tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019871
Truyện ngắn
31.10.2012
Vũ Bằng
Sợi tóc ở chân ông tài phú (1)

Nhân lần đầu xuất bản Những kẻ gieo gió: Bắt đầu từ hôm nay, www.trieuxuan.info post những truyện ngắn in trong tập Những kẻ gieo gió, Di cảo của Vũ Bằng. NXB Văn học in lần đầu năm 2002. Nhà văn Triệu Xuân đưa vào in trong Vũ Bằng Toàn Tập, NXB Văn học, 2006. 


Vào khoảng cuối tháng tám năm 1989, một vài nhà xuất bản nhờ tôi giới thiệu với bà Lương Thị Phấn, vợ của nhà văn Vũ Bằng, để in sách của Vũ Bằng. Lúc bấy giờ bà cho biết nhà văn còn để lại một ít bản thảo, chưa in. Bà Phấn trao cho tôi tập bản thảo Những kẻ gieo gió. Bà Phấn cũng muốn cho nó ra đời nhưng trước khi in bà Phấn muốn nhờ tôi xem lại bản thảo.


Tôi rất ngạc nhiên vì ngỡ ông chết chẳng để lại gì. Hồi còn sống, sách của ông thường bán chạy và được các nhà xuất bản đặt trước. Khi dò lại từng trang bản thảo, tôi nhận biết: có lẽ ông viết vào khoảng từ năm 1965 đến 1974. Và ông chưa muốn cho xuất bản vì còn đang viết tiếp một đề tài thích thú. Hoặc vì chưa gởi gấm trọn vẹn những gì thuộc về mình tâm đắc chăng? Hoặc còn một lý do nào khác?


Lúc ấy các ông Vũ Bằng, L.H. Dương, B.Đ. Trung và tôi thường đi chơi với nhau. Có hôm đi dạo phố, ngồi quán cóc ở đường Lê Lợi, Hồ Văn Ngà... nhìn nắng sớm mưa chiều. Và nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất đến đêm mới về. Trong các buổi nói chuyện ấy, ai biết gì nói nấy, hoặc kể cho nhau nghe một vài câu chuyện nào đó cho qua tang lề. Vũ Bằng viết nháp “bằng miệng” đồng thời cũng thu thập “bằng tai” các chuyện do anh em kể lại. Vũ Bằng thường là người kể nhiều chuyện hơn cả. Đêm khuya, các mẩu chuyện kể tưởng chừng để mua vui ngày nọ đã được Vũ Bằng viết thành Những kẻ gieo gió này.


Trên dưới hai mươi năm trôi qua rồi, đọc lại làm sao tránh khỏi bồi hồi xúc động. Nhưng điều làm cho tôi xúc động hơn cả, là ở giọng văn súc tích, hấp dẫn và truyền cảm của con người tài hoa.


Những gì còn lại ở bản thảo, được Vũ Bằng đúc kết thông qua kinh nghiệm bản thân và chiêm nghiệm cuộc đời. Đó là tấm lòng nhân hậu của một văn tài già dặn và xuất phát từ một văn tâm hướng thiện. Đó là những mẩu chuyện mà báo chí đã đăng tải thời đó, những mẩu chuyện phóng tác, những mẩu chuyện ký giả nước ngoài và bạn bè thu thập từ cuộc sống kể lại. Vũ Bằng đã chọn lọc, suy gẫm và viết ra toàn những mẩu chuyện mà hầu như khoa học chưa lý giải được. Và phải chăng những gì mà khoa học chưa lý giải được đều là phù phiếm?


Thiết tưởng nếu đặt vấn đề nghiêm túc, mặc nhiên những gì còn nằm ngoài khoa học, những gì chưa chứng minh lý giải được như các hiện tượng siêu nhiên nhuốm màu “thần thánh” cũng đều được ngòi bút của nhà văn có trách nhiệm, có lương tâm viết thành các mẩu chuyện có ích cho cuộc sống còn đầy dẫy những điều “mộng mị” khó hiểu, khó tin.


Nhà văn Vũ Bằng đã ghi chép lại các mẩu chuyện ấy với cái nhìn tỉnh táo – đứng trước khoa học còn đang kiếm tìm câu trả lời dứt khoát về những “huyền bí”, về những “hóc búa” từng làm đau đầu người ta. Ông chỉ muốn nói tiếng nói của riêng mình, của một nhà văn – không ngoài mục đích nhằm cảnh tỉnh ai đó còn lợi dụng những điều mê tín dị đoan, còn mù quáng chạy theo điều phi nhân phi nghĩa để làm hại đồng loại, phá hoại cuộc sống luôn cần đổi mới và tiến về phía trước.


Quả thật, những gì xuất hiện dưới ngòi bút của ông trong Những kẻ gieo gió đã trở thành tiếng nói lên án bọn xấu, bọn theo ngoại bang hãm hại đồng bào, bọn lừa thầy phản bạn, bọn tham tiền mất hết lương tri... sau rốt đều bị trừng phạt – không sớm thì muộn – bởi luật nhân quả, hễ làm ác thì nhận quả ác báo, bất cứ ai hễ gieo gió thì gặt bão? Có lẽ vì vậy mà hầu hết truyện ông viết đều tập trung vào một đề tài và tiếng nói duy nhất ấy. Như ở các truyện Sợi tóc ở chân ông tài phú, Đi giết đứa giết người, Bên dòng nước... Cũng có một số truyện mà người trong cuộc vì theo đuổi một mục đích nào đó không phù hợp với cuộc sống và lẽ tự nhiên họ phải rước họa vào thân, như các truyện Cô gọi hồn quán gánh... Tóm lại, về cái luật nhân quả, nằm trong Những kẻ gieo gió cũng chẳng có chi lạ. Nhưng cái lạ nằm ở sự kiện đương thời và cách biểu hiện của con người, của nhà văn từng trải, nên nó sâu sắc, có tác dụng, có lợi ích cho cuộc sống luôn đứng trước cái mới cần loại bỏ cái cũ không còn phù hợp đối với thời đại và cuộc sống trước mặt.


Khi nhìn trang bản thảo đã ố vàng dấu vết của thời gian, tôi cố nén lại bao ý nghĩ về Vũ Bằng. Đã là một nhà văn viết rất nhiều tác phẩm, lại trên dưới năm mươi tuổi nghề; tôi tự hỏi, con số độc giả yêu mến văn ông từ hồi mới vào nghề đến nay còn lại bao người? Tất nhiên, họ đọc văn và mãi mãi yêu Vũ Bằng. Tôi mong tác phẩm này khi ra đời, độc giả thế hệ hôm nay sẽ đón nhận ông như thế hệ hồi trước, hồi ông còn sống, sách của ông được nhiều giới ngưỡng mộ.


Tôi nghĩ, nếu đây là di cảo cuối cùng – vì vợ con Vũ Bằng còn chưa biết ông để lại bao nhiêu tác phẩm – Thì tiếng nói ấy của kiếp nhân sinh trong bỗng chốc đã trở thành lời nhắn nhủ những gì mình tâm đắc. Vũ Bằng đã lặng lẽ viết và muốn cho mầm Thiện luôn được vươn lên, nhân rộng trong cõi đời còn nhiều phức tạp. Cái tốt cái xấu xen kẽ nhau làm lóa mắt, làm tê tái lòng người. Làm sao để tự làm chủ thân phận mình, hướng theo cái tốt, làm kim chỉ nam trước cuộc sống luôn đổi thay và đầy mới lạ. Chỉ cần một phút lơi lỏng mất phương hướng là sa ngã vào tội ác và nhận hậu quả đớn đau khôn lường...


Trong mối quan hệ bạn vong niên, Vũ Bằng ở vào lớp tuổi đàn anh, đàn chú nhưng vẫn tương kính nhau. Hồi mới giải phóng, thỉnh thoảng tôi có gặp lại ông, về sau mỗi người đều bận rộn nên không còn gặp lại nhau nữa. Mãi cho đến một hôm hay tin anh qua đời, tôi đến viếng thì nắp quan tài đã đậy. Năm 1976 Vũ Bằng có cho tôi xem một tờ giấy chứng nhận của một sư đoàn quân đội, là đơn vị có đặt quan hệ với ông từ 1954 đến 1975. Và lần đó là lần gặp gỡ sau cùng giữa tôi và Vũ Bằng. Năm 1984 ông mất!


Sau cùng tôi xin dừng bút mà lẽ ra không cần viết lời này, bởi tác phẩm của ông mới là chủ yếu. Nó thể hiện con người ông và là giá trị đích thực. Với tất cả tấm lòng trân trọng, tôi mạn phép có mấy lời tưởng nhớ người quá cố.


 


Gác đông, ngày 30 tháng 7 năm 1990.


Lý Minh




Kẻ nào cầm tù người khác sẽ bị người khác cầm tù, kẻ nào sử dụng gươm đao sẽ chết vì gươm đao...


Ngươi sẽ gặt những gì ngươi đã gieo.


(Apocalypse, chương 13, câu 10).


Gieo gió, gặt bão.


(Phương ngôn Việt Nam).


Tôi không mong các anh tin. Lúc đầu, há tôi chẳng nói rằng, mặc dầu chính tôi đã nghe và chính tôi đã thấy, vậy mà bây giờ lúc nào chợt nhớ lại, tôi không thể nào tin được là có thực.


(Jérome K. Jérome).


 


Sợi tóc ở chân ông Tài phú


Tháng năm ở miền Nam, có những cơn mưa buộc cẳng người ta lại, không cho làm công chuyện hay “bát phố”. Thật phiền!


Chiều mới đây, chúng tôi lâm vào cảnh đó. Mấy anh em sắp sửa ra đi thì trời vần vũ đen sầm lại, rồi mưa trút xuống như đổ nước. Không biết làm gì khác, chúng tôi ngồi hút thuốc và uống bậy bạ một thứ rượu thuốc rẻ tiền nhắm với đậu phọng rang.


Một anh than cứ đến mùa mưa thì đau nhức không tả được. Do đó, câu chuyện đang từ vấn đề lưỡng viện Mỹ cắt ngân khoản chiến tranh ở Đông Dương đột nhiên chuyển sang vấn đề tật bịnh và thời tiết. Một anh nói:


– Đương nóng dữ mà mưa như thế này dù là mưa lớn – chưa chắc đã tốt như nhiều người vẫn tưởng. Trong đời làm thuốc, tôi thâu lượm được vài kinh nghiệm: mưa như thế này, mai mốt khối trẻ con nóng lạnh hay tiêu chảy. Kỳ lắm, các anh à. Bịnh tật nó cũng có chu kỳ như số tử vi: tháng này, năm trước có bịnh gì thì thường là tháng ấy năm sau cũng phát ra những bịnh gần giống thế.


– Anh nói cứ như thánh sống.


Lý, anh bạn làm thuốc, nghiêm mặt, trả lời:


– Tôi nói thực mà. Hơn thế, tôi lại có thể nói với các anh rằng làm thuốc lâu ngày, có người như được trời phú cho một linh tính. Nghe tiếng người bịnh hay trông vào mắt họ, biết được người ấy sống hay chết, nên chữa trị hay nên khước từ.


Câu chuyện của Lý làm cho những người có mặt bữa trời mưa hôm ấy quên được sự buồn nản bị giam cầm ở nhà.


Lý nói:


– Có một lần, tôi đương ngồi như thế này thì thấy bà Sáu Lưu đi chợ về qua. Không có làm sao cả. Hình như lúc ấy là mười giờ rưỡi sáng. Chừng mười hai giờ trưa, người con trai của bà kêu tôi đến chích cho mẹ anh ta vì bà ấy xây xẩm mặt mày và kêu mệt lắm. Sang đến nơi, tôi bắt mạch thấy mạch bà ta bình thường. Tôi nói: “Có việc gì đâu. Khỏi chích!”.


Nhưng hai con bà không chịu, cứ khẩn khoản tôi phải chích cho mẹ họ một mũi thuốc khỏe. Vừa lúc ấy, bà Sáu bảo tôi: “Thầy xem tôi có làm sao không mà mệt như đứt hơi đứt ruột”.


Tự nhiên, tôi rùng mình vì vừa nhìn thấy ở mặt bà có một thứ ánh sáng khác thường, và không hiểu tại sao tôi nghĩ thầm trong óc: “nếu mình chích, tất thế nào cũng có chuyện lôi thôi”.


Tôi từ chối, ra về. Nhưng hai người con giữ tôi lại, nèo tôi phải chích một mũi thuốc khỏe cho bà già. Các anh đã biết tâm lý người bịnh và gia đình của họ ở đây; đi chữa bịnh mà thày chỉ cho uống thuốc, không chích thì coi như là không trị. Tôi nể quá, phải về nhà lấy một mũi thuốc để sang chích giùm, nhưng không hiểu sao, đập ống thuốc ra rồi, định bơm vào ống chích, tôi lại thôi, quẳng ống thuốc đi. Hai người con bà Sáu thấy tôi lâu không tới, chạy sang tìm và nói:


“Nếu thầy sợ mẹ tôi có bị làm sao, chúng tôi thề sẽ chịu hết trách nhiệm, nhất định không làm khó dễ”.


Nghe thấy thế, tôi lấy làm phiền quá, cầm một ống thuốc khác sang định chích cho bà Sáu, nhưng đến nơi thấy bà vẫn như thường – mà hai con mắt vẫn có một điềm chết chóc hiện ra – tôi lại giấu ống tiêm đi và nhất định không chịu chích. Hai người con bà Sáu càu nhàu. Tôi cũng bực mình, đáp:


“Tôi đã bảo không chích là không chích. Thôi, tôi về”.


Chừng hơn hai giờ trưa, cả xóm loan tin bà Sáu chết. Thì ra sau khi tôi về, hai người con trai bà đi tìm một ông thầy khác đến kèo nèo đòi chích. Ông thầy này chích một liều thuốc vô thưởng vô phạt, nhưng vừa rút mũi kim ra thì bà Sáu tắt thở liền.


Vụ này đăng báo ầm ĩ lên một dạo. Ông thầy Bảy – chích chết bà Sáu – bị đưa ra cò bót cả tháng trời. Kết cục, phải bán nhà đi để bồi thường cho con bà và bỏ luôn xóm này đi làm ăn nơi khác vì có ở lại thì cũng chẳng có người nào đến nhờ chích nữa.


Kết luận, Lý nói:


– Kể câu chuyện để các anh nghe, tôi không có ý khoe tôi là có thần nhãn biết bịnh nhân sống hay chết. Tôi chỉ muốn chứng tỏ mấy điều này:


1. Ở đời, có những linh tính kỳ lạ lắm, hình như có những người được linh tính báo trước, và có một cái gì bí mật ngăn cản không cho làm những việc gì nguy hiểm hay thiệt hại cho bản thân mình.


2. Làm nghề thầy thuốc, bực hết sức. Chữa cho người ta khỏi bịnh chẳng làm sao, nhưng bất ngờ vì một cái gì đó, không ai hiểu mà họ chết thì bị lôi thôi, mặc dầu trước khi mình cho thuốc hay chích cho người bịnh, người nhà đã cam đoan nếu xảy ra chuyện gì thì không bao giờ làm khó dễ.


Tất cả mấy anh ngồi đấy đều nhận là anh Lý nói phải. Không tin được lời hứa của người ta. Ở đời, cái hạng trở mặt như trở bàn tay, thiếu gì!


Anh Bùi vốn là người tu tại gia, ăn chay trường, thủng thẳng đưa ra ý kiến:


– Về trường hợp anh Lý, tôi nghĩ rằng anh thoát được ngặt nghèo là nhờ phúc đức. Ai cũng biết rằng anh ta là người tốt, thường vẫn chữa trị cho người nghèo không lấy tiền, lại cho thêm cả thuốc đem về nhà uống. Ảnh không ham làm tiền. Phải chi anh chỉ nghĩ đến làm tiền, bất cứ việc gì cũng chỉ trông thấy tiền thì cũng hết đời như thầy Bảy, chớ đâu có ngồi tán dóc với anh em như bây giờ.


Anh Hoàng nói:


– Biết mà! Anh Bùi chưa nói, tôi đã biết thế nào cũng quy vào phúc đức. Chẳng biết phúc đức ra làm sao, chớ trong cái lúc chiến tranh này, tôi thấy khối người trở tráo, lươn lẹo, ăn cháo, đái bát, tàn ác, lật lọng, bịp bợm mà họ vẫn chẳng làm sao cả, vẫn cứ sống phây phây, hành lạc, khinh khi những người lương thiện, nhân từ.


Bùi nói:


– Đó là một nhận xét, một quan niệm của riêng anh.


Phần tôi thì thấy rằng “nguyên nhân những sự đau khổ phát sinh từ những tội lỗi gây ra”. Nhiều người cho đó là thuyết dị đoan, không tưởng. Nhưng đến bây giờ thì Âu Mỹ đã xét lại vấn đề này. Qua những cuộc “soi kiếp” của Edgar Caycee nổi tiếng là người có thần nhãn ở Mỹ, “tội lỗi và đau khổ đi liền với nhau như bóng với hình và giữa nhân với quả bao giờ cũng có một tương quan chặt chẽ”. Một cuộc sống tốt đẹp, một thân thể kiện toàn, một hạnh phúc đầy đủ là do những nghiệp quả tốt đưa đến. Trái lại, những người gian ác giết người, đưa người ta vào vực thẳm sẽ bị quả báo xác thân, tâm lý – quả báo tượng trưng, quả báo treo, như ông Caycee đã nói. Chắc các anh không lạ gì trong Kinh Thánh, đấng Christ, cũng như Đức Phật tin là có quả báo nên đã truyền “người gặt hái những gì ngươi đã gieo” và “Hãy làm cho kẻ khác những gì ngươi muốn kẻ khác làm cho ngươi”. Tất cả chẳng qua cũng chỉ là một hình thức để nói lên luân hồi, quả báo, nhân quả mà thôi. Nhưng cái nghiệp quả báo không phải lúc nào cũng thể hiện liền, trái lại, có khi mấy đời sau mới thấy, mà báo oán không phải là lúc nào cũng thể hiện một cách thật đúng khớp với các nguyên nhân đã gây ra.


Theo Gina Cerminara là người Mỹ đã thu thập nhiều tài liệu về luân hồi, nhân quả, thì có nhà người sống hiện nay bị tật bệnh hiểm nghèo là vì những tội ác ông bà cha mẹ họ đã gây nên từ hồi chiến tranh phân ly ở Mỹ. Một người đã lấy dùi nướng chọc vào mắt các tội nhân, không phải đến lúc bị báo oán cũng bị người khác lấy dùi nướng chọc vào mắt đâu, nhưng con cháu sinh ra sau này vừa lọt lòng đã mù là đủ...


Anh Lý nói:


– Bùi nói đúng như ý tôi vẫn nghĩ. Duy tôi nhận thấy điều này, thiết tưởng cũng nên nói ra luôn: ở vào thời buổi tiến bộ như bây giờ, báo oán thường ít khi đợi đến mấy kiếp mới thể hiện, trái lại, thể hiện rất mau lẹ và có khi thể hiện ngay trong kiếp sống của người gây nên tội ác.


Bùi nói:


– Đúng lắm. Đúng lắm. Tôi tán thành nhận xét của anh Lý. Để tôi kể câu chuyện này, các anh sẽ thấy là quả báo có thể xảy ra nhãn tiền, chớ chẳng phải đợi đến kiếp sau.


Đây là câu chuyện của anh Bùi.


Câu chuyện này do cha tôi kể lại. Tôi tin rằng cha tôi không bao giờ nói dối. Mà tôi cũng lại tin luôn rằng cha tôi không phải là người dễ tính, bạ gì cũng tin, không suy nghĩ.


Lúc ấy, chúng tôi ở trên một thửa đất rộng mông mênh ở chỗ chợ Kim Biên bây giờ, trước mặt hãng xà bông Trương Văn Bền. Hình như tôi mới lên sáu, lên bảy gì đó, nhưng bây giờ tôi còn nhớ rõ lúc Tây lấp bằng những con kinh ở gần đó, xây cây cầu Ba Cẳng. Cầu này nguyên trước kêu là Cầu Ngả, làm bằng sắt lót ván, nhưng vì một cuộc hỏa hoạn, thiên hạ bu đông quá ở trên cầu khiến cầu sập, nên phải làm lại thành cầu đúc cốt sắt. Từ cầu này chạy ra tới kinh Chợ Lớn là có nước chảy, ngoài ra nhà cửa xây lên san sát. Bắc ngang khoảng kinh này, có cầu Ông Lớn (tức là tổng đốc Đỗ Hữu Phương), còn từ ngã ba Cầu Ba Cẳng đến Rạch Lò Gốm, có năm cây cầu, Tây cũng thay hai cây bằng cầu đúc: đó là cầu Bình Tây và cầu Bình Tiên. Khoảng đầu năm 1928, hai dãy nhà lá từ cầu Bình Tây đến cầu Bình Tiên bị cháy, người chết vô số, Pháp thừa dịp làm một con đường để xe miệt Hậu Giang chạy vô Chợ Lớn. Con đường đó tên là đường Hậu Giang. Câu chuyện tôi sắp kể xảy ra tại đó khoảng năm 1923 hay 1924 gì đó tôi không nhớ.


Theo lời cha tôi kể lại, ở tại đó, có một người làm nghề xe kéo gốc Chàm, tên là Y Phai.


Lúc ấy Y Phai chừng ba mươi tám, ba mươi chín tuổi, người chăm chỉ, căn cơ, hiền lành như đất. Anh ta theo đạo Hồi, chỉ biết có đấng Allah, ngoài ra không tôn sùng ai hết. Quanh năm ngày tháng, anh chỉ làm có hai việc: kéo xe và lễ mỗi chiều. Cái xe ngày xưa trông như con ngựa trời, mà hai cái càng là hai con dao của ngựa, lúc nào cũng bóng loáng, mà cái đăng tên bọc phần trên chỗ tựa lúc nào cũng trắng tinh.


Còn về vấn đề lễ bái thì không bao giờ suy suyển. Đúng theo thời khắc biểu ghi trong một cuốn lịch riêng, anh Phai lễ đúng theo thời tiết, mặt trời lặn sớm thì lễ sớm, mặt trời lặn muộn thì lễ muộn, mà trước khi lễ bao giờ cũng tắm rửa sạch sẽ và tìm một nơi sạch sẽ, cao ráo nhất trong nhà để lễ. Có lẽ thấy anh ta có lòng thành và mỗi khi nói chuyện gì cũng kết thúc bằng một câu kinh “In cha A-la”, Thượng đế cảm động nên phù hộ cho anh ta lúc nào cũng khỏe mạnh và may mắn hơn các đồng nghiệp khác. Có nhiều khi có xe chờ sẵn ở cửa mà người trong bước ra không đi, lại nhảy lên chiếc xe kéo của Y Phai đậu ở tận bên kia đường.


Thường thường, hôm nào cũng vậy, Y Phai cũng có khách đi. Hỏi bao nhiêu tiền, Y Phai thường đáp “Trả bao nhiêu cũng được”, nhưng hầu hết đều trả cao hơn giá thường. Anh ta cố nhiên không uống rượu, không hút thuốc, không cờ bạc, không trai gái, thành thử dư tiêu. Tiền ấy, anh dành dụm lại thành một mớ. Không có vợ, con, anh ta sợ mình đóng cửa đi làm mà xảy ra chuyện cháy nhà hay quân gian vào đánh cắp thì uổng quá, Y Phai nghĩ ra một cách để giữ tiền chắc chắn hơn.


Nguyên ở dọc hai bên bờ con kinh Chợ Lớn, có nhiều chành lúa gạo dựng san sát từ Bình Tây đến Bình Đông. Xen vào các chành này, có hai nhà máy xay gạo lớn: một là hiệu Nam Long, hai là hiệu Kiến Phong, đều do người Hoa kiều đứng chủ.


Một người tài phú của hiệu Kiến Phong là Tsan Chi Số, đi xe tháng của Y Phai, từ nhà y đến sở làm. Y sang trọng lắm, không những trả tiền hậu hĩ, thỉnh thoảng lại còn cho Y Phai vài cắc bạc “uống cà phê”.


Y Phai kính phục Tsan Chi Số hết mức và đi đâu cũng ca tụng Số là người phúc đức. Một hôm, Y Phai gãi đầu gãi tai xin Số làm ơn giúp cho anh ta một việc.


– Việc gì vậy, chú mày?


– Thưa ông chủ tài phú, tôi nhờ ông chủ tài phú giúp cho việc này, không biết ông chủ có chịu không, nhưng chịu hay không chịu, tôi cứ nói, có điều gì không phải, ông chủ tha tội cho tôi.


Thế rồi, Y Phai trình bày: anh ta dành dụm được một món tiền hơn ngàn đồng, để ở nhà sợ mất, nhờ ông chủ giữ giùm cho. Tôi sẽ làm việc kiếm nhiều hơn nữa, được bao nhiêu, tôi sẽ gửi ông chủ lần lần, cho thành ra một món tiền to, để khi nào có việc gì cần thì có tiền có món, không phải đi vay đi mượn.


– À, chỉ có thế thôi ư? Tưởng là gì! Chớ nếu chỉ có thế thì dễ lắm. Gửi tiền ông chủ giữ giùm thì ông chủ có mất mát, thiệt thòi gì đâu? Được, được, ông chủ sẽ lấy tiền đó sanh lợi, Y Phai chỉ có lợi, chớ không có thiệt đâu.


Y Phai lạy:


– Dạ, con đâu dám thế. Ông chủ có lòng thương, giữ giùm con là quý rồi.


Hôm sau, Y Phai gói một ngàn ba trăm đồng vào một tờ giấy dầu đen, đem đến cho Tsan Chi Số. Người Tàu có tiếng là thực thà, họ buôn bán với nhau bạc vạn, có cần biên giấy nhận hay làm phắc-tuya, rơ-xuy bao giờ? Tin nhau mới quý, chớ giấy tờ kia nọ như Tây mà đến lúc lật nhau vẫn cứ lật như chơi – xấu lắm.


Y Phai ra về, sung sướng như mở cờ trong bụng. Vậy là kể từ hôm nay, anh yên tâm đã có nơi tín nhiệm để dành tiền. Bây giờ, anh chỉ còn có việc nai lưng ra kéo xe để thêm mỗi ngày một ít tiền cho số tiền gửi Số nó lớn lên, lớn mãi lên. Trời ngoảnh mặt đi, có bạc vạn cũng không mấy chốc. Ở vào thời đó, bạc vạn không phải là một số tiền thường. Giàu như chú Hỷ, chú Hỏa, bất quá cũng chỉ có mươi, mười lăm vạn, chớ có triệu, có tỷ như bây giờ đâu!


Sự thật, Y Phai không bao giờ mơ ước để dành được bạc vạn. Anh ta chỉ mơ ước dành dụm được năm, sáu ngàn đồng cũng đã sang lắm rồi. Năm, sáu ngàn đồng! Tiêu bao giờ cho hết! Nhất là năm, sáu ngàn đồng bạc ấy lại ở trong tay Y Phai là một người chăm chỉ hạt bột, không biết xài gì khác, ngoài hai việc kéo xe và lễ đấng Allah! Nghĩ như thế rất đúng. Nhưng nghĩ như thế là không hiểu Y Phai chút nào!


Người phu xe, cơ chỉ hiền lành đó, ngay từ lúc dành dụm đồng bạc đầu tiên đã nuôi một mộng ước không tiết lộ cho ai biết. Trong bốn điều căn bản của đạo Hồi, có một điều như sau mà bất cứ một tín đồ nào cũng biết: “Trong một đời, người theo đạo Hồi giáo nếu có phương tiện, phải đi hành hương thánh địa La Méc ít ra một lần”.


Chính Y Phai đã bị ám ảnh vì điều đó. Anh ta để dành tiền chỉ là nhằm một mục đích duy nhất: hadji ([1]) ở Méque ([2]). Chớ sao? Anh ta lớn tuổi rồi, không vợ không con, có tiền để làm gì? Có tiền đi thánh địa, rồi chết, không còn điều gì oán hận.


Nung nấu ý nghĩ ấy trong đầu, Y Phai lại càng thắt lưng buộc bụng để chóng có một số tiền thật to, anh không xài phí một xu nhỏ, hàng ngày chỉ ăn hột vịt luộc và hái các rau “triết” về ăn, quanh năm không biết thịt là gì, bao nhiêu tiền kiếm được chắt bóp lại để đem gửi ông tài phú Tsan Chi Số.


Một hôm, dịp may đến với Y Phai như thể tự trên trời rớt xuống.


Một “bi lan” cầm đầu “Ái hữu các người Hồi giáo” được một viên chức Pháp kiều nâng đỡ, đứng ra tổ chức một cuộc hành hương La Méc với một giá đặc biệt: ba ngàn hai trăm đồng, ăn ngủ, xe pháo, nhất nhất do tổ chức nói trên đài thọ.


Chụp liền lấy dịp may, Y Phai thay quần áo sạch sẽ, đội nón chỉnh tề, đến nhà máy gạo Kiến Phong xin được gặp ông tài phú Tsan Chi Số.


– Ủa, Y Phai! Có việc gì mà tới tìm tôi vậy?


Y Phai chắp hai tay lại, rón rén thưa:


– Thưa ông chủ tài phú, tôi đến hôm nay để xin ông chủ gia ân cho một việc.


– Chi vậy? Cứ nói!


– Không dám giấu ông chủ, ba bốn năm nay, con chỉ có một ý nguyện là được đi hành hương ở La Méc. Vì thế, con mới để dành tiền, nhờ ông chủ giữ giùm. Gần đây, có một hội tổ chức để hành hương tập đoàn với một giá rẻ bất ngờ nên hôm nay con đến đây xin ông chủ số tiền con gửi ngót bốn năm nay để con đi đóng tiền cho hội kẻo không hết hạn.


Ông tài phú TSan Chi Số nghe Y Phai kể lể mà mắt thì vẫn đọc mấy cuốn sổ để ở trên bàn, tay trỏ làm toán lách ta lách tách. Thấy mãi cũng không trả lời, Y Phai tưởng là ông bận việc, chưa nghe ra, lại gãi đầu nói tiếp:


– Thưa ông chủ, đến ngày hôm qua, con gởi ông chủ được tất cả là bảy ngàn ba trăm đồng. Số tiền góp chỉ có ba ngàn hai, nhưng con muốn xin lại ông chủ tất cả, để đem theo, phòng có tiêu pha gì ở dọc đường hoặc mua bán sắm sửa mỗi thứ một chút để lúc về làm quà cho bà con lối xóm.


Bỗng nhiên đương nói Y Phai nghe thấy đánh sầm một cái. Anh giật bắn lên, tưởng chừng như nhà máy gạo vừa sụp đổ, nhưng không phải. Đó là tiếng ông tài phú cầm cái bàn toán đập mạnh lên mặt bàn. Ủa, ông giận! Sao vậy? Ông giận ai, giận cái gì? Sau một phút định thần, Y Phai mới biết là ông giận chính Y Phai. Ông la lên:


– Tôi không muốn ai đến đây để dọa dẫm tôi. Muốn làm tiền, đi chỗ khác. Mà muốn làm tiền, cũng phải khôn ngoan lắm mới được chớ nói láo nói lếu, tôi kêu mã tà đến bắt đem đi liền.


Y Phai run lên, hai hàm răng đánh vào nhau kêu lộp cộp:


– Bẩm lạy ông chủ, con có xin xỏ gì đâu, Ông chủ không hiểu ý con nói: con chỉ xin lại chỗ tiền con gửi ông chủ mà thôi.


Ông tài phú đỏ mặt, gầm lên như một con thú dữ:


– Mày bảo gì? Tao giữ gì của mày? Mày gởi tao bao giờ? Cái thân phận mày như thế mà mày bảo có tiền gửi tao? Mà gửi tới bảy ngàn đồng bạc! Thế không phải là mày định làm tiền tao là gì? Dông, dông ngay đi, không có tao kêu mã tà bắt ngay bây giờ cho mày chết rũ xương trong ngục tối... Bảy ngàn đồng bạc! Mày có bảy ngàn đồng bạc gửi tao? Giấy tờ bằng chứng đâu? Coi chừng, mày vu cáo cho một người như tao, chỉ có một tù mọt gông thôi, mày à!


Không ai có thể tưởng tượng được phản ứng của Y Phai ra thế nào. Anh ta đứng trơ ra đó, miệng há hốc, không thốt ra được một câu gì cả. Thế rồi anh ta ngã lăn đùng ra mặt đất như một bao gạo vậy.


Bao nhiêu thợ làm ở gần đó nghe thấy tiếng ông chủ la thét, chạy vào xem có chuyện gì xảy ra thì vừa lúc Y Phai ngã. Họ chạy lại định kéo anh ta ra khỏi phòng giấy thì Y Phai đã chết từ bao giờ rồi. Đúng là chết, không sai. Chết thật, chết liền tại chỗ, không còn mong gì cứu sống. Giựt tóc mai, cạo gió, đổ nước tiểu vào miệng, tất cả đều vô ích. Chỉ còn cách lôi xác ra phòng bên, đặt đó, rồi kêu cò bót đến làm biên bản để chở vào nhà xác rồi đem ra nhị tì chôn cất, chớ không có cách gì khác cả. Ông tài phú Tsan Chi Số giơ hai tay lên trời, ra ý phiền, vì gặp chuyện không đâu làm rắc rối cho công việc làm ăn trong nhà máy.


 


(còn một kỳ)


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học in lần đầu tiên, 2002. In trong Vũ Bằng Toàn tập, Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB văn học, 2006.


www.trieuxuan.info




 



 


 






[1] Hành hương.




[2] Thánh địa đạo Hồi.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »