kiểu một người đương nói chuyện mà đầu óc để đi nơi khác. Đến khi nàng cất tiếng nói, giọng hơi rè rè mà mau:


– Em không mệt lắm, nhưng em sợ, anh ạ!


Tâm đợi một giây lâu, tưởng rằng nàng sẽ nói tiếp, nhưng Yểng không nói nữa. Tâm hỏi:


– Em sợ, em sợ gì?


– Em chỉ biết là em sợ, thế thôi...


– Nhưng mà...


Tâm nhìn Yểng, bâng khuâng. Đáp lại cái nhìn của anh, Yểng nói:


– Phải, em biết rằng sợ như thế là vu vơ, kỳ cục, phải không anh? Nhưng em cảm thấy thế. Thì em cứ nói thế. Em sợ, ngoài ra không thấy gì khác hết. Em cũng chẳng biết sợ như thế là sợ gì và tại sao lại sợ, nhưng em gẫm thật kỹ thì thấy liền mấy hôm nay, em luôn luôn bị ám ảnh vì một ý kiến. Là có một cái gì ghê gớm lắm, một cái gì bí mật lắm, rùng rợn lắm sắp xảy tới với em.


Hai con mắt lờ đờ của Yểng nhìn đắm vào trong khoảng rỗng không. Tâm đi lại phía kê cái chõng tre, ngồi gần Yểng:


– Em... em đừng có nghĩ bậy bạ, không có tốt đâu. Anh biết chứng bịnh của em rồi, Yểng ạ. Chẳng qua là em mệt vì quá tận dụng sức óc đấy thôi. Làm cái việc gọi hồn, hại người lắm. Em phải tịnh dưỡng nhiều. Nghỉ hẳn, đi chơi chỗ này chỗ kia, ở một nơi nào yên tĩnh, không bị ai quấy phá. Em sẽ lại người ngay.


Yểng nhắm mắt lại, hít vào một hơi dài. Rồi nói khẽ, đủ cho Tâm nghe:


– Phải, đúng đấy anh! Có anh ở gần, em cảm thấy yên tâm hơn nhiều. Anh là người có học, lại đầy kinh nghiệm, anh biết nhiều điều lắm, nhưng... nhưng anh không thể biết hết những lo âu, hồi hộp như thực mà lại như hư của một người gọi hồn.


Yểng mở mắt ra nhưng mắt nàng vẫn đắm vào chỗ rỗng không.


– Người ta ngồi trong một cái buồng có khói hương tỏa ra mịt mù, có mùi hăng hăng của hoa lá... làm cho khó chịu và ngột ngạt. Mà chung quanh, toàn là bóng tối. Bóng tối đặc quánh, bóng tối đè trĩu người ta xuống mù mịt, mông lung... dễ sợ bởi vì là bóng tối của rỗng không, của hư vô. Người ta thấy chính mình cũng chìm luôn vào cái rỗng không kinh khủng đó. Sau một thời gian dài vẫn không nhất định, người ta mê đi, không biết gì hết, không cảm thấy gì hết. Thế rồi người ta lại thấy trở lại cõi đời, trở lại từ từ, “trở lại một cách đau đớn” khắc khoải, y như vừa thoát khỏi một sự hiểm nghèo ghê gớm, nhưng mệt... Chao ôi là mệt khủng khiếp, không có cách gì mà tả được.


– Anh biết, anh biết như thế lắm!


Yểng nhắc lại:


– Mệt rã rời người ra.


Tâm nắm lấy bàn tay Yểng thật chặt như thể muốn làm cho Yểng tỉnh cơn mê lúc đó. Thì quả nhiên Yểng tỉnh trong giây lát. Một nụ cười nhẹ thoảng trên môi nàng. Tâm nói:


– Nhiều người trọng em lắm. Chứng cớ là anh có mang theo đây hai bức thư: bức thư này của bác sĩ Hạnh ở Nam Định gửi về, còn bức này là của ông Sứ tỉnh nhà, cả hai yêu cầu Yểng gọi hồn vợ và con họ lần nữa.


– Không, không, em không gọi nữa đâu, hại người lắm. Mà em sợ. Em muốn chấm dứt hết... Em không còn bao giờ gọi nữa. Chính anh đã hứa với em như thế, anh quên rồi hay sao?


Tâm nhìn Yểng ngạc nhiên hết sức. Đương ngồi cạnh Tâm, Yểng vùng dậy, đứng sừng sững trước mặt Tâm, y như một con nai bị người ta vây bắn. Tâm đứng lên, dìu Yểng ngồi xuống và nói:


– Anh nhớ chứ, sao lại không. Nhất định là chấm dứt. Không còn bao giờ gọi bất cứ hồn ai. Nhưng Yểng có biết rằng anh lấy làm kiêu hãnh vì được em làm vợ, và chính vì thế anh muốn nói tới hai bức thư này.


Yểng nhìn Tâm một cách hoài nghi:


– Thật không? Anh nói thật đấy chứ? Anh thề sẽ không bao giờ yêu cầu em gọi hồn cho bất cứ ai nữa nhé!


– Anh xin thề. Em sẽ không bao giờ gọi hồn nữa, trừ phi thích ngồi vì nể lời một vài người bạn thân của hai đứa chúng mình.


Yểng ngắt lời Tâm và nói hơi xẵng:


– Không, không bao giờ. Em đã nói nhiều lần với anh rằng gọi hồn mãi sẽ có ngày gặp hiểm nghèo. Em linh cảm như thế. Em biết chắc như thế. Hiểm nghèo hết sức. Nguy hại hết sức.


Nàng giơ hai tay lên dụi mắt một giây rồi bước vào trong nhà, đốt nhang trên bàn thờ, đoạn, trở ra nói tiếp:


– Anh hứa đi, anh thề đi... Không bao giờ nữa, không bao giờ nữa...


Giọng nàng tự nhiên êm lại. Mặt nàng có vẻ điềm tĩnh hơn.


Tâm lại tiến đến cạnh nàng, nói:


– Anh xin thề, anh thề từ ngày mai, anh không bao giờ để em xuất thần, gọi hồn bất cứ ai.


– Sao lại bắt đầu từ mai?


Đột nhiên Yểng nhớ ra một điều, nàng nói:


– À phải, còn hôm nay nữa! Hôm nay! Em quên mất cái hẹn của bà Soa.


Bà Soa, chính tên Phờ Răng Soa, là một người đàn bà lai, vợ ông Phờ Răng Soa, làm lính đoan phụ trách việc bắt rượu và thuốc phiện lậu ở Hà Đông, Sơn Tây lúc bấy giờ. Không hiểu vì bị người ở gần gắp lửa bỏ bàn tay hay chính nhà Nhiêu Tâm nấu rượu thật, anh ta bị bắt, nhưng nhờ có Tây Phăng Soa che chở nên được thả và chỉ chịu một số phạt vạ còm.


Cái ơn này, Nhiêu Tâm khắc cốt ghi xương, không bao giờ quên được, đó là nhờ bà Soa đã khéo xin với ông chồng đánh chữ đại xá cho Tâm. Tức một nỗi là để tỏ lòng biết ơn, Nhiêu Tâm mang của ngon vạt lạ đến biếu, bà Soa chỉ nhận làm duyên một chút xíu thôi. Tâm đang băn khoăn không biết phải xử sự ra sao thì đứa con gái độc nhất của bà Soa, vừa ăn thôi nôi xong, lại bị bệnh vô phương cứu chữa.


Biết rằng Nhiêu Tâm có “dây mơ rễ má” với Yểng. Bà Soa ngỏ ý muốn nhờ cô gọi cho một quẻ nữa để xem đứa bé yểu mệnh đó bây giờ ở dưới âm ra thế nào và có muốn nhắn nhủ gì mẹ nó hay không?


Nhiêu Tâm hết sức vận động với Yểng coi giúp bà Soa một quẻ. Chính hôm nay, ngày gọi hồn cuối cùng của Yểng là ngày bà Soa đến để nhờ cô gọi hồn đứa con cưng của bà.


Yểng ngồi suy nghĩ một giây rồi nhìn lên cái đồng hồ treo trên tường:


– Chắc bà ta cũng sắp đến rồi, phải không anh Nhiêu?


Nhiêu Tâm nói:


– Chắc sắp đến bây giờ. Nhưng nếu em thấy khó chịu trong người, rất có thể...


Yểng nghe Tâm nói với một vẻ lơ đãng. Nàng tiếp tục suy nghĩ những ý tưởng của chính nàng.


– Phải, bà ta đã đến đây hai lần rồi, em nhớ lần thứ nhất, gọi không được, nên bà ta phải về không, nhưng lần thứ hai thì được.


Sau một giây, Yểng tiếp:


– Bà ta kỳ cục lắm, có phải không anh?


– Em bảo sao?


– Bà ta kỳ cục lắm, đó là một người đàn bà hết sức lạ lùng... Anh có biết rằng ngay lần tiếp xúc đầu tiên bà ta đã làm cho em rùng mình sợ hãi một cái gì mà chính em không biết rõ.


– Yểng!


Trong tiếng gọi của Nhiêu Tâm, có vẻ trách móc nhẹ nhàng mà chính Yểng nhận thấy ngay. Nàng bình thản nói:


– Em biết... Em biết rồi, anh Nhiêu, anh muốn nói rằng đây không phải là chuyện trả ơn, trả nghĩa nhau, nhưng là cả một cái gì cao quý hơn thế, thiêng liêng hơn thế. Đó là tình mẫu tử. Anh cho rằng một người mẹ là một cái gì rất cao cả, rất thiêng liêng. Em không bao giờ có một ý nghĩ, một tình cảm không nhân hậu đối với bà Soa, trong khi bà ta đang xót xa, đau khổ vì một đứa con thiệt mệnh. Nhưng... Nhưng... em làm thế nào để giải thích cho anh hiểu được lòng em bây giờ? Bà ta hách quá, cao sang quá, mà hai gò má bà ta sao mà đen sậm lại... Nhất là hai bàn tay... À anh có bao giờ nhận xét hai bàn tay của bà không? Toàn thân bà nhỏ nhắn, dịu dàng, nhưng hai bàn tay thì lớn quá không cân xứng với người... Trông chẳng khác bàn tay đàn ông làm công việc nặng nề, lao động. Hờ hờ...


Yểng rùng mình khẽ và nhắm mắt lại. Nhiêu Tâm nói, lạnh nhạt:


– Em không có cảm tình với bà Soa, đó là ý của em. Nhưng anh cứ tưởng rằng em – một người đàn bà – em thương hại một người mẹ vừa mất một đứa con duy nhất hơn cả đàn ông mới phải.


Yểng bâng khuâng mãi mới đáp:


– Anh cho là em không hiểu gì nhưng có lẽ chính anh không hiểu gì đúng hơn. Những sự việc như thế, không thể bắt buộc mà làm được; không thể sai phái mà làm được. Ngay lần đầu tiên em gặp bà Soa, em đã cảm thấy như thế.


Vừa nói, Yểng vừa giơ tay xua ở trước mặt như thể để xua đuổi một đe dọa vậy. Rồi tiếp:


– Em vẫn nói với anh là em sợ, em sợ hết sức... Anh có nhớ rằng em suy nghĩ rất lâu trước khi nhận lời gọi hồn con bà Soa không? Nói thực với anh, chẳng biết trúng hay không, em thấy rõ là bà ấy sẽ đem rủi ro đến cho em.


Nhiêu Tâm tắc lưỡi:


– Thế mà, thật ra, bà ta lại đem đến cho em cái điều trái ngược hẳn với điều em vừa nói. Lần gọi hồn thứ hai, con nhỏ Amêli nhập vào em rất lẹ, nói mười điều đúng cả mười. Hơn thế, em lại còn làm được một điều từ trước đến nay ở nước ta, chưa có thầy phù thủy, bà bóng, cô đồng, cô dí, cô gọi hồn nào làm được. Em đã làm cho con nhỏ Amêly hiển hình, khiến cho chính ông Soa phải kinh sợ và thán phục. Ông ta đem chuyện đó nói với hết thảy bạn bè người Pháp. Ai cũng cho là chuyện phi thường và ao ước được đến xem em gọi hồn và chụp hình đăng lên các báo chí ở đây và ở Pháp...


– Anh vừa nói hiển hình. Thế nghĩa là cái hồn con nhỏ Amêly hóa thành thực thể phải không? Nói cách khác, hồn nó hiện ra thành bóng khi em xuất thần, phải không? Hẳn anh đã hiểu là trong khi em xuất thần, em không biết một ly, một tí gì xảy ra. Đúng là con nhỏ Amêly hiện ra thực à? Mà hiện ra như thế thì kỳ lạ thực sao?


Tâm nói:


– Trong phiên gọi hồn lần thứ nhì, chính bà Soa, cô Hiền, anh và ông Soa đều nhìn thấy cái bóng của con nhỏ Amêly, hiện ra mờ mờ trong một thứ sương mờ đùng đục. Vì nó nói mười điều đúng cả mười mà lại hiển hiện lên như thế cho nên bà ta thiết tha nhờ em gọi hồn Amêly lần nữa để cho bà ta được nhìn lại con bà.


– Anh nói thực sao? Chính anh cũng trông thấy hiện lên bóng con nhỏ Amêly?


– Yểng, anh không nói dối. Con nhỏ hiển hiện lên khi đó, đúng hệt như một đứa trẻ còn sống. Chính anh đã sờ khẽ vào má nó, nhưng bởi vì thấy chạm vào người nó thì chính em nhăn nhó ra vẻ đau đớn lắm, anh ngăn bà Soa lại không cho chạm vào người con nhỏ. Anh sợ rằng vì thương con quá, bà ta mất bình tĩnh, chạy lại ôm con thì rất có thể em bị đau đớn và có khi nguy hại cho sức khỏe.


Yểng bổ một quả cau, lựa một miếng trầu ngon, đưa lên miệng nhai, và như thể nửa nói với mình nửa nói với Nhiêu Tâm:


– Mỗi khi gọi một quẻ hồn, mệt rã cả người ra... Nhưng mà này, em hỏi thực anh tất cả những cái này, anh nghĩ ra thế nào? Anh có cho là hợp lý, không sai lẽ trời, không phản thiên nhiên không? Anh có biết rằng cô Hiền cho như thế là trái với thiên nhiên, là nguy hiểm, mà gọi hồn tức là giao du với các cái vong ở cõi âm. Nói cách khác, tức là giao du với tà ma, quỷ sứ!


Yểng cười khẽ, nhưng cười không tin tưởng.


(còn tiếp)


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info








[1] Nay là quảng trường Quách Thị Trang.




[2] Nay là Công viên 23 Tháng Chín.




[3] Nhiêu: một chức dịch trong làng.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Ba sao giữa Giời - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam 10.08.2017
Người vác tù và - Triệu Văn Đồi 03.08.2017
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
xem thêm »