tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376711
31.10.2012
Vũ Bằng
Phong Di Vũ Đình Long, Ông Tiên trong động Tân Dân

Bây giờ hai phe liên hệ đã ra người thiên cổ. Người còn sống, là tôi, nói tốt cho bên nào cũng có tội, cho nên phải nói thật là hơn. Mồ ma Phong Hóa, Ngày Nay, luôn mấy năm trời đem ông Vũ Đình Long, giám đốc Nhà xuất bản Tân Dân, chủ nhiệm Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Truyền BáÍch Hữu ra giễu cợt, không có gì đáng nói. Đáng nói là sau vụ Cô giáo Minh của Nguyễn Công Hoan, Phong Hóa, Ngày Nay đổ quạu, dùng những lời khiếm nhã mạ lỵ ông Vũ Đình Long về hai điều này thì tôi thấy là quá trớn: Các ông Nguyễn Tường Long, Nguyễn Tường Tam cho rằng: 1) Ông Vũ Đình Long không làm việc cho văn hóa, mít đặc không biết gì; 2) Ông Vũ Đình Long đầu độc người đọc báo bằng những truyện kiếm hiệp rẻ tiền, miễn là vét được nhiều “địa” cho vào túi, còn đối với các văn nhân ký giả viết báo cho ông thì ông diết nghiệt, ai cũng phải than phiền, oán hận.


Vũ Đình Long, ông là ai?


Trước hết, tôi phải nói ngay một điều: đối với ông Vũ Đình Long, tôi là một người bạn “kiêm” một người giúp việc, vì trong mười một năm trời liền, tôi là người thọ thác ông để trông nom tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Lịch Sách Tân Dân, Truyền Bá; ngoài ra lại đọc những bản thảo “Những tác phẩm hay” để xem nên lấy cuốn nào, bỏ cuốn nào và các phụ trương đính kèm Ích HữuTruyền Bá.


Mười một năm trời sống với nhau như anh em ruột thịt, cố nhiên là có cái tốt thì phải biết mà có cái xấu thì cũng không thể bưng bít mãi được, cho nên tôi nghĩ rằng tôi có thể hiểu ông Vũ Đình Long hơn nhiều người khác. Mặt khác, ở đời, ít có những người bạn ăn ở với nhau thủy chung như nhất, kiểu Quản Di Ngô và Bão Thúc Nha. Phần đông, chung sống với nhau ít lâu thì vì địa vị, nhất là vì quyền lợi, bạn bè thường tìm ra cái xấu của nhau để dựa vào đó mà phiền hà oán trách. Tôi rất có thể vì quyền lợi mà tìm ra được cái xấu cái dở của ông Vũ Đình Long để bây giờ, nhớ đến ông viết ra để kể tội ông, nhưng một lời nói là một đọi máu, tôi không thể làm như thế được.


Là vì cái xấu và cái tốt của ông Long, đến bây giờ - nghĩa là sau hơn hai chục năm không còn gặp nhau nữa - tôi vẫn thấy cái tốt ở ông vẫn nặng đồng cân hơn cái xấu. Người ta có phải là thánh đâu mà hoàn toàn? Ông Vũ Đình Long, cố nhiên, cũng như anh và tôi không thể hoàn toàn được, nhưng ở vào một thời buổi như bây giờ, mà gặp được một người có khá nhiều đức tính tốt như ông, kể cũng là hiếm có.


Xuất thân là một nhà giáo dạy ở một trường tiểu học ở Hà Đông, ông Vũ Đình Long bắt đầu viết báo từ lúc nước ta mới có Trung Bắc, Nam Phong, Hữu Thanh. Cái văn của ta hồi đó mới phôi thai, đọc nghe lạ hoắc. “… Nghĩ như cái tình thế của quốc dân ta hiện nay, thật không khác một ngôi nhà cũ đổ nát gần hết, còn ngôi nhà mới thì xây dựng chưa xong, bao các vật liệu quý báu của tổ tiên để lại hãy còn phải để chơ vơ ngoài gió, dầu dãi nắng mưa… lại đến các người trong nhà, trên từ già sóc, dưới đến trẻ thơ, con gái đàn bà, người đau kẻ yếu, cũng vẫn nơi ăn chưa có, chốn ngồi thì không, ngày lụn tháng qua, đành mượn dưới bóng cây làm nơi trú ngụ…”. Cũng như Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính, Kế Thương Hoàng Tích Chu... ông Vũ Đình Long đã đem lại cho văn chương lúc đó một hơi thở mới, cùng một lối diễn đạt tư tưởng mới. Bây giờ, tôi quên mất những bài luận ông đã viết, nhưng nhớ rằng vở kịch Việt Nam đầu tiên sáng tác theo kiểu kịch Âu Tây xuất hiện vào hồi đó. Theo tôi, hai ông Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là những người đầu tiên làm quà cho ta những kịch bản dịch của Âu Tây như Le Cid, L’Avare(1), Le misantrophe(2)… còn ông Vũ Đình Long là người đầu tiên đã sáng tác kịch Việt Nam, đăng báo rồi in thành sách. Hai kịch bản đầu của ông là hai cái thành công đáng kể: đó là vở Chén thuốc độcTòa án lương tâm. Sau này, và mãi đến tận khi sắp mất, ông vẫn đào sâu về môn kịch. Ở kháng chiến về, tục bản tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, ông soạn liên tiếp nhiều kịch bản khác, nhưng không phải là sáng tác hoàn toàn như trước nữa mà là “phỏng theo” Âu Tây, với một cước chú mới, thí dụ kịch Tổ quốc trên hết Việt Nam hóa kịch Horace của Corneille.


Tại sao lại đề là “Việt Nam hóa” chớ không phải phỏng theo hay dịch thuật? Là vì phỏng theo hay dịch thuật, phần nhiều, theo đúng ý nghĩa, tư tưởng của nguyên tác mà đàng này thì lại thêm ý nghĩa, tư tưởng của người viết vào trong đó. Thí dụ vở kịch Tổ quốc trên hết. Vở Horace của Corneille có nhiều nhân vật yêu nước và có ba thứ yêu nước khác nhau: thứ yêu nước cuồng nhiệt, không suy nghĩ của Horace tức là Lý Việt trong vở Tổ quốc trên hết, thứ yêu nước cao sang của già Horace “Lý Hùng” sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc tất cả những cái gì yêu quý nhất đời; thứ yêu nước rất nhân đạo của Curiace “Chế Chiêm”.


Trong vở Tổ quốc trên hết Việt Nam hóa kịch Horace còn một thứ yêu nước thực lực không có trong vở Horace, đó là thứ yêu nước chống chiến tranh của Lý Thương Minh. Nàng đã nói: “Việt Nam không bao giờ hiếu chiến. Việt Nam chỉ chuộng hòa bình. Các người lạm dụng danh nghĩa Tổ quốc, đem Việt Nam ra làm cái bung xung để chém giết nhau, để ăn xương uống máu nhau, để làm thỏa mãn cái chí xâm lăng bất chính”.


Nghiên cứu sâu xa về kịch, giúp tay vào nền kịch nghệ Việt Nam không ít, hiểu kịch nghệ hơn ai và trước cả ai ai mà bảo rằng ông Vũ Đình Long không làm việc cho văn hóa, mít đặc không biết gì, chúng tôi chẳng nói ra thì các bạn cũng đã thấy những lời chỉ trích của Phong Hóa, Ngày Nay thực đã đi quá trớn nếu không muốn nói là phỉ báng. Nhưng cái tài học và công lao của ông đối với nền văn hóa Việt Nam không phải chỉ nằm vỏn vẹn trong mươi mười hai vở kịch sáng tác và Việt Nam hóa mà thôi. Một phần lớn công lao của ông đối với văn học nằm ở chỗ ông đã “tìm” ra được nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ sau này nổi tiếng, lưu danh trong văn học sử Việt Nam, và cũng chính là ông đã tạo ra những phương tiện cho các văn gia ký giả ấy trình bầy được tài nghệ và tư tưởng bằng giấy trắng mực đen, đồng thời chế ra những thứ xe chuyển di tài nghệ, tư tưởng của họ cho phổ biến trong khắp nước.


Bắt đầu nhỏ lắm, nhỏ lắm lắm


Trong khi dạy học ở Hà Đông, ông Long đã tính xa là xin thôi sớm thôi, trước tuổi về hưu, cho nên ông đã lập ở Hà Đông là một hiệu sách nhỏ, lấy bảng hiệu là “Tân Dân thư quán” để cho bà Nguyễn Thị Hợi (tức là bà Vũ Đình Long) và một hai cô em bán giấy bút sách vở cho học trò. Phần ông, bắt đầu làm xuất bản với một sáng kiến rất mới (vào thời ấy) là tự treo giải thưởng văn chương để cho các văn sĩ thi nhân gửi bài về, một ban giám khảo gồm có ông và một hai người bạn giáo học khác chọn lựa bài và cho số nhất, số nhì, số ba… Tất cả các bài được giải từ một đến bảy được in vào một cuốn sách chừng một trăm trang ghi “Tập truyện hay của các nhà văn trúng giải văn chương của nhà sách Tân Dân”. Đối với lúc bấy giờ, sáng kiến ấy thực là mới lạ cho nên sách bán chạy và tái bản đến lần thứ ba.


Bây giờ, chắc là cuốn sách ấy không thể nào kiếm được nữa, nhưng riêng tôi - lúc ấy còn đi học sơ-gông ở lít-xê - tôi nhớ rõ là cái truyện trúng giải nhì là một truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan (không nhớ đầu đề là gì) mà tôi đọc thích quá đến nỗi phát bực phải viết thư đến nhà sách Tân Dân chất vấn tại sao một truyện hay như thế mà lại đánh xuống nhì không cho nhất. Tôi cũng nhớ rất rõ là tôi thích truyện của Nguyễn Công Hoan không phải vì nội dung câu chuyện, không phải vì văn chương mà chỉ vì một câu pha trò của một anh đàn ông khen một người đẹp bằng một câu tuyệt tác “en tình bỏ bu con chuột bạch".


Được cái đà ấy rồi, Vũ Đình Long tiếp tục công việc xuất bản sách, những cuốn sách bé nhỏ, mỏng manh bán dăm xu, một hào. Lâu ngày tôi quên mất tên các sách ấy rồi, chỉ còn nhớ có hai cuốn: Trò đời (tập I tập II) của Cuồng Sỹ Tạ Mạnh Khải(1) với Sách dạy đánh nhau của Phong Di Vũ Đình Long, cùng soạn với hai ông bạn khác (mà tôi quên mất rồi). Nói đến hai cuốn sách sau này, tôi nhận thấy ở ông có hai điểm khác đáng lưu ý:


1) Ông là nhà xuất bản đầu tiên trình bày một cái bìa vẽ tranh hài hước (cuốn Trò đời vẽ ở bìa một cái tẩu thuốc phiện, một người so vai rụt cổ đâm đầu vào, ở dưới ghi hai câu thơ: Cái hành nhĩ tẩu cong cong, kẻ vừa ra khỏi người mong chui vào. Tranh vẽ của Trần Tấn Lộc).


2) Ông cũng là người đầu tiên biết nhìn vào phong trào mà ra sách, để vừa có thể bán chạy sách, lại vừa có thể giúp ích cho người đọc, tức là hòa hợp thương mại với văn hóa (Hồi ấy, phong trào đi hát cô đầu mạnh lắm, mà đi hát không phải là lo bù khú ma mãnh với các em như sau này đâu, nhưng đi hát để đánh trống chầu, thưởng thức lời văn đẹp, câu hát hay như các cụ Nguyễn Công Trứ, Tú Xuyên, cụ nghè Vân Đình, Chu Mạnh Trinh, v.v… ngày trước).


Nói câu này không sợ ai bắt bẻ: ông Phạm Quỳnh trước đó cũng có xuất bản một hai cuốn sách trong Nam Phong tùng thư nhưng chỉ là sách của ông ta soạn; ông Nguyễn Văn Vĩnh cũng xuất bản hàng chục cuốn sách khác trong tủ sách Âu Tây tư tưởng nhưng cũng chỉ là sách do ông dịch, cùng lắm có thêm một cuốn của Nguyễn Giang và một cuốn của Đông Lĩnh Dương Phượng Dực, thế thôi. Khác hẳn thế, Vũ Đình Long là nhà xuất bản đầu tiên ở Bắc Việt có công đưa ra ánh sáng rất nhiều văn nhân, thi sĩ, học giả, phê bình, mỹ thuật gia. Các ông Sơn Phong, Cuồng Sỹ, Ngô Đàng Đỉnh, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nguyễn Triệu Luật… vốn có tiếng nhiều, phải nhận là do nhà sách Tân Dân quảng cáo và giới thiệu.


Nhờ có tính cần cù, học hỏi sách báo Tàu, Tây (ông có biết chút ít chữ Nho), ông ra nhiều loại: truyện, thơ, vui cười, sách dạy làm luận, làm toán, trinh thám, tiểu thuyết, sách dạy nghề, v.v… Lúc ấy, các nhà xuất bản ở Bắc Việt khan hiếm lắm, cố nhiên sách của Nhà xuất bản Tân Dân rất chạy do đó công việc bộn bề hơn. Theo đúng chương trình đã hoạch định, ông xin về hưu sớm để chuyên về công việc viết văn và xuất bản. Ông in hai vở kịch Chén thuốc độcTòa án lương tâm vào lúc này. Thế rồi ngoảnh đi ngoảnh lại, công cuộc xuất bản của ông lớn mạnh lên lúc nào không biết. Từ Hàng Bông Lờ, ở gần nhà sách “Đông Tây” của ông Dương Tự Quán, ông tậu một cái nhà lớn, ba từng lầu, ở 93 Hàng Bông Nệm(1), dọn về ở đó. Tại đây, thay vì một cái tủ, nhà Tân Dân có hai tủ, giữa là một lối đi, nhưng ông không bán giấy bút sách vở học trò như trước nữa. Hai cái tủ đóng theo lối mới chỉ trưng toàn sách của nhà Tân Dân xuất bản. Và cũng bắt đầu từ đây, ông tổ chức thành một nhà xuất bản hẳn hoi, có người giúp việc thư từ, có người đánh máy, có người chuyên lo phát hành đâu ra đấy, mặc dầu hãy còn nhỏ, nhưng ngăn nắp, khoa học lắm. Đồng thời ông Vũ Đình Long đặt mua máy in, qua đại lý Marron-Rochat (kiêm cả bán giấy báo, bìa, mực in, chữ và các đồ phụ tùng ấn loát) để in lấy các sách do nhà Tân Dân xuất bản (bởi vì từ trước, các sách vẫn in thuê hoặc ở nhà in Lê Văn Phúc, Ngô Tử Hạ, Thực Nghiệp của ông Mai Du Lân hay Mạc Đình Tư cũng ở phố Hàng Bông).


Tại đây, bắt đầu một giai đoạn mới: Ông Vũ Đình Long thí nghiệm nghề báo với tuần báo nhỏ: tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Trong bộ môn này, ông cũng không bắt chước ai. Thay vì ra một tờ báo có các mục lặt vặt như trăm ngàn tờ báo khác, một xã thuyết, một tí Nói hay đừng, một tí phóng sự điều tra, một hai cái tiểu thuyết và một tí ti trào phúng xỏ xiên, ông lại đưa ra một sáng kiến mới: báo đăng toàn tiểu thuyết hoặc dài hoặc ngắn, ngoài ra không có một mục gì khác cả.


Vì mới lạ, tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy được hoan nghênh liền mặc dầu lúc đó những truyện ngắn truyện dài đăng tải chưa có gì đặc biệt. Đó là thời kỳ bìa Tiểu Thuyết Thứ Bảy vẽ cái tượng bán thân nàng mỹ thuật, mỗi kỳ đăng chừng ba truyện ngắn, một truyện dài sáng tác, một truyện dịch của Tây (như Bí mật thành Ba Lê(1)) và một truyện dịch Tàu (như Hoàng giang nữ hiệp, Đốt cháy chùa Hồng Liên) hoặc truyện cũ có danh tiếng và ích lợi như Tam quốc, Thủy hử, Đông Chu… Thấy loại báo này chạy, nhiều tờ bắt chước làm theo: Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Tuần San, Hà Nội Báo, Báo Tiểu Thuyết và cả báo Phong Hóa nữa (lúc đầu khi báo quán còn ở phố Hàng Đậu – sau này báo Phong Hóa mới thêm nhiều mục trào phúng, tranh vui).


Đặt xong cơ sở và thấy báo đã in, và phát hành đều tay, ông Long nghiên cứu báo Revue Bleue của Pháp, châm chuốc sửa đổi, xin phép ra tờ bán nguyệt san Phổ Thông mỗi kỳ đăng tải một truyện dài. Lúc ấy, chưa có ai ra một tờ báo như thế cả. Ông ra báo Phổ Thông là có một tính toán ở trong: sách ít, in truyện bán mắc vì không được hưởng chế độ giấy có “ligne d’eau”(2) và cũng không được hưởng lượng chế độ ưu tiên dành cho các báo về bưu điện. Báo Phổ Thông in trên một trăm trang lúc một cắc rưỡi, cố nhiên cũng chạy lắm, in không đủ bán. Đến đây vẫn phải nói thêm rằng ông Vũ Đình Long làm bất cứ việc gì cũng tính toán cẩn thận, suy nghĩ chín muồi chứ không làm ẩu tả bao giờ và phương châm của ông bao giờ cũng quay vào mấy điểm này:


a) Bán thật rẻ (cùng một số trang, cùng một khuôn khổ, bán rẻ hơn các báo khác một xu nhỏ cũng được).


b) In đẹp, rõ ràng, sửa lỗi nhà in thật kỹ. Vì cách xếp đặt báo hay sách phải theo đúng luật, đứng đắn, không làm bừa bãi, quá lố, người ngoại quốc họ cười cho, xấu lắm.


c) Ra một tờ báo, phải sửa soạn thật kỹ càng, đầy đủ. Thí dụ ra tờ Phổ Thông Bán Nguyệt San: bản thảo phải có ít ra để đăng tải mười kỳ, in số đầu không bán vội, ngồi nghiên cứu nữa, coi đã thật vừa ý độc giả chưa, giá tiền có đắt quá không, ý kiến của bạn bè ra thế nào… Xong đâu đó mới phát hành. Thí dụ báo ra ngày 15. Từ ngày 10 đã gửi đi Trung, Nam, ngày 12 gửi đi các tỉnh Bắc Việt, đúng chiều ngày 14 phát hành ở Hà Nội. Như thế tức là đúng ngày 15, trên toàn quốc đều có báo Phổ Thông để đọc.


d) Không bao giờ đi chệch đường lối đã ấn định: ra báo tiểu thuyết chỉ đăng tiểu thuyết thôi, không có một mục gì khác. Mà chọn tiểu thuyết đăng luôn luôn nhớ mấy điểm này: phải có ích, phải giải trí người đọc, tuyệt đối không bới móc đời tư ai, nói xấu ai, phải giữ gìn đạo đức, kỵ nhất là khiêu dâm - dù là truyện khiêu dâm có làm cho báo chạy đến chừng nào đi nữa.


Cây ngay không sợ chết đứng. Bởi vì báo không chệch đường lối, bởi vì không hại thuần phong mỹ tục, bởi vì hoàn toàn hợp pháp, ông không sợ ai hết, không phải mua chuộc ai hết, không phải tiệc tùng đón đưa ai hết. Chính phủ bảo hộ khó dễ ư? Ông tra các sách luật làm báo, đi hỏi luật sư, tự tay viết thư chữ Pháp khiếu nại đến cùng.


Thực quả từ khi biết ông, tôi chưa thấy ông “lố” một điểm gì trên phương diện báo chí, duy chỉ có một lần ông chịu thua: đó là vụ một vài đồng nghiệp xấu bụng thấy Phổ Thông Bán Nguyệt San bán chạy, viết thư tố với thực dân Pháp rằng Phổ Thông là sách trá hình, “không phải là tờ báo”, không có quyền được mua giấy có lienges d’eau, được hưởng chế độ đặc biệt về bưu điện. Đi bước tiền phong, ông đã “chơi” lại các nhà hữu trách về báo chí lúc bấy giờ: ở cuốn báo Phổ Thông mỗi kỳ, ông dành một số ít trang đăng các bài khảo cứu, sưu tầm liên quan đến văn nghệ (nhờ Trúc Khê Ngô Văn Triện phụ trách). Tác phong đó được nhiều báo bắt chước làm theo và cho đến bây giờ vẫn còn có những tờ báo làm theo như vậy để tránh búa rìu của các ông quan báo chí.


Từ cách trang trí nhà báo đến cách gửi tiền thù lao các nhà báo


Nói về tính cần cù cẩn thận của các nhà văn, các chủ nhân xuất bản, tôi chưa thấy có người nào lại có nhiều đức tính như ông Vũ Đình Long. Viết đến đây thú thực là tôi hơi ngại. Thứ nhất, ngại là có những nhà văn làm nghề xuất bản không vui lòng. Thứ nhì ngại là phần đông chúng ta có cái thói quen là thấy ai khen quá một người nào thì cho là vì mục đích tư lợi, và khen như thế không có tính cách khách quan.


Về điểm thứ nhất, tôi xin trả lời: trong làng văn, làng xuất bản, chắc chắn còn nhiều người có nhiều đức tính như thế hay hơn thế, nhưng tôi không có cái duyên được quen biết hay cộng tác, thành ra không dám kể ra đây.


Về điểm thứ nhì, ông Long bây giờ đã là người thiên cổ(1), mà tôi cũng không còn trẻ trung gì để tính chuyện gì xa xôi với các người kế nghiệp của ông, nên tôi thấy không có cớ gì buộc tôi phải nói tốt cho ông ấy cả.


Các bạn đã biết, trước khi ra một tờ báo, ông sửa soạn sắp xếp chu đáo như thế nào. Không phải ông chỉ cẩn thận từng cách trình bày, phát hành và bài vở mà thôi đâu. Riêng cái bìa vẽ, ông cũng để ý từng li từng tí: ít nhất cũng phải có hai ba makét để trên bàn, trước mặt ông để ông ngắm đi ngắm lại, rồi mỗi khi có khách khứa tới chơi thì đem ra tham khảo ý kiến để lấy tỷ lệ xem cái mẫu bìa nào được nhiều người thích ý hơn.


Tôi cho rằng sự đắn đo cẩn thận đó không phải chỉ nhằm riêng vào thương mại, nhưng đó là một cái tính sẵn có của ông do ảnh hưởng của Khổng học còn sót lại: chiếu trải không ngay không ngồi, thịt thái không vuông không ăn. Tôi còn nhớ rằng ông bị đau tim và đau bao tử hay gan gì đó. Mỗi tháng ông đi khám bác sĩ Massias rất đều và mỗi lần đến khám, ông đều viết sẵn ra một tờ giấy chứng bệnh của ông diễn biến ra sao, phản ứng của thuốc uống kỳ trước thế nào và ngủ nghê, ăn uống ra sao. Cẩn thận không chịu được.


Áp dụng tính cẩn thận, chu đáo ấy vào trong công việc làm ăn, ông làm cho nhiều bạn bè có “óc lãng mạn”, “có tác phong nghệ sĩ” chán phè, nhưng đối với những người làm việc có óc tổ chức khoa học, những người cầu tiến thì lại mến ông vì ông đúng như một cái đồng hồ tốt. Thôi thì chẳng nói xa xôi làm gì, với ngay những người lấy nghề viết lách sinh nhai, có muốn giấu thì ai cũng biết cả rồi: một trăm người thì có tới chín mươi chín người lúc nào cũng túng (kể cả Lê Văn Trương là người lấy được nhiều tiền bản quyền nhất của nhà xuất bản Tân Dân).


Hầu hết người nào cũng cần tiền. Riêng tôi thấy thì đối với nghệ sĩ, ông là một người tốt, ai hỏi lặt vặt lúc nào ông cũng có chút đỉnh cho vào cái bao thư (trừ những người đòi hỏi thường xuyên không kể), nhưng đó chỉ là một việc rất thường giữa nhà văn với nhà văn và giữa nhà văn với nhà xuất bản. Ông Vũ Đình Long có một điểm đáng ghi mà ít có nhà xuất bản nào thời đó, cũng như bây giờ hơn được: tiền thù lao gửi các nhà văn nhà báo vào cuối tháng không bao giờ trục trặc. Đúng ngày 27 hay ngày 28 mỗi tháng, ông đã để sẵn một loạt phong bì đề tên sẵn từng người. Anh em nào đến bắt tay, uống chén nước xong là có bao thư trao liền, đúng răm rắp, không bao giờ suy xuyển. Về điểm này có lần ông đã nói với tôi rất thật thà: “Ai cũng có gia đình và phải tiêu đúng ngày. Lắm khi tôi cũng thiếu nhưng thiếu thì tôi đi vay nợ để đưa cho đúng ngày, chớ để lỡ anh em buồn lắm”.


Đối với những anh em muốn mượn tiền trước khi đưa tác phẩm, ông cũng dứt khoát chớ không lơ mơ: có thể đưa “avăng”(1) thì nhận, mà xét ra không thể được thì nói luôn, chớ không để cho ai “ăn hy vọng” mà “lỡ công việc của người ta”. Cố nhiên có người không bằng lòng nhưng biết làm sao được, muốn làm ăn đứng đắn có lúc cần như thế. Và bây giờ nghĩ lại, tôi hiểu tại làm sao ông Vũ Đình Long đối xử với các anh em văn hữu bao giờ cũng nhã nhặn, chu đáo, nhưng không suồng sã bao giờ. Không rượu chè, không cờ bạc, không cô đầu thím sẩm, không tửu quán cao lâu, lúc nào với bạn, ông cũng đối xử “nhạt nhạt như nước”, nhưng nói thế không có nghĩa là ông lãnh đạm với anh em. Những lúc bàn văn học, thời thế làm ăn, ông tỏ ra có nhiệt tâm và thành thật, mà đối với các bạn văn chương bút thiệt thì lại càng quý lắm, và luôn luôn tỏ ra biết nghe những lời bình phẩm và biết lưu ý tới những ý kiến của người khác đề ra.


Riêng đối với các nhà văn nhà báo làm việc thường trực tại báo quán ở 93 Hàng Bông Nệm, ông chu đáo hết sức: bàn ghế trang trí ở tòa soạn, cũng như bàn ghế đồ đạc của riêng ông không bao giờ mua sẵn, nhưng tất cả đều do ông vẽ lấy hoặc nhờ họa sĩ Ngô Đăng Đĩnh rập theo kiểu Tàu vẽ ra. Ai muốn ngồi bàn riêng có bàn riêng, ai muốn ngồi bàn chung có bàn chung. Sáng nào cũng quét dọn cẩn thận, nước nôi đầy đủ, duy thuốc lá, rượu là không bao giờ có: ông Long không uống rượu, không hút thuốc, không say mê thứ gì cả, chỉ say mê viết kịch và làm báo, say mê đọc sách báo Tây, Tàu để tìm ra sáng kiến mới, mới luôn luôn, trước là để khuếch trương nghề nghiệp của mình mà sau là để mong có một ngày kia theo kịp đà tiến của báo chí Âu Mỹ và Nhật Bổn.


Một lẽ nữa để thành công


Tôi biết ông Long và cộng tác từ lúc Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra khổ nhỏ. Sau đó ít lâu, Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra khổ lớn, kế đó ra Truyền Bá, Lịch Sách Tân Dân, rồi Phổ Thông thay vì mỗi tháng ra một kỳ đổi làm hai kỳ, rồi ba kỳ, thêm vào đó mỗi tháng ra một cuốn sách trong loại “Những tác phẩm hay”. Nhiều lần, ông Long đã bàn riêng với tôi ra một tờ báo hàng ngày, và tôi đã kẻ hai makét, ông Long kẻ hai makét với một bảng kê các đề mục kèm cả chương trình làm việc, nhưng sau nhiều phen tính toán – bởi vì công việc tính toán có tính cách thương mại thuộc về phần ông Long - cái việc xuất bản một tờ báo hàng ngày phải tạm để đấy vì “chưa tiện lúc”. Cũng nên nói thêm rằng, lúc ấy ông Vũ Đình Long vẫn chưa hết sợ vì hai thất bại (tương đối nhỏ) mà ông đã gặp: tờ Tao Đàn sống ngất ngư (vì chỉ in có ba ngàn mà bán được chừng hai ngàn rưởi số) và tờ Ích Hữu chi tiêu nhiều mà bán không mấy chạy (chừng bốn ngàn số là nhiều).


Đối với lúc này, một tạp chí và một tuần báo mà bán được tới con số ấy, cứ kể là đã tạm sống được rồi, nhưng đối với lúc bấy giờ - và riêng với óc của ông Vũ Đình Long - thì “sống ngất ngư như thế có thể gọi là không đáng kể”, cho nên ông lại càng hết sức cẩn thận trong công việc sắp xếp ra một tờ báo hàng ngày. Nhân đây, thiết tưởng cũng nên nói một câu về tờ Ích Hữu. Tờ báo này có một sáng kiến cũng rất mới lạ đối với lúc bấy giờ: thay vì đăng võ hiệp tiểu thuyết bằng văn, ông Long là người đầu tiên trong làng báo Việt Nam đưa ra một tiểu thuyết võ hiệp bằng tranh như kiểu Comic của Mỹ bây giờ. Chi tiêu nhiều mà bán lại không chạy mấy, báo Ích Hữu phải đình bản, mặc dầu chúng tôi đã bàn nhau ghép nó vào với Tiểu Thuyết Thứ BảyPhổ Thông Bán Nguyệt San, thêm nữa lại tặng phụ trương Hóa Châu nghĩa sĩ do Văn Thi viết lối Kim Dung bây giờ (dựa vào tài liệu Việt Sử) sau khi đã nghiên cứu kỹ tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình của Tàu “ăn” vào những điểm nào và mình phải viết như thế nào…


Dù sao chăng nữa, vào hậu bán thế kỷ hai mươi, ở Bắc cũng như ở Nam, Vũ Đình Long cũng là một nhà văn, nhà báo, nhà xuất bản đứng chủ trương nhiều báo nhất - riêng số Tiểu Thuyết Thứ BảyPhổ Thông Bán Nguyệt San tiêu thụ ở trong Nam gần gấp đôi số bán ở Bắc Việt - có một số độc giả tương đối đông đảo và có thể coi là thành công. Trong sự thành công này, ngoài những công trình kể trên, tôi sẽ không quên nói đến hai điểm này nữa:


1) Óc không kỳ thị Nam Bắc.


2) Tín nhiệm người cộng sự.


Về điểm thứ nhất, ông Vũ Đình Long là một người yêu nước chân thành và sáng suốt. Mặc dầu lúc ấy, hơn cả bao giờ, thực dân Pháp tìm các cách để phân ly Nam, Bắc và Trung, ông Long lúc nào cũng quan niệm Bắc Trung Nam chỉ là một, mình là nhà văn, nhà báo, nhà phổ biến tư tưởng thì có bổn phận ưu tiên là thương yêu tất cả đồng bào mình từ ải Nam Quan đến vịnh Cà Mau. Làm bất cứ tờ báo nào, ông cũng tha thiết nhắc anh em phải phục vụ cả Bắc lẫn Nam nói chung, còn nói riêng thì trong việc chọn bài nên cân nhắc cho kỹ đừng quên Trung hay Nam phần. Tôi không nhớ vào năm nào, cũng trong tinh thần đó, chính ông bận rộn và “phục phịch” như thế mà đã cất công vào tận miền Nam đi tìm họa sĩ Lê Văn Đệ nhờ họa một tranh lụa vẽ ba cô gái Nam, Trung, Bắc để làm phụ bản cho số Tết, để biểu dương cái tinh thần:


Trung Nam Bắc, chị cùng em,


Chị em trông đó, con chim gọi đàn.


Chim kia còn biết gọi đàn,


Chút tình hữu ái, chị bàn cùng em…


Về điểm thứ hai, ông Vũ Đình Long có một cái đức mà nhiều người lãnh đạo không theo kịp: tín nhiệm người cộng sự. Cố nhiên là lúc bắt đầu hợp tác với ai, ông cũng đã xem xét đắn đo cẩn thận, nhưng người ta không phải là thánh nên cũng nhiều khi bị lầm.


Tuy nhiên, với ông Vũ Đình Long, sau khi xem xét kỹ lưỡng người hợp tác với mình trong một thời gian rồi thì ông lại tin hết sức và giao phó hết phần công việc cho người ấy phụ trách và coi như thế là xong, không còn phải bận tâm đến nữa. Cố nhiên có nhiều người khác cũng có đức tính ấy, nhưng tiếc rằng tôi không được biết, trái lại, chỉ gặp nhiều người giao một công việc gì cho ai thì thấp thỏm, chỉ lo người ta không làm được chu tất hoặc phản mình, hay không đủ tài năng gánh vác như mình. Ông Long không thế: sau khi đã xem xét và hiểu được bạn rồi ông hoàn toàn tin ở sự giúp đỡ của người bạn ấy. Trong nửa thế kỷ làm văn viết báo, tôi đã có may mắn gặp được vài người như thế, trong số có ông Nguyễn Văn Vĩnh (chủ nhiệm Trung Bắc Tân Văn, Giám đốc Âu Tây tư tưởng).


Trong mười một năm đồng lao cộng tác, ông Long không có một lúc nào xía vào những công việc ông đã thọ thác cho tôi, nhất là không bao giờ để ý đến giờ giấc làm ăn: điều cần là kết quả của công việc, sự có mặt ở tòa báo không quan hệ lắm. Cứ vào buổi chiều, nhà báo lại cho người đem các bài (kể cả của các văn hữu lẫn độc giả gửi về) với những bản in thử và các bản thảo sách sang nhà tôi để cho tôi đọc và sửa ban đêm. Vì nhà tôi (ở phố Hàng Da) cách nhà báo có ba bước đường, buổi sáng tôi sang trả lại, và nếu có điều gì cần thì dặn xếp com-bô(1), rồi ra ngồi vơ vẩn với ông Long năm mười phút rồi về. Không bao giờ ông Long hỏi tôi về báo Trung Bắc Chủ Nhật - vì cùng lúc trông nom các báo của ông Long, tôi còn làm thư ký tòa soạn cho báo Trung Bắc Chủ Nhật của ông Nguyễn Doãn Vượng - về bài vở đăng Tiểu Thuyết Thứ Bảy hay Truyền Bá trong những số tới, cũng như không bao giờ tôi phải nói trước với ông tôi định rút mục gì hay thêm mục gì. Chúng tôi bàn với nhau hết truyện dài này thì đăng truyện dài gì, mở cuộc thi này thì nhà báo có khả năng phát tối đa bao nhiêu tiền thưởng, hay là số Tết năm nay nên đăng hết một truyện “rút gọn” bằng văn xuôi dịch hay một truyện sáng tác kèm thơ tràng thiên như kiểu Dưới rặng thông của Nguyễn Dân Giám.


Về phần ông Long, mỗi khi bật ra được một ý kiến gì mới, hay cần phải viết thư đối phó một việc gì quan hệ, ông lại mũ mãng cẩn thận, lên đồ lớn sang nhà tôi bàn luận thì thà, thì thầm với nhau như hai anh buôn bạc giả và mỗi khi đắc ý vì tin chắc thắng lợi sẽ về mình, chúng tôi cả cười với nhau. Chỉ những khi ấy, ông mới uống với tôi một ly rượu mạnh, còn phần ông, tôi nhớ rằng chỉ có vào những ngày cận Tết, ra xong số Xuân rồi, tiền nong tính toán xong xuôi, ông mới cúi xuống mở trong tủ ra lấy một chai rượu mới toanh như Cointreau, Kummel chẳng hạn, tự mở lấy, rót ra hai ly nhỏ uống chúc mừng nhau vì đã làm việc tốt trong năm sắp hết.


Những ngày như thế vui không tả được. Có thời giờ rảnh rỗi mà lại hơi chuếnh choáng hơi men (bởi vì trước đó tôi đã uống kha khá rồi), tôi hút thuốc lá lơ mơ thả khói lên đầy cả gian phòng, he hé con mắt lên nhìn thì thấy Phong Hóa, Ngày Nay, trong phạm vi giễu cợt, cũng đã nói lên được đôi ba điều “đung đúng”.


Ở ngoài, gió rét, mưa phùn. Ở trong này, nhìn ông Long qua khói thuốc, tôi thấy ông có vẻ một “tiên ông trong động Tân Dân” thật chớ không phải đùa: Ông hơi nặng đồng cân, da dậu hơi mai mái, không để râu, đội mũ phớt, mặc áo bađờsuy cả trong khi ngồi làm việc, đeo kính trắng, sơ mi lúc nào cũng có nếp, còn quần áo thì bao giờ cũng chọn những màu nhũn nhặn hoặc nâu, hoặc xám, nhưng có sọc hoặc chấm một cách trẻ trung mà kín đáo. Hình như đã một hai lần tôi hỏi tuổi ông nhưng ông không hề nói rõ cho tôi biết cũng như không bao giờ ông cho tôi biết ông bị bệnh tim hay gan… Có điều này ông không nói ra bao giờ, nhưng chính tôi nhận thấy: tay ông run run và mỗi khi làm việc gì quá mệt thì ông thở nhiều và da mặt hơi tái đi một chút.


Đó là vào khoảng 1940- 1952 gì đó, tôi không nhớ kỹ.


Không làm báo, buồn không chịu được


Trong thời kỳ này, công việc làm ăn tiến triển đều đều, mùa hè cũng như mùa đông, sáng nào vào lúc sáu rưỡi bảy giờ tôi thức dậy, đứng ở trên bao lơn nhìn xuống đường cũng thấy ông đi tản bộ theo đúng lời khuyên bảo của bác sĩ Massias để hít thở không khí tốt lành trong nửa tiếng đồng hồ. Đúng tám giờ, ông bắt đầu ngồi vào bàn giấy làm việc, cách những nhân viên trị sự và nhà in bằng một tấm bình phong kiểu Tàu bằng gỗ mun. Tòa soạn ở từng lầu hai, còn từng lầu ba thì nhà ở. Qua một lối đi từng hai, là một gian rất rộng ăn quành sang hai nhà hai bên (sau này ông mua thêm đất ở hai bên để mở rộng nhà in) dùng làm nhà chữ, xuống một cái cầu thang đi ra phía sau nữa là nhà máy. Thợ thuyền ra vào như các nhân viên tòa soạn trị sự đều đi qua mặt ông, nhưng cứ tự nhiên không chào hỏi gì cả (khác mấy ông chủ báo nho nhoe mới ra đời, mỗi khi đến tòa soạn thì băng nhăng buộc nhân viên phải đứng dậy chào như lính ngày trước chào quan lớn).


Trừ một ít nhà văn quen biết sẵn ra không kể, gần hết những nhà văn trẻ tuổi, mới bước vào nghề, ông nhờ tôi tiếp xúc mà nếu không có tôi ở đấy thì Trúc Khê tiếp, hoặc Thanh Châu, nhờ đó, tôi có dịp được biết nhiều nhà văn nhà thơ cũ cũng như mới, già cũng như trẻ đến đề nghị bán tác quyền hoặc đưa ra ý kiến hoặc bàn nên dịch câu thơ này ra thế nọ hay sửa câu thơ nọ ra thế này… Tôi tiếp ở lầu hai nhà báo, tại phòng khách gian ngoài (lầu hai chia làm hai gian, cách một bức tường), nhưng cũng có nhiều khi tôi gặp họ ở nhà tôi vào buổi tối… Nhờ có mười một năm ấy, tôi học được cách làm việc của ông Vũ Đình Long, điều đó đã rõ ràng rồi, nhưng may hơn nữa cho tôi là tôi đã có dịp được quen biết với nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng thời ấy và còn nổi tiếng cả bây giờ nữa.


Bây giờ mà ngồi kể lại thật hết, không có óc đâu mà nhớ nổi, nhưng điều mà ai cũng có thể thấy rõ là một số những nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Hiên Chy, Vũ Long, Nguyễn Tuân, Thanh Châu, Ngọc Giao, Nguyễn Tiến Lãng, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Tô Hoài, Nam Cao, Văn Cao, Hoàng Cầm, Mộng Sơn, Nguyễn Uyển Diễm, Liêu Dương, Lý Văn Sâm, Lê Tam Kính, Bùi Hiển, Nguyễn Tất Thứ, Nguyễn Văn Xuân, Phan Du, Vũ Trọng Phụng, Vũ Xuân Tự, Hồ Dzếnh, Nguyễn Văn Niêm, Nguyễn Duy Diễn, Mạnh Phú Tứ, Nguyên Hồng… đều nổi tiếng thêm lên từ động Tân Dân hoặc là đã từ động Tân Dân mà bước vào văn học sử. Không. Bảo là tiên ông Vũ Đình Long không biết gì ngoài tiền ra quả thực là vu cáo. Theo tôi, trong hậu bán thế kỷ hai mươi, ông là một trong những nhà trước tác kiêm xuất bản gia đã “tìm ra” và “đưa lên” được nhiều văn nhân thi sĩ nhất để làm phong phú cho nền văn học Việt Nam.


Đáng tiếc là đang khi ông dốc toàn lực ra làm việc cho văn học, say mê tìm kiếm những cây bút mới có tương lai và khổ tâm suy nghĩ cách cải tiến ngành báo, ngành sách và ngành in trong nước thì Nhật đổ bộ lên Đông Dương làm xáo trộn hết cả công việc ông đang làm dở. Nhiều văn sĩ thi nhân ở Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Truyền Bá, Phổ Thông Bán Nguyệt San bị bắt hoặc phải đi xa, để làm những công tác mật. Thêm vào đó, lại còn bao nhiêu vấn đề được đặt ra: giấy in báo không có (phải in bằng giấy bản, giấy moi hay giấy Đáp Cầu), nhà in khan thợ, kiểm duyệt gắt gao, phát hành khó vì thông thương trắc trở… ông Vũ Đình Long đồng loạt tạm ngưng xuất bản các báo, đóng cửa nhà Tân Dân ở 93 Hàng Bông Nệm và dọn nhà in về Mục Xá (Hà Đông) là quê ông, vui thú điền viên.


Trong thời kỳ này, tôi có về thăm ông một bận và lưu lại ở một đêm. Sau khi ăn một bữa cơm thịnh soạn với nhau, ông đặc biệt mở một chai sâm banh ra cùng uống. Trong khi trò chuyện, ông tâm sự với tôi rất nhiều. Có một câu tôi nhớ đến bây giờ: “Bạn tác đi gần hết cả rồi, rút lại bây giờ lại cũng chỉ còn ông với tôi thôi. Buồn tệ. Mình đang hoạt động, bây giờ ngồi im, bực bội trong người quá. Hay là ta lại tính với nhau làm một cái gì cho vui”.


Tiểu Thuyết Thứ Bảy in thành tập, khổ nhỏ, bìa nâu, bên ngoài có cái vòng tròn đỏ, xuất bản mỗi tháng một lần bán không được chạy tay. Tôi bàn áp dụng một khuôn khổ mới, một nội dung mới, Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra khổ báo hàng ngày xếp tư, không có bìa cũng chẳng chạy hơn, mặc dầu tôi đã cố đi tìm khắp Hà thành những bạn văn có tiếng còn ở lại nhờ giúp sức. Đó là các bạn Phùng Bảo Thạch, Ngô Tất Tố, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Quốc Ấn, Mai Đăng Đệ, Sở Bảo Doãn Kế Thiện, Ngym Trần Quang Trân. Biết là với thời cuộc mới, chưa thể làm ăn được, ông Vũ Đình Long quyết định đóng cửa hẳn tất cả các báo của ông, treo giò máy in, còn tôi thì trở về Hà Nội. Ngoài việc tổng phát hành tất cả các sách báo của nhà Tân Dân, nhận làm chủ bút cho báo Trung Việt Tân Văn, tờ báo chính thức của Trung Hoa Quốc gia, do Lư Hán đứng bên trong, để lên tiếng nói của người Tàu trắng đến giải với quân đội Nhật… cho qua ngày…


Đến khi Cách mạng tháng Tám bùng lên, ông Vũ Đình Long ở nguyên Mục Xá, còn tôi đi xa một dạo hơn ba năm trời. Về đến Hà Nội, sau khi Pháp tái chiếm Hà Nội, người tôi đến thăm trước nhất là ông Vũ Đình Long. Bấy giờ, tôi thấy ông có vẻ mệt mỏi hơn trước. Nhà sách Tân Dân vẫn đóng cửa bỏ không, ông ngồi xem sách một mình trong một gian phòng lạnh phảng phất một mùi ẩm mốc. Các bạn ta bây giờ ra thế nào hả ông? Có ai bị bắt bớ, chết chóc không? Tôi có nhận được một hai lá thư của Hoàng Cầm và Tô Hoài gửi về hỏi thăm.


Hà Nội vào những năm “tiền Điện Biên Phủ” buồn ghê buồn gớm. Không biết làm gì tôi đi lang thang ở ngoài đường và thường thường trước khi về nhà, tôi lại rẽ vào ông Vũ Đình Long trò chuyện về tình hình đất nước, có thể nói rằng đến tận lúc đó tôi mới thật hiểu những thắc mắc trong tâm can ông Vũ Đình Long và lòng yêu đất nước, xót thương đồng bào của ông nó thắm thiết như thế nào. Ông tâm sự:


- Mình đang làm báo mà bây giờ ngồi im, ông ra làm sao không rõ, chớ tôi thì cảm thấy như người cụt chân cụt tay, ông ạ. Buồn quá, không chịu được.


Tiểu Thuyết Thứ Bảy lại ra đời lần này với một nội dung khác trước: thay vì toàn tiểu thuyết như lúc ban đầu, thay vì bình luận hay gồm đủ các mục chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v… báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy lần tục bản năm 1949 chỉ nhắm riêng về văn học và có thêm một số cây bút mới như Hoàng Thúc Trâm, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Tản Đà, Nguyễn Đỗ Mục, Dương Phượng Dực, Nguyễn Tiến Lãng, Phùng Tất Đắc, Mộng Sơn, Nguyễn Uyển Diễm, Bửu Kế…(1) Sau đó Phổ Thông Bán Nguyệt San cũng tục bản với một khuôn khổ lớn hơn trước, cũng đăng mỗi kỳ một truyện dài hay một bản kịch mới theo lối “Việt Nam hóa” của ông Vũ Đình Long. Công việc đang tiến hành thì Điện Biên Phủ bùng nổ, đất nước chia hai. Ông Vũ Đình Long ở lại Hà Nội còn tôi thì xách một cái valy vào trong Nam.


Uống với nhau một ly nữa lúc chia tay


Hôm ra đi, tôi sang chào từ biệt ông Vũ Đình Long. Ông buồn lắm, và nói:


- Có lẽ chuyến này thôi làm báo hẳn, ông Bằng ạ.


Chưa bao giờ ông phàn nàn với tôi rằng ông đau bệnh gì hay than sức khỏe kém sút. Đây là lần đầu ông nói với tôi là ông mệt. Tôi an ủi:


- Chẳng mệt thì cũng nên nghỉ luôn ông ạ. Năm nay, ông cũng đã lớn tuổi rồi. Ngồi tính đốt ngón tay, ông phục vụ văn học cũng ba bốn mươi năm trời rồi, cũng không phải ít gì. Theo tôi, ông cũng nên nghỉ để vui chơi với gia đình một chút.


Ông gật đầu, không trả lời tôi, nhưng tôi đoán là ông đủ hiểu tôi nói gì. Là vì ông Vũ Đình Long, trong suốt một đời cần cù làm việc, luôn luôn nuôi một thắc mắc trong lòng: không có con trai. Mãi đến tận khi Nhật bại, Việt Minh nắm chánh quyền, công việc làm ăn không được phát đạt bằng trước nữa, ông mới được với bà kế hai trai và thêm một gái. Lúc ấy ông đã gần sáu mươi. Khỏi phải nói, ta cũng có thể biết niềm vui của ông lúc đó mông mênh đến chừng nào, ông muốn đem những ngày cuối cùng trong đời ra nuôi nấng và dậy dỗ mấy đứa con trứng nước đó cho nên người. Ông nói:


- Ý ông hợp với ý tôi. Tôi muốn nghỉ làm báo thật để vui chơi với gia đình, đúng như ông nghĩ vậy.


Chính một phần vì thế ông Vũ Đình Long không di cư. Hôm tiễn biệt nhau, tôi còn nhớ ông nói đại khái với tôi thế này:


- Ông đi, đó là ý thích của ông. Tôi ở cũng không phải không có lý do. Dù là đất nước chia hai nhưng Nam Bắc lúc nào cũng chỉ là một mối, ông giúp nước theo cách của ông mà tôi giúp theo cách của tôi, ở bất cứ đâu ta đều có thể giúp nước miễn là mình có thiện chí, thiện tâm là được. Tôi chỉ tiếc là mấy độ này tôi yếu, và lại thêm mấy cháu còn nhỏ dại nên không đi được, chớ đi, tôi cũng thích lắm, chớ bó chân lại ở đây thiếu anh em cũng buồn. Đã đành ai chẳng là anh em một nhà nhưng nhớ lại các anh em cũ mà nay cách trở cũng buồn lắm chớ, không phải dễ gì mà khuây khỏa ngày một ngày hai cho được.


Cái đó cố nhiên rồi. Nhưng tôi thiết nghĩ cái tình trạng đất nước phân đôi như thế này kéo dài cũng chẳng bao lâu, một vài năm thì lại thống nhất, anh em mình lại sống với nhau như trước, chớ có lâu la gì đâu mà sợ.


Ông Long mời tôi ăn một bữa cơm ở trên căn gác tại 93 Hàng Bông Nệm. Tuyệt nhiên không có một người nào khác lạ, chúng tôi chỉ có hai người, đối diện nhau, rót rượu mời nhau uống rất buồn. Hôm ấy, ông uống tới ba ly nhỏ. Đau tim, ăn ngủ đúng giờ, kiêng cữ cẩn thận mà dám uống liền ba ly nhỏ như thế kể đã là liều lắm. Chúng tôi nói đủ các thứ chuyện với nhau: chính trị và văn hóa, kinh tế. Ông phàn nàn rằng chính quyền(1) làm khó dễ tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy tục bản lần chót và tỏ vẻ bực bội khi nhắc đến việc ông Thủ hiến lúc đó “treo bút” tới sáu tháng và cấm đăng tiếp một tiểu thuyết dài của tôi nhan đề là Chớp bể mưa nguồn và một ký sự đề là Khúc ngâm đất Hà. Ông cười và nói:


- Thỉnh thoảng tôi hay nghĩ rằng chính người mình làm khó cho nhau. Dưới thời Pháp và cả thời Nhật nữa, tôi chưa thấy có những biện pháp gắt gao như thế. Nhưng mà thôi, trăng đến rằm thì trăng trong, phải không ông?


Ông hỏi kỹ về gia đình tôi ai ở ai đi, tỏ vẻ bùi ngùi lại chính vào lúc nước độc lập thì gia đình cũng ly tán. Tôi nói:


- Phần tôi đi không phải vì sợ ở với Cộng sản thì khổ cực đâu. Tôi chẳng sợ gì cả. Nhưng nhân danh là một người cầm bút, tôi muốn biết đất nước trong cơn tao loạn này ra sao. Ông đã biết hồi 1930 tôi đã ở miền Nam năm năm rưỡi. Nhưng hồi ấy khác, bây giờ khác. Tôi muốn đi để biết ra thế nào. Tôi quan niệm đây là một cuộc đi chơi rồi về.


- Tôi cũng nghĩ như thế… “Họ” muốn chia đôi đất nước ta mãi sao được? Mấy ngàn năm Tàu đô hộ và tìm cách sáp nhập ta vào với nước họ, đồng hóa ta mà còn chẳng ăn thua gì, huống chi bây giờ dân ta đã hiểu biết và tiến bộ gấp ngàn vạn lần ngày trước.


Xuống đến Hải Phòng ở tám tháng, tôi thường thường đi Nam ở vài ngày, một tuần lễ rồi lại ra. Vợ con tôi xuống thăm tôi. Mỗi lần về, tôi lại gửi mấy câu hỏi thăm ông Vũ Đình Long và được biết ông vẫn mạnh. Thế rồi khoảng mười ngày trước khi hết hạn ở Hải Phòng, một hôm trời mưa, tôi đang ngồi đánh cá ngựa gỗ ở trong nhà thì thấy ông Vũ Đình Long gõ cửa đi vào. Tôi ngạc nhiên hết sức, mà vui mừng không tả được. Ngạc nhiên là vì ông Vũ Đình Long, cũng vào cái hạng “L’homme aux orchideés”(1) ít khi xê dịch mà sao hôm nay bất thần lại dám liều mạng đi như thế này, chắc hẳn phải có điều gì quan trọng nói với nhau đây. Mà mừng là vì tưởng là chia tay nhau ở Hà Nội, không còn mong gặp nữa mà bỗng dưng lại gặp nhau lần chót thế này quả là một sự không ngờ…


Tôi chờ ông nói một điều gì quan trọng. Nhưng không. Ông nhớ, và muốn tiễn tôi lần chót trước khi tôi lên phi cơ vào trong Nam.


- Phải. Tiễn ông. Nghe tin tức và ngồi tính toán cẩn thận, tôi ngờ là chúng ta cùng lầm mất rồi…


- Lầm gì?


- Ông cho rằng đất nước ta chia đôi trong một thời gian ngắn mà di cư cũng như là đi chơi, ít lâu lại về. Nhưng tôi không hiểu tại sao mấy đêm nay, tôi linh cảm là không phải như thế… Ai biết trước được những biến chuyển gì sẽ xảy ra… nhưng tự nhiên tôi buồn quá và nghĩ rằng có lẽ còn lâu lắm, lâu lắm, chúng ta mới lại mong tái ngộ… Ấy chính vì tôi nghĩ như thế nên hôm nay xuống đây chơi trò chuyện với ông và bắt tay ông lần chót…


Vốn là bạn tâm giao, cư xử và nói năng trò chuyện lúc nào cũng giữ gìn lễ độ, tôi định bảo “Nói dại nào” nhưng đắn đo một chút lại thôi, không dám nói. Đêm hôm ấy, chúng tôi ngồi trên lầu cao của một nhà hàng ở ven sông đến hai giờ sáng. Tôi hỏi:


- Sao tự nhiên ông lại nghĩ rằng đây là lần chót chúng ta gặp nhau và bắt tay nhau?


- Tôi không hiểu tại sao. Tôi cảm thấy như thế. Vì thế tôi xuống đây thăm ông, bắt tay ông lần nữa. Rất có thể như thế lắm: đây là lần cuối cùng.


Ông không nói gở bao giờ… sao hôm nay lại thế nhỉ? Hay là điềm báo trước một chuyện thực sẽ xảy ra chưa biết chừng?


Đêm cuối cùng tiễn đưa nhau buồn quá. Sáng hôm sau ông Vũ Đình Long về Hà Nội. Tự nhiên không hiểu vì cảm cái tình của ông đối với tôi hay là vì thương thân mình bỏ cả nhà cửa vợ con bè bạn thân yêu để đi lủi thủi vào miền Nam bí ẩn, tôi thấy rưng rưng nước mắt…


Nào ai có ngờ đâu câu nói gở của ông Long lại thành ra sự thật. Một lần nữa, tôi đoán sai thời cuộc: chiến tranh hai miền, chiến tranh triền miên mãi ở trên đất này, không những đã không chấm dứt mà mỗi ngày lại mỗi ác liệt thêm lên.


Năm 1965, tôi ở Hồng Kông thì được một người bạn gặp ở Cửu Lùng báo cho biết là ông Vũ Đình Long đã mất. Con người ta kỳ lắm: tôi nhất định không tin. Không vì lý do gì cả, tôi yên trí tin ấy là tin thất thiệt. Về đến nước nhà, hỏi thăm anh Đinh Xuân Cầu là tế tử(1) của ông và chị Vũ Thị Nha là ái nữ của ông, tôi mới chịu tin là ông Vũ Đình Long đã tạ thế ở Hà Nội thật, tại chính ngôi nhà 93 phố Hàng Bông là trụ sở của nhà in Tân Dân và năm sáu tờ báo do ông quản nhiệm. Và tôi nhớ lại mười một năm ra vào ở đó, bàn luận công việc với ông từ việc nhỏ đến việc lớn, đỡ đần nhau, khuyến khích nhau và thương yêu nhau hơn ruột thịt.


Nếu trời đất yên hàn không có chiến tranh, tôi phải là người nói mấy lời khi hạ huyệt ông.


Trời bắt chúng tôi không được gặp nhau vào giờ phút cuối cùng, tôi viết bài này để khóc ông thay một bài điếu văn. Hỡi ơi, xin chứng giám!


Sài Gòn, 1-7-1973


Văn Học, Giai phẩm, ra ngày 15-5-1974


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) L’Avare: Kẻ hà tiện – (NBS).




(2) Le misantrophe: Người bệnh tưởng.




(1) Một nhà văn khôi hài nổi tiếng một thời, chết một cách ai oán tại nhà một người bạn, người đầu tiên viết văn nhái Kiều tân thời. Xin đọc kỹ về Cuồng Sỹ, trong Những cây cười tiền chiến của Vũ Bằng – Tạp chí Nhân văn đã xuất bản.




(1) Theo Đường phố Hà Nội của Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá, trước đây ở Hà Nội, phố Hàng Bông gồm các đoạn Hàng Bông Đệm (ở đây Vũ Bằng viết là Nệm), Hàng Bông Lờ và cả Hàng Bông Cửa Quyền – (VTN).




(1) Bí mật thành Paris của E. Su




(2) Giấy báo thường có sọc mờ lúc soi lên dành riêng cho các báo bán giá rẻ hơn giấy thường.




(1) Vũ Đình Long mất năm 1960.




(1) Avant (tiếng Pháp): đưa trước, ứng trước.




(1) Composer (tiếng Pháp): xếp chữ in.




(1) Đoạn này Vũ Bằng nhớ nhầm: Tản Đà đã mất từ 1939; Phan Khôi lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.




(1) Đây là chính quyền vùng Hà Nội tạm chiếm trước 1954.




(1) Tiếng Pháp, nghĩa là loại người “cây cảnh”, cấm cung..




(1) Con rể.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »