tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20509348
Truyện ngắn
02.11.2012
Vũ Bằng
Ai giết đứa giết người

Viết theo chuyện do một ký giả Pháp kể trong khi cùng đi làm
phóng sự chiến trường ở rừng Sác.


 


Trận đánh dữ dội giữa Ngô Đình Diệm và Bảy Viễn, đến ngày thứ ba đã bớt hăng. Trong khi lửa ở khu Nancy vẫn còn cháy bùng bùng, một số quân Bình Xuyên rút vào rừng Sác. Nhà tôi bị cháy, quần áo giày mũ không còn gì. Ba ký giả ngoại quốc kéo tôi đi theo; mặc dầu tôi không muốn. Hai ký giả Mỹ và Nhật đêm đó ngủ đâu tôi không rõ; người bạn Pháp, lúc ấy làm phóng viên chiến trường cho báo “Paris buổi chiều” và tôi, bạn học cũ, đi theo sát chiến tranh đêm ấy ngủ trong một cái lều của người kiếm củi. Đến tận hai giờ sáng, chúng tôi vẫn không tài nào chợp được mắt, mặc dầu đi bộ suốt một ngày chúng tôi đã mệt nhừ.


Ngồi dậy, lấy chai rượu uýtky bẹt ở túi quần sau ra uống một hơi. Tôi cũng nhờ ông chủ nhà đi mua cho một xị đế. Chừng năm phút, lại có một tràng liên thanh nổ. Thỉnh thoảng, một góc trời lại đỏ lòe lên. Ngán quá rồi, chúng tôi cũng chẳng buồn tìm biết bên nào thắng, bên nào bại. Mai sớm, sẽ hay. Bây giờ uống đã.


Chúng tôi vừa uống vừa tiếp tục câu chuyện bỏ dở trong ngày hôm đó. Chuyện người ta sống chết có số trong lúc tên rơi đạn lạc. Tại sao có người đánh mười trận thắng cả mười đến lúc nghỉ phép, ngồi chơi với bạn ở góc nhà tại đường Hồ Văn Ngà lại bị một tràng đạn của bọn Ngô gia bắn chết không kịp kêu một tiếng?


– Ờ, tại sao?


– Để tôi kể một chuyện thực anh nghe: hồi ấy tôi đi theo kháng chiến chống Pháp. Nhân phiên chợ, tôi từ Đậu sang Keo. Vừa tới chợ ngăn thì máy bay Pháp đến giội bom. Giữa cánh đồng, còn biết trú ẩn ở đâu, tôi nằm xuống đất ngửa mặt lên trời chờ chết. Ở cách chỗ tôi nằm có một khúc sông, hai bên đắp đê thoai thoải, kêu là đê sông Máng. Một người bạn nằm bên cạnh tôi, thừa dịp máy bay lượn ra xa, chưa quay lại, bảo tôi:


– Nằm chỗ này, chết mất. Sao không chạy ra nằm dưới chân đê, tương đối yên hơn?


Tôi đưa mắt ra nhìn thì thấy người bạn kia nói có phần hữu lý. Phải chạy ra ẩn ở đó, có nhiều phần thoát chết. Thế là tôi nắm tay người bạn cùng y chạy ra chỗ đê sông Máng. Nhưng không hiểu lúc đó đầu óc nghĩ ra sao, chạy độ mươi bước, tôi bỏ tay người bạn chạy về nằm chỗ cũ trong khi người bạn ấy cứ chạy ra đê để ẩn vào một chỗ thoai thoải và tương đối chắc chắn hơn. Sáu cái máy bay quay trở lại, bắn như điên và giội hai quả bom xuống chợ. Tôi nhắm mắt lại, coi như chết rồi. Nhưng đến khi nghe thấy tiếng phi cơ đã bay xa, tôi mở mắt thì thấy không làm sao hết. Chợ khói mịt mù, tiếng người kêu khóc như rú. Mấy tiếng đồng hồ sau, kiểm điểm lại thì có tất cả đến ba mươi mấy cái xác chết, nhà cửa cháy như đình lều. Ông bạn rủ tôi chạy ra chỗ đê sông Máng bị mất bay một cẳng. Mấy ngày sau, nghe thấy cứu thương cáng anh đi đến một bệnh viện tập tàng gần đó, lấy dao thái thịt cưa nốt chân kia rồi anh bị phong đòn gánh chết. Tôi hỏi:


– Có phải các anh kêu trường hợp của tôi là may phải không?


Y gật đầu, tôi tiếp:


– Phần chúng tôi kêu là phần số. Số nó tốt thì sui ra thế, đáng lẽ chạy theo bạn thì cũng chết từ “tám hoánh” rồi. Tôi không theo, có lẽ vì có cái gì dong rủi... Các anh không tin như thế phải không?


– Đúng. Tôi không tin vì từ nhỏ thầy giáo và bố mẹ vẫn dạy tôi như thế. Nhưng lăn lộn trong nghề báo, làm đủ các diện phóng viên, tôi bắt đầu ngờ ngợ là có một ông Trời, một Thượng đế cứu vớt những người ăn ở tốt, những người xấu thì không may mắn. Ở ác, thể nào cũng phải đền tội...


– Chúng tôi gọi thế là quả báo.


– Tôi không biết gọi bằng gì. Nhưng trong đời phóng viên từ Âu sang Á của tôi, tôi đã thấy tận mắt bằng chứng là người làm tội ác không thể nào tránh được trừng phạt của Đấng Tối Cao. Để tôi kể cho anh một câu chuyện có thật sau đây trong đời làm phóng viên của tôi và anh sẽ thấy tôi nói đúng. Làm ác thì gặp ác, không tránh được. Chúng tôi gọi thế là “gieo gió gặt bão”. Hình như các anh cũng có một cách ngôn tương tự, phải không?


Đây là câu chuyện của G kể cho tôi nghe đêm đó – một chuyện mà anh cam đoan là có thật và theo anh, chính anh đã viết lên trên báo Pháp ngay thời kỳ ấy.


P P P


Hồi mười một giờ, thấy lửa bốc lên ở nhà nàng, người ta biết ngay là có chuyện không hay xảy đến cho Liên Ba. Nhưng phải đợi đến nửa đêm mới biết đó là một vụ trọng tội trong đó ẩn náu nhiều bí mật.


Sở dĩ người ta biết được nội vụ là vì những làn khói đen dầy đặc và những ngọn lửa bốc lên bùng bùng làm cho những người ở chung quanh phải kêu điện thoại báo tin cho sở chữa cháy và phòng cháy. Lính cứu hỏa tới nơi, nhưng cửa khóa chặt; họ phải phá cửa, mở một con đường vào trong nhà bằng rìu búa và vòi rồng trong khi láng giềng hàng xóm ngơ ngác nhìn họ xung phong chữa cháy. Những người hàng xóm đó biết rằng Liên Ba ở trong nhà, khó mà thoát chết.


Đến khi tìm thấy thân thể Liên Ba, lính cứu hỏa có nhiều phần chắc chắn không phải là một tai nạn, mùi xăng xông lên mạnh quá, không thể nào lầm được. Hơn nữa, đồ đạc cháy như đình liệu [1] mà tường vách thì chỉ vàng khè, ám khói thôi.


Người ta bèn kiếm đại úy Sơnông trong đội cảnh sát đặc biệt giao cho phụ trách điều tra vùng. Đại úy Sơnông không nói cho ai biết ý kiến của ông về nội vụ cho tới khi viên y sĩ của Nhà nước là Phong tới khám xét thi hài người xấu số.


Bác sĩ Phong lưu ý đại úy Sơnông về hai vết bầm tím ở đầu nạn nhân:


– Có thể bảo đây là những dấu vết đánh đập; có nhiều phần chắc chắn là đánh đập bằng một khí cụ không sắc bén, thí dụ một cái búa chẳng hạn. Và đây này, đại úy coi...


Vừa nói, ông vừa xoay đầu người xấu số sang phía khác. Một vết máu lớn lộ ra trên tấm nệm.


Đại úy Sơnông cúi xuống để xem xét sàn gác và thấy máu chảy xuống đất qua cái nệm. Ông còn thấy nhiều vết nữa trên tường, gần giường. Thêm một bằng chứng là nạn nhân đã bị đánh đập trước khi nhắm mắt.


Sơnông hỏi:


– Bác sĩ cho rằng người này chết trong khoảng mấy tiếng đồng hồ?


– Vài tiếng là ít. Cuộc giải phẫu sẽ cho ta biết rõ hơn.


Yếu tố thời gian quan trọng, điều đó cố nhiên rồi; nhưng còn có nhiều sự việc khác mà Sơnông muốn biết, và biết càng sớm càng hay. Ông muốn biết vụ giết người này có dự mưu hay không. Liên Ba là ai và nàng đã đem bí mật gì đi theo cái chết thảm khốc của nàng?


Trong chặng đầu cuộc điều tra, chỉ có một nơi mà đại úy Sơnông có thể tìm ra lời đáp cho những câu hỏi trên kia. Ở hai bên hàng xóm. Ông bèn chất vấn các người đó. Họ đã trông thấy khói bốc lên trước mười một giờ.


Một người đàn bà cho biết:


– Chồng Liên Ba ra đi hồi bảy giờ. Ngày nào y cũng đi như thế. Có những người đàn ông...


Đại úy Sơnông hay rằng chồng Liên Ba tên là Lữ Lăng, làm việc ở công ty xe điện ở Mường An đường sắt. Sơnông cho người thăm dò ở công ty thì hay Lữ Lăng làm việc ban ngày và không ai biết y đi những nơi nào.


Sơnông và một bọn thám tử lục soát rất kỹ nhà Lữ Lăng. Họ thấy một cái “sắc” tay của Liên Ba. Ngoài các đồ vật riêng tư, “sắc” này còn có nhiều đồng tiền nhỏ, một cái chìa khóa cửa và một biên lai tiền nhà tháng sáu chưa trả. Nội vụ diễn ra chiều ngày thứ ba 28 tháng 5 năm 1951; tiền nhà trả vào ngày 1 tháng 6.


Thi hài Liên Ba được chở vào nhà xác thành phố thì vừa vặn lúc đó Lữ Lăng, người chồng, đi về. Lữ Lăng, một thanh niên nhanh nhẹn, trạc ba mươi tuổi, mở to mắt ra thì thấy những vòi rồng chữa cháy và xe của cảnh sát đặc biệt đậu ở dọc đường trước cửa nhà y. Một người hàng xóm chỉ vào y, nói:


– Đây là Lữ Lăng.


Sơnông bước lên một bước và đòi coi căn cước. Lữ Lăng sốt ruột hỏi:


– Vợ tôi? Liên Ba? Đâu rồi?


– Bà ấy bị nạn. Người ta đưa bà ấy đi rồi và ông không thể làm gì hơn được. Chiều nay ông ở đâu?


– Tôi đi xem đấu lam cầu, bọn sinh viên đại học đấu với bọn thương nghiệp. Nhưng tai nạn gì? Việc gì xảy ra thế?


– Có ai cùng đi với ông xem đấu lam cầu không?


– Có em trai Liên Ba tên là Bê. Nhưng ông báo cho tôi việc gì xảy ra vậy?


– Bà ấy mất rồi! Mà mất trong những trường hợp rất đặc biệt. Tôi cần báo cho ông biết rằng những điều gì ông nói ra kể từ giờ phút này sẽ có thể quay lại hại ông. Ông nghe kịp chưa?


Lữ Lăng la lên:


– Trời ơi là trời!


Đoạn y so hai vai:


– Ông cứ hỏi, tôi trả lời. Tôi xin hết sức giúp đỡ ông.


– Tốt quá. Sau khi xem đấu lam cầu, ông đi đâu?


– Đi chơi bi da.


– Cùng với em vợ ông?


– Đúng, và cùng với vài người bạn ở bãi lam cầu. Chính chúng đề nghị chơi bi da.


– Kế đó?


– Kế đó, chúng tôi đi đánh cầu với mấy người bạn khác, xong, tôi về nhà.


– Ông lấy bà ấy bao nhiêu lâu rồi?


– Khoảng bốn năm.


– Có cãi lộn không?


– Cũng có, nhưng thỉnh thoảng thôi. Cãi lộn ít hơn các cặp vợ chồng khác.


– Là vì ông bà ít gặp nhau chớ gì?


Lữ Lăng nhìn, vẻ bực tức:


– Tôi đi luôn, ít khi ở nhà, Liên Ba và tôi không ăn ý với nhau về nhiều điểm, thế thôi.


Sơnông nhìn cuốn sổ cầm ở tay.


– Ngoài ông và vợ ông ra, có ai có chìa khóa cửa không?


– Không ai có. Ông có thể cho tôi biết tại sao ông lại hỏi tôi như thế?


– Chúng tôi tìm thấy cái chìa khóa của vợ ông trong cái sắc tay. Mà tất cả cửa ngõ trong nhà đều khóa lúc lính cửu hỏa tới nơi. Thủ phạm chắc chắn phải có một chìa khóa khác.


Sơnông ngưng một lát rồi tiếp:


– Ở trong sắc còn có tiền. Không nhiều.


– Liên Ba không bao giờ giữ nhiều tiền ở trong nhà.


– Chúng tôi còn tìm thấy một biên lai tiền nhà tháng sáu. Ông chưa trả, phải không?


– Tôi không trả tiền nhà bao giờ. Liên Ba đi làm và phụ trách trả tiền nhà, chợ búa, tôi trả mọi chi tiêu về đồ đạc và xe pháo. Chúng tôi đã thỏa thuận với nhau như thế.


Sơnông cảm ơn Lữ Lăng về sự giúp đỡ của y. Thấy Lữ Lăng sắp đi, Sơnông hỏi thêm một câu:


– Lửa bốc rất lẹ và thiêu hủy gần hết tấm nệm. Có thể là vợ ông hút thuốc lá trên giường và làm rớt điếu thuốc.


– Không có lẽ. Vợ tôi không hút thuốc lá mà...


Câu đáp ấy làm cho Sơnông yên tâm. Ông nghĩ rằng nếu Lữ Lăng giết vợ, y sẽ chợp ngay lấy câu hỏi ấy để biến vụ sát nhân thành ra tai nạn.


Tuy nhiên, trong thái độ của Lữ Lăng có một cái gì làm cho ông vẩn vơ. Trở về tổng hành dinh, Sơnông cử nhiều thám tử đi dò xét vụ này dưới mọi khía cạnh với những chỉ thị rõ ràng:


“Phải tìm rất nhiều chi tiết, sự việc liên quan đến Lữ Lăng. Nói chuyện với nhân viên công ty xe điện là chỗ Lữ Lăng làm việc, đập cửa các nhà hàng xóm chuyện trò. Và nhất là xem lời khai y đi chỗ này chỗ nọ lúc xảy ra án mạng có đúng không”.


 P


Suốt ngày hôm sau, báo cáo về Lữ Lăng gửi về tổng hành dinh cảnh sát tới ta tới tấp. Các thám tử cho hay rằng các bạn hữu cùng làm việc với y trong sở đều nói y là một “thằng cha đào hoa”. Cảnh sát tìm thấy các đồ vật của những người yêu phất phơ của Lữ Lăng. Có chừng mười bảy thứ. Các ả này đều khai với cảnh sát gần giống nhau.


Chàng trai lanh lẹ ấy rất ít “cặp” các cô làm chung một sở, bởi vì họ biết Lữ Lăng có vợ rồi. Nhưng ở quán ăn mà Lữ Lăng hàng ngày đi lại, y “bồ” với một chiêu đãi da hồng hồng. Cô này khai:


– Y xử sự không ra người có vợ rồi, mà cũng chẳng bao giờ tôi hỏi y đã có vợ chưa. Gần như hàng ngày chúng tôi vẫn gặp nhau. Có một buổi chiều kia, y nói với tôi có vợ rồi, nói một cách thong thả, tự nhiên... Y bảo rằng y không thể đến thăm tôi hàng ngày được, bởi vì đôi khi y cũng phải ở nhà với vợ. Tôi không thể tin y. Rồi có một người bạn y bảo rằng y không nói giỡn đâu.


Thế là kết thúc một cuộc mạo hiểm ngoại tình, nhưng Lữ Lăng lại đi tìm một tửu lầu khác và đã nhắm được một chiêu đãi viên khác cũng “ngon lành” như thế. Lữ Lăng quả là một gã đào hoa.


Lữ Lăng đúng là một anh thích đàn bà. Nhưng có phải vì thế mà cho là anh ta có thể giết người ư? Hay là còn có điều gì nằm ẩn ở đằng sau vụ án mạng?


Ít lâu này, đàn bà trong xóm y sợ trộm hết hồn. Có người cho rằng có một tên du thủ du thực đào tường khoét vách đã bức Liên Ba phải cho nó vào trong nhà rồi giết Liên Ba đoạn nổi lửa đốt nhà để che đậy trọng tội của nó. Vài ngày trước đó, có một người đàn bà khác tên là Avong đã bị giết trong trường hợp tương tự, chắc chắn do một tên trộm vào loại đó gây ra. Vụ này vẫn chờ giải quyết. Vì lẽ không ai trông thấy tên trộm vào dịp đó, người ta cho rằng Liên Ba là một nạn nhân khác của tên trộm nọ.


Cảnh sát phụ trách xem xét ngày giờ hoạt động của Lữ Lăng hay rằng, hồi bảy giờ chiều ngày xảy ra vụ giết người, Lữ Lăng và em vợ là Bê quả có đi xem đấu lam cầu. Họ hỏi những người đã gặp Lữ Lăng và Bê những câu trả lời phù hợp với lời khai của Lữ Lăng về điểm thụt bi da. Các nhân chứng khác cương quyết xác nhận Lữ Lăng có chơi cầu thật.


Đọc tất cả các báo cáo, đại úy Sơnông biết rằng Lữ Lăng không rời các nhân chứng quá năm mười phút đồng hồ, y không có cách gì trốn tránh để quay về nhà giết vợ rồi lại trở lại gặp bạn bè.


Tuy nhiên, bản phúc trình về giải phẫu lại xác nhận một cách chắc chắn không kém là Liên Ba đã bị ám sát. Hai y sĩ Nhà nước là bác sĩ Phong và bác sĩ Du cũng đồng ý về nguyên nhân cái chết:


– Liên Ba chết vì bị nhiều vết thương nặng ở trên đầu (lời bác sĩ Phong) do một khí cụ nhỏ, đại khái một cái búa.


Bác sĩ Du tiếp:


– Liên Ba chết trước khi nhà bốc cháy, bởi vì một cuộc khám nghiệm cho thấy không có một chút dấu tích Oxyde de carbone trong máu.


Hai bác sĩ tin rằng Liên Ba bị giết sau bảy giờ là giờ người ta nhìn thấy nàng lần cuối, như thế lại càng làm vững thêm những lời khai của Lữ Lăng về việc y đã sử dụng giờ giấc ra sao.


Thuyết thằng ăn trộm bây giờ có vẻ là lời giải thích có thể tin được nhất. Nhiều người tình nghi, nhất là những người sa đọa về tình dục mà người ta biết tiếng đều bị giữ lại để chất vấn. Nhân dịp này cảnh sát kêu Lữ Lăng lại để đưa coi các bức hình xem y có nhận ra người nào không, nhưng Lữ Lăng lắc đầu, cương quyết nói rằng y không hề thấy một người lạ mặt nào lởn vởn trong xóm hay gần nhà y.


Một cuộc điều tra khác, kỹ lưỡng hơn, chứng tỏ hẳn rằng Lữ Lăng không hề có quan hệ với bọn đầu trộm đuôi cướp, ăn chơi đàng điếm. Thế là tất cả những dấu tích thâu lượm được về mặt đó tỏ ra vô ích hết.


Vậy thì ai là người có thể giết Liên Ba?


 P


Ngày nọ nối ngày kia, cảnh sát không tìm ra được manh mối gì mới lạ. Thiên hạ bắt đầu quên cái chết bí mật của thiếu phụ Liên Ba thì đột nhiên Lữ Lăng biến mất. Các thám tử tiếp tục làm việc về vụ này, nhưng kết quả chẳng đâu vào đâu hết.


Thế rồi, hai năm sau, vào ngày mười chín tháng hai năm 1953, thành phố được tin lại mới xảy ra một vụ án mạng khác, hết sức man rợ trên đảo Bồ Linh, ở về phía tây thành phố. Có một đứa trẻ mười bốn tuổi tên là thằng Sồ, một hôm đi chơi, thấy một đàn quạ lượn chung quanh một khu rừng tuyết phủ. Thằng nhỏ muốn biết tại sao, một lát sau chạy hồng hộc về nhà bảo bố:


– Có một người đàn bà chết ở đây kia kìa – gần một gốc cây – và tất cả quần áo đều bay đi đâu mất hết.


Người làm vườn, bố nó, kêu điện thoại cho tổng hành dinh cảnh sát. Đại úy Tốt – Trưởng ban điều tra – trao vụ này cho trung úy Côn trong ban đặc biệt. Côn đi ngay đến chỗ xảy ra án mạng cùng với thiếu úy Mễ, thám tử Tùng và nhiếp ảnh viên Lô. Lô chụp rất nhiều hình chung quanh chỗ xảy ra án mạng.


Đúng là một vụ sát nhân, cứ mở mắt ra trông thì thấy rõ. Người thiếu phụ xấu số chắc cũng đẹp lắm, nhưng hung thủ đã tìm đủ các cách để hủy diệt nhan sắc của nàng để cho không một ai tìm ra được tung tích. Thân thể nạn nhân mang nhiều vết thương nặng; đầu có nhiều vết bầm tím và bị bể vài chỗ, một hàng vệt dao hiện lên trên ngực và cổ nạn nhân.


Xác chết không mang một dấu tích gì về quần áo; tuy nhiên hung thủ đã bỏ quên hoặc để sơ sót lại một cặp bông tai rẻ tiền lóng lánh dưới làn tóc rối bời. Người ta thấy những dấu chân in thành hàng cho tới gốc cây gần chỗ nạn nhân nằm; nhưng lúc ra về, khoảng một trăm thước, hung thủ dường như đã tìm cách xóa nhòa đi. Những dấu chân ấy lớn quá, nhất định là dấu chân người đàn ông.


Nhưng ở gần đường cái, tuyết vẫn còn giữ nguyên được vết bánh xe hơi. Một trong những vết đó sâu quá, trông rõ rệt quá đến mức gần như hoàn toàn rõ. Trong khi Lô xoay sửa chụp hình, Côn bố trí để cho người in lấy những cái vệt bánh xe hơi.


Tình trạng cái xác chết cùng với những vết thương chém bằng dao cho bác sĩ Du hay rằng vụ án mạng này diễn ra chưa tới mười hai tiếng đồng hồ trước khi khám phá ra cái tử thi, nghĩa là trong buổi tối ngày mười tám tháng hai xác nạn nhân được chở về nhà xác. Ở đó, cuộc mổ xẻ sẽ cho biết thêm nhiều điều mới lạ.


Bác sĩ Du nói:


– Cái chết này gây ra vì nhiều vết thương bằng dao và rất có thể máu tuôn ở bốn vết trọng thương ở sọ, do một khí giới cùn lụt gây nên.


Trung úy Côn hỏi:


– Nếu thế, nạn nhân rất có thể còn sống lúc thủ phạm chở vào trong rừng. Bởi vì có nhiều bằng chứng tỏ ra thủ phạm giết ở một chỗ khác rồi đem vào bỏ xác chết ở đây.


– Rất có thể...


Các vết thương không dính một mảnh quần áo nào hết, dù một sợi chỉ cũng không; vậy là hung thủ đã lột quần áo nạn nhân trước khi đánh đập, gây ra những vết thương chết người. Y làm cho không ai nhận diện được cô gái để gây khó khăn cho công việc dò tìm căn cước, nhưng y không đụng đến các ngón tay. Vậy là vẫn có thể lăn tay để lấy dấu.


Người ta bèn lấy dấu tay của người con gái xấu số để đem ra so sánh với các “phích” lưu ở tổng hành dinh cảnh sát. Ngoài ra còn sao làm nhiều bản gởi đi các thành phố lân cận để nhờ giúp đỡ thêm. Tất cả những thư trả lời đều vô hiệu: người thiếu phụ xấu số ấy không có hồ sơ lý lịch. Duy chỉ còn lại có đôi bông tai là dấu tích duy nhất có thể giúp cho nhà chức trách truy ra lý lịch của nạn nhân. Những cuộc thăm dò ở các tiệm bán nữ trang và may quần áo cho biết là những cặp bông tai loại đó bán có cả ngàn vạn cặp, làm sao nhớ xuể.


Kiếm ở ban phụ trách tìm những người mất tích cũng chẳng ăn thua gì. Trung úy Côn đành phải làm một báo cáo lên đại úy Tốt là đã dày công dò xét nhưng không thể tìm ra đầu mối, dù là một đầu mối nhỏ nhoi.


Giám đốc cảnh sát, Hy Long, đọc báo cáo của đại úy Tốt ra lệnh:


– Cho loan tin trên đài phát thanh! Nói rõ hết về nạn nhân, có lẽ có người trong thành phố và những vùng lân cận biết và giúp đỡ chúng ta.


Trung úy Côn đưa ra một đề nghị:


– Tả cảnh nạn nhân, có lẽ không đủ. Không biết ta có nên sửa lại mặt mũi y thị rồi chụp ngay một bức thử công bố lên báo chí kèm cáo thị.


– Và chúng ta sẽ yêu cầu đến coi xác chết, phải không? – Đại úy Tốt nói và tiếp: – Ý kiến đó cũng hay.


Nạn nhân bị tất cả trên dưới ba chục lát dao đâm; trong đó có một lát rất nặng làm đứt ống thực quản, nhưng các vết thương ở mặt không nặng lắm, vẫn còn để lại một cái thẹo cũ, có thể giúp nhà chức trách truy tầm ra lý lịch nạn nhân. Cảnh sát cuộc địa phương, cuối cùng, chụp được một bức hình khá rõ, đăng báo chí thủ đô và các tỉnh nói những lời ghi chú sau đây: “Lý lịch không rõ – Bức hình này đăng tải theo lời yêu cầu của cảnh sát cuộc địa phương mong tìm ra lý lịch của một phụ nữ bị sát hại, mà người ta tìm thấy xác, cách đây hai ngày ở đảo Bồ Linh – Nạn nhân chừng ba mươi tuổi, tóc hung, cao 1 thước 68, cân nặng 59 ký, mắt xanh, có may ở trên con mắt bên mặt một cái thẹo bằng nửa đốt tay – Mọi tin tức liên quan đến lý lịch nạn nhân, xin gởi đến cảnh sát cuộc địa phương Ha Bô 4141”.


Ngay ngày hôm đó, một làn sóng người kéo đến nhà xác, xếp hàng để vào coi mặt nạn nhân... Các thám tử ngồi có cả chung quanh người đợi xem có ai nhận ra nạn nhân không, ngoài ra, họ còn có ý muốn coi trong đám quần chúng chen lấn nhau để vào đó có người nào thuộc diện tình nghi không. Là vì trong một đám đông, hung thủ rất có thể đích thân dẫn tới để xem “công việc của mình làm ăn ra thế nào”.


Đến cuối tuần, người đến coi vẫn đông nghẹt ở khu nhà xác. Có người đến vì muốn biết nạn nhân có phải là bạn bè hay thân quyến của mình không; có người đến chỉ vì mục đích muốn giúp đỡ nhà chức trách. Có người tưởng tượng mình đã gặp người chết vài lần; có người tưởng như là đã từng quen người chết.


Đến chiều ngày thứ ba, chính đại úy Côn thất vọng. Số người đến coi xác chết vắng dần. Bây giờ họ đến, vào coi mặt người chết rồi quay ra liền, không nói một lời, mà lại ra vẻ sung sướng vì không biết người chết là ai.


Thế rồi bất thình lình người ta tìm ra được lý lịch nạn nhân.


Một người đàn ông điềm đạm chừng ba mươi tuổi, đứng nhìn kỹ mặt người chết, quay lại phía các thám tử, nói với một giọng như khóc:


– Cô này tên là Ánh Tuyết. Cổ là em tôi.


Người anh tên An Công, sống ở bên kia sông. Y đã thấy bức hình đăng báo nhưng không thể tưởng tượng được rằng đó là Ánh Tuyết. Y nói chuyện với người nhà và đến tận lúc đó mọi người mới nhớ ra rằng trong gia đình ít lâu nay không ai thấy mặt nàng. An Công nhận đích nạn nhân.


Cảnh sát liền kêu điện thoại cho mẹ Ánh Tuyết là bà Giồng mời bà đến nhà xác với hai con gái là Do Lan và Yến Nguyệt. Cả ba xác nhận người xấu số quả là Ánh Tuyết.


Trung úy Côn chất vấn bà Giồng và cố làm ra vẻ cảm thông nỗi đau đớn của bà.


– Bà thấy Ánh Tuyết lần chót vào bao giờ?


– Tháng sáu trước. Hình như là ngày hai mươi mốt tháng sáu. Chúng tôi gặp nhau trong một tiệc cưới.


– Bà muốn nói là Ánh Tuyết không sống với gia đình trong bảy tháng gần đây?


– Nó không sống với gia đình từ hai năm nay rồi.


Cuộc thẩm vấn tiếp theo cho biết thêm trong hai năm đó, Ánh Tuyết đã chung sống với một người đàn ông không có ý định cưới nàng làm vợ. Trước sự phản đối của bà mẹ, nàng ly khai gia đình.


Bà Giồng buồn rầu nói:


– Ánh Tuyết ở một căn phố chính nó mướn. Từ đó, tôi chưa gặp nó lần nào.


– Người đàn ông bà nói đó, bà có gặp lần nào không?


– Có. Sau khi Ánh Tuyết “dính” với thằng chả ít lâu. Nó nhã nhặn lắm, có vẻ dễ thương, cao ráo, sạch sẽ, nhưng tôi thấy nó làm bộ làm tịch, không thành thực mấy.


– Bà có biết tên và địa chỉ của y không?


– Tôi mang máng nhớ tên y hình như là Gạnh, nhưng tôi không có ý kiến gì về nơi mà ông có thể kiếm được y.


Trung úy Côn huy động nhân viên đi kiếm cho kỳ được tên Gạnh. Còn ông thì yêu cầu bà Giồng cố sức nhớ lại nữa, nhớ lại nữa hình dung, cử chỉ, hành động của Ánh Tuyết cho tới giờ nàng chết.


Có nhiều người khác trong gia đình bà Giồng đã trông thấy Ánh Tuyết trong những ngày gần đây. Trung úy Côn biết rằng người con gái ấy một thời gian đã làm việc trong một bệnh viện và làm thêm một vài công việc khác để kiếm sống; nàng “bao” người bạn trai duyên dáng vì gã thường xuyên thất nghiệp.


Ánh Tuyết không ngớt khoe rằng người yêu của nàng ngày một ngày hai sẽ cưới nàng làm vợ. Nhưng nàng không chịu đề cập vấn đề ấy với mẹ, vì, theo nàng nói, nói cho bả nghe thì mẹ con chỉ gây gổ, chửi nhau và thù hằn nhau thêm.


Các điều tra viên khám phá được trong thành phố và ngoại ô có tới mười hai người tên Gạnh, nhưng không có người nào nghe thấy nói đến tên Ánh Tuyết. Tuy nhiên các thám tử cũng có một ý kiến khá rõ rệt về người tình của Ánh Tuyết, con người bí mật, lịch sự hết sức mà ăn nói lại có duyên. Họ chắc chắn nhận ra y liền một khi kiếm được. Tất cả vấn đề quy vào một điểm là làm thế nào kiếm được tên Gạnh.


Vấn đề, rút lại, tự nó giải quyết lấy. Bạn bè và sếp của Ánh Tuyết cho các thám tử biết địa chỉ mà nàng đã ở cho tới hai tháng trước khi nàng chết. Trung úy Côn cử hai nhân viên Tùng và Mễ đến hỏi bà chủ nhà là bà Bênh.


Bà Bênh nhớ rõ lắm người bạn trai của Ánh Tuyết:


– Y đến thăm cô ấy đều đều. Từ tháng sáu đến lễ Giáng Sinh, và lúc này không ở nữa.


– Tên y là gì, bà có biết không? Có phải tên là Gạnh không?


– Gạnh? – Bà chủ nhắc đi nhắc lại cái tên ấy mấy lần. – Ờ phải, cái gì cũng từa tựa như vậy, nhưng tôi không dám quả quyết. Tôi chỉ nghe nói đến tên y một hai lần. Tôi chỉ biết là y còn trẻ, dễ thương và ... lễ phép.


– Người ta cũng nói với chúng tôi như vậy. Nhưng cô ta có bạn trai nào khác nữa không?


– Không... Không có người nào khác hết. Chiều tối nào cô ta cũng chỉ tiếp người trẻ tuổi ấy thôi. Cô ta quả là một con người chung thủy.


Sau Tùng đến Mễ hỏi bà Giồng:


– Cô ta không ở nhà bà nữa vào lúc nào? Ngay sau lễ Giáng sinh.


– Không. Trước lễ Giáng sinh. Người trẻ tuổi ấy đến đây xếp dọn đồ cô ấy, cho vào va ly.


– Ánh Tuyết dọn đi đâu?


– Tôi không biết... Nhưng tôi biết tên Gạnh – tôi vẫn không chắc có phải tên y là Gạnh không – ở vào khoảng ngã tư Hốc Là. Tôi nghe thấy y có lần nói thế.


Mỗi việc nghe, thấy đều ghi vào báo cáo gửi lên trung úy Côn và ông này ghi nhận rằng cái địa chỉ của Gạnh cũng gần đường Đắc Linh là nơi mẹ Ánh Tuyết ở với gia đình.


Côn gia tăng sáu nhân viên nữa cho Tùng và Mễ để mở cuộc lùng kiếm rất kỹ càng.


Họ có đầy đủ hình tích của Gạnh. Đó là một chàng nhỏ con, hơi ốm, gân guốc nhưng vui tính, dễ thương, đẹp trai, tóc rậm mà đen, mép có ria. Các thám tử lùng kiếm khu vực đó, không chừa một chỗ nào. Trung úy Côn đích thân theo dõi cuộc lùng kiếm và thúc giục nhân viên làm việc không kể giờ giấc, ngày đêm bởi vì ông biết rằng nếu Gạnh hay một khi người ta biết lý lịch của Ánh Tuyết rồi, y sẽ trốn liền.


Vẫn không kiếm được Gạnh. Có một lúc trung úy Côn ngờ rằng y đã trốn từ lâu mất rồi, cái việc phải kiếm thì cứ kiếm chớ hy vọng cũng mong manh lắm.


Nhưng có một hôm, chủ tiệm tạp phô xập xệ ở góc đường nói với Tùng và Mễ:


– Tôi biết cái anh chàng mà các ông nói đó. Nhưng tên y không phải là Gạnh. Hàng ngày y vẫn đến đây mua đồ. Tên y là Lăng.


Thám tử Tùng vội hỏi:


– Có phải là Lữ Lăng không?


– Đúng rồi! Đúng rồi! Lữ Lăng.


Tùng, Mễ và các thám tử khác sực nhớ lại rõ ràng, rành mạch vụ án mạng Liên Ba. Họ liền đổ đi kiếm Lữ Lăng. Trung úy Côn điện thoại cho cảnh sát thành phố và khu vực hỏi địa chỉ cuối cùng của y.


Nhưng hỏi vậy, xét ra cũng không cần lắm. Lữ Lăng tự nhiên ở đâu lù lù đến tiệm tạp phô ở góc đường và bị thộp luôn. Người ta dẫn y về tổng hành dinh. Chính trung úy Côn thẩm vấn, có đại úy Tốt ngồi chứng kiến.


Lữ Lăng không chối cãi vai trò mà y thủ trong đời sống của Ánh Tuyết, nhưng tỏ ra ngạc nhiên, ngơ ngác khi biết Ánh Tuyết chính là thiếu nữ bị giết và quàn trong nhà xác.


– Tôi bắt đầu sống với Ánh Tuyết sau khi vợ tôi qua đời. Nhưng tôi không có lý do gì để hạ sát nàng. Tôi gặp Ánh Tuyết lần chót vào chiều ngày thứ tư.


Trung úy Côn nói:


– Vậy là ngót một tuần rồi. Tại sao trong thời gian ấy, anh lại không tìm gặp nàng?


– Nàng giận tôi, bởi vì tôi “giằng dên” với một cô gái khác và tôi tưởng là cô ta về ở nhà mẹ. Cô ta biết tôi ở đâu, cứ việc tìm đến tôi...


– Sau khi chia tay nhau hôm thứ tư trước, anh đi đâu?


– Ối, tôi đi chơi trong thành phố, đi xe hơi để mua vài thứ cần dùng.


– Anh có xe hơi?


– Có (y nói ngập ngừng). Nhưng tôi không đi nhiều – nhất là mùa lạnh.


– Anh gửi xe ở đâu?


– Ở Rôn Môn. Tôi trả tám đô la mỗi tuần cho một cái gara.


– Anh đưa chìa khóa xe của anh cho tôi. Hiện giờ, tôi tạm giữ anh với tư cách là nhân chứng chính trong vụ sát hại Ánh Tuyết. Anh là người cuối cùng trông thấy nàng sống.


Trung úy Côn đi liền đến gara ra ở Rôn Môn, có vài thám tử đi theo. Họ mang bản in dấu lốp xe mà họ đã in được trên tuyết ở đảo Bồ Linh.


Chiếc xe của Lữ Lăng, nằm ở trong gara, xe còn tốt lắm, sạch và bóng loáng, chắc chắn là Lữ Lăng lấy thế làm vinh dự bởi vì vỏ bốn bánh xe là thứ vỏ sang, sườn trắng.


Tuy nhiên các điều tra viên chú ý tới những cái dấu bốn bánh xe hơn là cái đẹp. Họ đợi cho Tùng và Mễ so sánh dấu bánh xe và kích thước ở cái xe của Lữ Lăng và tin chắc rằng lần này Lữ Lăng không thể thoát được tội giết người.


Nhưng việc đời không giản dị như người ta vẫn tưởng. Tùng làm việc xong, ngửng mặt lên và nói:


– Hai dấu tích không giống nhau.


Mễ nói tiếp:


– Không giống nhau một chút nào. Không phải là cùng một thứ vỏ.


Vậy là Lữ Lăng lại không dính líu gì đến vụ án thứ nhì này chăng? Không, không thể như thế được. Tất cả các thám tử yên chí rằng chiếc xe hơi của y sẽ giúp cho họ, chứng tỏ là y giết người.


Trung úy Côn bảo nhân viên lục soát trong xe. Sạch như ly như lau. Xét rất kỹ các nệm xe, tuyệt nhiên không thấy đồ vật gì khả nghi, một cái kẹp cài đầu của đàn bà cũng không có. Nhưng các điều tra viên lật cái thảm chùi chân lên, xem kỹ sàn xe thì thấy có vài vệt không đều nhau mà người ta dường như đã cố lau chùi cho mất tích, mà không hết hẳn.


Tùng nói:


– Có thể bảo đây là những vệt máu... Nhưng đã kỳ cọ, rửa ráy kỹ quá rồi, mình cũng chẳng chứng tỏ được gì.


Mã bật đèn lơ lên:


– Ờ này, ở đây cũng có nhiều vệt tương tự.


Y chiếu đèn vào một cái ghế ở đằng sau. Nhưng vệt nào cũng được lau chùi cẩn thận.


Trung úy Côn nói:


– Dù sao, những vệt này cũng cho thấy là chúng ta đã nhằm đúng tẩy rồi. Rất có thể Lữ Lăng đã hủy bỏ những vỏ xe của y đi, thay bằng vỏ mới ngay sau khi hay tin bà Giồng đã nhận ra xác của Ánh Tuyết. Bây giờ, chúng ta phải tìm cho kỳ được mấy cái vỏ xe cũ.


Đó là một công việc rất khó khăn bởi vì riêng trong thành phố ấy đã có hàng trăm nhà gara, trạm xăng vô dầu mỡ, ngoài ra lại còn nhiều nhà bán vỏ ruột xe hơi. Hơn thế, việc mua đi bán lại vỏ, ruột xe cũ rất là phồn thịnh và lẹ làng. Vì thế Cồn không để phí một chút nào, phái ngay hàng chục nhân viên đi khắp các khu vực trong thành phố và ngoại ô để thăm dò các người bán lẻ, từ người buôn lớn cho đến người buôn bán sập sệ ở ngoài đường. Các thám tử khu vực cũng tham gia chiến dịch.


Nhưng không có nhà buôn nào có thể nhớ đã bán vỏ xe sườn trắng cho ai. Thế là cái manh mối vừa ló ra lại muốn tiêu. Cho tới một hôm, có một ông chủ gara ở ngoại ô, đến trả lời một cách bất ngờ:


– Có một người đàn ông còn trẻ, vào loại người các ông vừa tả, đã tới tiệm tôi mua một vỏ sơ cua. Nhưng tôi không có. Đó là một cái vỏ sườn trắng, tôi biết chắc như thế.


Các thám tử mở rộng cuộc lùng kiếm tới những người mua lẻ từng chiếc, chớ không mua cả bộ. Họ khám phá ra rằng có một chủ gara khác cũng ở khu đó đã bán một cặp vỏ sườn trắng cho một khách hàng như Lữ Lăng và thu mua cặp vỏ cũ.


– Cặp vỏ mà y trao cho tôi cũng còn tốt lắm, không kém gì cặp vỏ tôi bán cho y. Vì thế, tôi cất vào trong kho, xếp vào hạng “ốc-ta-di-ông”. Tôi lấy để các ông coi.


Cái thú chơi vỏ xe đẹp của Lữ Lăng, rút cục, đã quay lại hại y. Người bán hàng đưa ra cho các thám tử coi một cặp vỏ xe mà dấu tích trên vỏ đúng phóc với dấu tích in được trên tuyết ở đảo Bồ Linh.


– Và bây giờ, ta lại tiếp tục cật vấn anh chàng Lữ Lăng!


 P


Dí những vệt xe in ở trên tuyết và “trần” cho một trận nên thân, Lữ Lăng xin... hàng liền!


– Đúng. Xe của tôi. Vỏ ấy của tôi... Chính tôi đã giết Ánh Tuyết... Các ông có biết tại sao không?


Tất cả các thám tử đều sẵn sàng nghe lời khai của Lữ Lăng. Nhưng Lữ Lăng giữ một “mánh” lại mà không có ai có thể nghĩ ra.


Y chồm lên, ra vẻ tức bực, kêu:


– Tôi giết nó bởi vì nó đã giết vợ tôi!


Để biện minh lý do chính đáng của mình trong vụ hạ sát Ánh Tuyết, Lữ Lăng đã vô tình và tự động đưa mình vào trong vụ sát hại Liên Ba. Tự y đã làm tiêu ma những lời khai trước của y về những công việc y làm trong khi Liên Ba ở nhà bị giết.


Thế là y tự xiết chặt cái dây thòng lọng tròng nơi cổ.


– Tôi đã lấy Liên Ba rồi mới quen biết Ánh Tuyết. Tôi yêu vợ tôi, nhưng vợ tôi kỳ lắm, không bao giờ muốn đi cùng với tôi ở bất cứ đâu. Tôi bèn đi chơi ở ngoài với Ánh Tuyết. Ánh Tuyết muốn tôi bỏ Liên Ba để lấy nó. Tôi bảo nó rằng chúng ta có thể gặp nhau luôn nếu Liên Ba không còn nữa. Chính tôi đã chỉ bảo cho Ánh Tuyết nếu muốn cho Liên Ba không còn nữa thì phải hành động ra sao. Tôi mua một thanh sắt dầy, ở một tiệm bán đồ sắt cũ và đưa cho Ánh Tuyết với cái chìa khóa cửa của tôi để cô ấy thi hành ý định.


Lữ Lăng hình như không lưu ý tới hậu quả của những lời y tự thú trong khi dồn hết tinh thần giải thích những hành động của Ánh Tuyết. Y nói tiếp:


– Ánh Tuyết nói rằng sẽ giết Liên Ba, nếu tôi không muốn cho Liên Ba sống. Vì thế, tôi sửa soạn chu đáo để cho lúc nào Ánh Tuyết cũng sẵn sàng.


Ánh Tuyết với chìa khóa của tôi đã mở cửa vào nhà trong khi Liên Ba ngủ và nó đã lấy thanh sắt phang túi bụi vào đầu, vào cổ, vào mặt Liên Ba. Đoạn, nó tưới xăng lên nền và đồ đạc, nổi lửa lên đốt. Sau đó, lúc tôi sắp về nhà, tôi gọi dây nói cho nó. Nó trả lời: “Xong cả rồi”. Tôi bèn tìm nó lấy lại chiếc chìa khóa rồi đi về nhà và tôi thấy lính cứu hỏa và người bu lại ở trước nhà tôi... như các ông đã biết.


Lữ Lăng đã nghĩ và bố trí một trọng tội và nêu ra những công việc y làm trong khi vợ bị giết ở nhà một cách rất khéo léo. Nếu xác Liên Ba bị thiêu hủy hoàn toàn, không ai lại có thể ngờ đó là một vụ án mạng.


Nhưng nếu muốn làm tiêu một xác người bằng cách thiêu, không có dễ dàng đâu. Tuy nhiên không ai lại ngờ rằng Liên Ba đã bị một người đàn bà khác giết. Cái thuyết có ăn trộm lởn vởn ở trong xóm Liên Ba đã làm hại khá nhiều sự tiến hành của cuộc điều tra.


Đoạn, Lữ Lăng nói cho các thám tử nghe các việc xảy ra sau đó.


– Tôi không hề bao giờ nói với Ánh Tuyết rằng tôi sẽ lấy nó làm vợ; nhưng nó lại cứ xử sự y như tôi là chồng nó rồi.


Chúng tôi thường xô xát về chuyện đó, và thứ tư trước, lúc chúng tôi đến gara để rửa xe, Ánh Tuyết không tiếc lời chửi rủa tôi vì tôi tằng tịu với một cô gái khác. Nó cầm một thanh sắt lượm được ở trong gara giơ lên định bổ vào đầu tôi. Tôi giằng lấy thanh sắt ở tay nó và phang một cái mạnh lên đầu. Tôi tưởng là nó chết, bèn định đem giấu xác nó ở một nơi nào đó. Tôi cởi hết quần áo của nó ra để cho khó mà kiếm ra được lý lịch. Rồi tôi lấy một cái bạt trong gara, bọc lấy xác nó và cho cả vào một cái thau lớn. Tôi đặt cái thau vào thùng xe ở đằng sau, vặn hết tốc lực đến đảo Bồ Linh. Đến đó, tôi mới biết là Ánh Tuyết còn sống; tôi bèn lấy dao kết thúc dứt khoát đời nó. Rồi tôi lái xe đi, sau khi đốt hết quần áo của nó để cho không ai biết một tì gì về nó.


Lữ Lăng có vẻ muốn kết thúc lời thú tội thật nhanh vì y thở dài, ra vẻ thoát nợ.


– Tôi đã kể hết đầu đuôi câu chuyện cho các ông nghe; như vậy, tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người. Từ gần hai năm nay, ngày nào tôi cũng sống trong sự sợ hãi – sợ bị bắt. Nhưng không phải tôi giết Liên Ba. Ánh Tuyết nó đã giết Liên Ba, chớ không phải là tôi.


Các điều tra viên không có lý do gì để nghi ngờ lời tự thú của Lữ Lăng. Họ ghi chú cẩn thận rằng Lữ Lăng – chứ không phải Ánh Tuyết – đã bố trí vụ giết Liên Ba. Bây giờ chỉ còn phải chứng tỏ rằng vụ giết Ánh Tuyết cũng là một vụ cố sát có dự mưu như vậy.


Hỏi đến điểm ấy, Lữ Lăng không chịu nói. Lần đầu tiên, kể từ lúc y bị bắt, y nhận thức rằng y đã nói hơi nhiều. Y thú nhận có khí giới trong cả hai vụ sát nhân và nhiều sự việc khác bất lợi cho y.


Bây giờ, muốn rút lại một ít lời tự thú thì muộn mất rồi. Y không lì lợm, chống báng nữa và bằng lòng diễn lại vụ sát hại Ánh Tuyết với đầy đủ chi tiết.


Hai thám tử Tùng và Mễ dẫn phạm nhân đến nhà gara ở Rôn Môn rồi từ đó đi đến đảo Bồ Linh. Theo sự chỉ dẫn của Lữ Lăng dọc theo phía bắc quốc lộ. Đến một nơi vắng vẻ, có cây cối sum sê, Lữ Lăng chỉ cho Tùng và Mễ chỗ có vệt bánh xe dẫn tới con đường đi vào một khu rừng nhỏ ở gần đó. Những vệt xe ấy là vệt xe của Lữ Lăng. Đến đầu con đường nhỏ có một đống tro trong tuyết tan: đó là tàn tích quần áo của Ánh Tuyết mà Lữ Lăng đã lột ra.


Trở về thành, Lữ Lăng đưa các thám tử đến một bãi đất trống ở gần đường Cái Mống là nơi y giấu thanh sắt đập Ánh Tuyết. Đoạn, họ lại đi ra tận cuối thành phố để kiếm cái bạt và cái thau giấu gần một xưởng máy cưa.


Họ dừng lại lần chót ở một bãi trống khác giữa La San và La Tua; ở đó, họ thấy con dao mà Lữ Lăng dùng để lụi Ánh Tuyết: con dao ấy giấu trong một cái chòi xiêu vẹo, bỏ hoang.


 P


Ngày hai mươi mốt tháng năm năm 1953, sau một phiên xử kéo dài trong ba ngày, Lữ Lăng bị kết vào tội cố sát Ánh Tuyết; còn vụ Liên Ba thì không xét vì thủ phạm chính là Ánh Tuyết đã bị Lữ Lăng giết rồi. Lữ Lăng, tuy nhiên, cũng bị thêm tội đồng phạm với Ánh Tuyết trong vụ giết Liên Ba.


Phụ thẩm đoàn chỉ nghị quyết trong có mười lăm phút trước khi tuyên án.


Hồi một giờ năm, sáng hai mươi tám tháng tám năm 1953, Lữ Lăng chết trên máy chém.


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info








[1] Đình liệu: bó đuốc lớn, thường dùng ở những cuộc hội họp, lễ... ở sân đình làng thời xưa.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Ba sao giữa Giời - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam 10.08.2017
Người vác tù và - Triệu Văn Đồi 03.08.2017
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
xem thêm »