tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21050572
30.10.2012
Vũ Bằng
Những bức thư cuối cùng Tam Ích gửi cho tôi

Thư đề ngày 5 tháng Giêng năm 1971


Kính gửi anh Vũ Bằng


Nhà văn - Sài Gòn


Bạn thân mến,


Theo danh từ Phật giáo, tôi nghĩ đó là cái “duyên”. Tôi đã đọc trong bán nguyệt san Văn Học những bài anh viết về các nhà văn tiền chiến. Tôi thấy anh cũng có những ý niệm như thế. Giữa cá nhân và cá nhân, cái “duyên” hợp người ta lại mà cũng chia người ta ra. Ngoài ra, các cái khác cũng có một vai trò – nhưng không quan trọng bằng. Vậy, cái duyên là một cái gì bất khả giải. Ta gọi tạm là khó hiểu. Chúng ta cứ biết theo như thế.


Giữa chúng ta, hai đứa chúng ta, đáng lý phải gặp nhau từ rất lâu rồi mới phải. Phải đợi đến nửa thứ nhì bán thế kỷ XX chúng ta mới bầy tỏ được tâm sự với nhau. Chậm còn hơn không: thế là chúng ta sung sướng rồi. Anh cũng có những cảm tình như thế đối với tôi. Mà tôi, đối với anh cũng thế.


Hãy đợi gặp nhau lại để mà trò chuyện.


* * *


Tôi gửi cho Thịnh (Phan Kim Thịnh) một bài dài khá đầy đủ. Ở đầu bài, tôi viết mấy chữ đề tặng anh. Anh có “rách” không?(1) Tôi vào hạng rách. Những người giàu có quà cáp biếu xén nhau có giá biểu dương bằng tiền bạc, chúng ta thuộc hạng “rách” chẳng có cóc khô gì – nếu không là cái thẩm quyền kêu là văn chương – chúng ta tặng nhau những bài văn, bài báo sản phẩm của chính chúng ta. Vậy là chính con tâm lên tiếng.


Xin anh nhận bài văn ấy làm tượng trưng cho tình bạn tác trang trọng của tôi – trang trọng bởi vì anh là anh tôi hai lần: anh hơn tuổi tôi, anh lại ở vào làng văn bút trước tôi. Có phải thế không, anh?


* * *


Đối với tôi, văn chương là cái nghiệp. Đã là cái nghiệp thì phải trả, văn chương không còn nghĩa gì đối với tôi vì tôi đã làm công việc đó hơn một phần tư thế kỷ. Tôi đã chán ngấy lên rồi – bởi vì tôi đã trải một cuộc đời quá ư vất vả: cha tôi bị chết treo, mẹ tôi lang thang vơ vất chết đói chết rét một thân mình (Tôi đau khổ hết sức đến nỗi không còn thấy lẽ sống nữa!), còn chính tôi: biết bao nhiêu thăng trầm! Tuy vậy, tôi cứ phải cầm cán bút – bất đắc dĩ, bất đắc dĩ! Và bất đắc dĩ!


Thế thì biết kêu là gì – nếu không là cái nghiệp!(1)


* * *


Thịnh yêu cầu viết đều cho bán nguyệt san Văn Học. Đồng ý. Nhưng bạn ơi, tôi không vui lòng. Một lần nữa: lại là cái nghiệp. Tôi mong rằng giữa Phan Kim Thịnh và tôi –  Tam Ích – tình bạn, dù là mới khơi mào, cứ nguyên vẹn như thế mãi – ảo tưởng, nhưng đã thành sự hiển nhiên.


Chúng ta lớn tuổi rồi, sự niềm nở của người ta là một niềm an ủi. Thêm một chút tiền không làm cho ta giàu hơn và sung sướng hơn. Tôi có cảm tình chân thành với Thịnh vì anh ấy có một thái độ đáng yêu.


* * *


Tôi không chọn mẹ tôi đẻ ra tôi (ngôn ngữ hiện sinh!) nhưng tôi trách mẹ tôi đã sinh tôi làm giáo sư và văn sĩ – hai cái “nghề” mang lại không biết bao nhiêu sự xót xa, đau đớn.


Trong cuốn từ điển “Larousse” thế kỷ hai mươi, danh từ gì cũng giải thích rõ ràng, trừ phi danh từ “sự sống”.


Chào anh và hẹn anh tái ngộ.


Tam Ích . 12 Sương Nguyệt Anh - Sài Gòn.(2)


* * *


Thư đề ngày 10 tháng Giêng 1971


Anh Vũ Bằng rất thân mến, “Hừ! Khỉ lắm! Gần như ngày nào chúng ta cũng gặp gỡ, chuyện trò với nhau mà sao lại còn vẽ chuyện viết thư gửi cho nhau – làm văn thế này! Thế mới gọi là phiền toái hóa cuộc đời! Thế thì nói quách với nhau điều gì cần nói có hơn không?”.


Anh sẽ nói như thế, anh Vũ Bằng thân mến(3).


Có lẽ anh có lý. Đồng thời, anh cũng hay lầm. Đây này: tại sao lại lầm.


* * *


Từ ba năm nay, tôi tự đặt cho mình một nguyên tắc: viết một lá thư trên giấy trắng, luôn luôn để ở cạnh mình, cho vào một bao thư, dán một con tem lên, bảo con cháu gái bỏ vào thùng thư, ở ngay cạnh nhà. Giản dị không để đâu cho hết(1). Như thế, người ta nói được hết nỗi lòng(2), người ta lại nói được cả những điều người ta nghĩ trong lòng nhưng không nói thẳng được với người đối thoại – tức là người bạn, chứ sao!


Đây là những lợi điểm: những ý nghĩ dài dòng vẫn giữ nguyên được sự liên tục, sự phong phú, không bị cắt ngang, không có sự tránh né, không có sự ngộ nhận tạo ra vì sự vụng về trong khi chuyển ý, không có người bạn khác xía vô, không có ông khách lạ nào mà ta phải trả lời rồi quên mất đoạn vừa mới nói giữa bạn bè, rồi lại phải cố sắp xếp lại đầu đuôi các ý kiến – do đó có nhiều sự hiểu lầm mang lại những hậu quả, mới thấy tưởng là thường nhưng tai hại vô kể. Có phải thế không, anh Bằng?


* * *


Vậy, tôi viết cho anh, mặc dầu gần như buổi trưa nào tôi cũng gặp anh.


Tôi tự hỏi, lúc còn học ở Lycée Albert Sarraut Hà Nội sao anh không chọn lấy một nghề khác! Văn chương, văn học, giúp ta tiêu khiển, nhưng không bao giờ giúp ta sống. Tôi đã quyết định rồi: có cơ hội, tôi nắm lấy liền: để “chào vĩnh biệt võ nghiệp”, “chào vĩnh biệt á phiện!”, “chào vĩnh biệt văn nghiệp” – khi nó thành ra nghề nghiệp. Y như  Hemingway đã nói, như Vũ Bằng đã nói. Chào vĩnh biệt!


Tôi chán ngấy lên đến cổ rồi! Tôi nghe văng vẳng bên tai như một ác mộng. Một ác mộng lớn.


Sang năm Tân Hợi, chúng ta phải làm một cái gì để đánh dấu, anh Bằng. Chúng ta phải làm gì cho văn học sử trước khi chết. Anh Bằng, Thượng Sỹ, Ích, Thịnh… một số người khác nữa… tóm lại một nhóm văn nghệ sĩ để lại dấu tích cho đời. Chúng ta không phải là không có “sự nghiệp”. Nhưng chúng ta phải làm thêm cái gì khác nữa, anh có thấy thế không? Phải nghĩ ngay từ bây giờ, anh Bằng. Đã đành tôi nói rằng tôi chán nản ê chề, nhưng khi người ta có bạn tác suy nghĩ như nhau, người ta có thể đo lường – trước khi truyền cảm cho nhau sự nồng nhiệt mệnh danh là nhiệt tình, nhiệt cảm.


Tôi vui mừng được biết anh và chúng ta thành ra bạn tác với nhau.


Thế giới văn nghệ đông đảo lắm – đông quá, nhưng chân giá trị thì không có mấy.


Tôi đã nhận thức thấy thế. Người ta đi theo dấu vết của ông cha ta: tuân theo các giáo lý của Tây phương, làm nô lệ cho những giá trị sáo, người ta lập lại, người ta “chụp hình” – nói một cách khác, người ta ít sáng tác quá, người ta không suy nghĩ; người ta để cho kẻ khác suy nghĩ thay và lấy thế làm hãnh diện. Họ cho như thế là thông thái rồi!


Những cái gì mà ông cha ta đã làm, chúng ta sẽ làm lại. Bây giờ đã muộn quá, anh Bằng à, máy móc đã chi phối loài người, kỷ luật ngự trị trong các khối óc và cầm cương nẩy mực. Con người, với danh nghĩa người, không còn bảo trì được địa vị của mình.


Dân tộc chúng ta thật đáng thương. Mà chúng ta, Vũ Bằng, Tam Ích, v.v… đều bất lực – mà chúng ta lại là trí thức, cứ thẳng thắn mà nói.


Chua xót chưa anh?


Anh nghĩ kỹ xem chúng ta có làm được gì không? Kỳ cục không chỗ nói(1): Dân ta có 37 tờ báo hàng ngày, 14 báo hàng tuần, 9 tạp chí, 141 chánh đảng và gần như có bao nhiêu đường thì có bấy nhiêu tư thục. Có bao nhiêu tư thục thì có bấy nhiêu đường, vậy mà cũng như không…


Có phải đó là triệu chứng của thời đại không? Mà triệu chứng gì vậy?


Thân mến


Tam Ích


Thư tiếp theo thư ngày 10 tháng Giêng 1971


Bạn thân mến,


Vậy bây giờ chúng ta mình mình tớ tớ với nhau, phải không anh Bằng? Một chi tiết nhỏ: viết xong bài về Samuel Beckett mà tôi đề tặng anh, tôi không mấy vui và gần như cụt hứng. Thịnh là một bạn đáng mến, tôi xin nhắc lại… để Thịnh xử với tôi thế nào, tùy ý. (Đến đây có một đoạn anh Tam Ích yêu cầu giữ kín vì có liên quan đến mấy chủ xuất bản khác).


Mỗi khi tôi nghĩ tới anh với một bầu đoàn thê tử đông đảo, tôi cảm thấy mất hẳn sự bình tĩnh của tâm hồn – thương bạn, tức là thương mình, phải không bồ(2).


Vậy, chúng ta thẳng tiến. Phải có đủ các thứ mới tạo ra được cuộc đời. Sự sống có ý nghĩa của nó – kể cả ý nghĩa xấu xa. Nếu chúng ta đều sướng cả thì sẽ buồn tẻ lắm. Có phải thế không?


Bạn anh: Tam Ích


 


Thư đề ngày 26 tháng Năm 1971


Bạn rất thân mến Vũ Bằng,


Tôi yêu cầu anh đừng e ngại gì hết về bất cứ việc gì(3)


Tôi đã nói với anh tất cả những cái gì cần thiết về tình bạn và tôi cũng đã nói tình bạn phải thế nào. Cho tới nay, người ta đánh giá thấp và đánh giá quá cao tình bạn – chỉ chúng ta mới biết giá trị thực của tình bạn. Cần phải đánh giá tình bạn cho thật đúng.


Tôi lẻ loi lắm. Tôi quý tình bạn – xin nhắc lại với anh lần nữa.


Chúng ta lớn tuổi cả rồi. Được giây phút nào, quý giây phút ấy – những lúc chúng ta ngồi đối diện đàm tâm.


Tôi nhờ anh một việc: chuyển cho anh Bách thư này. Tôi phải cư xử phải phép. Các bạn ở bệnh viện Bình Dân (kể cả các bạn gái) lịch sự hết sức.


Như thế là quý lắm rồi(1).


Bạn anh


Tái bút: Tôi nhắc anh nếu tình cờ mà tôi vắng mặt, anh sửa giùm tôi bản vỗ trên báo Văn Học sắp ra(2).


 


Thư đề ngày 30 tháng Tám năm 1971


Bạn rất thân mến Vũ Bằng,


Vì anh đã theo học Lycée Albert Sarraut, anh phải nhận với tôi rằng tiếng Pháp là một tiếng rất phong phú – giúp ta diễn được những điều rất ư tinh tế. Vì thế anh đừng cho tôi là rởm – bởi vì rất có thể anh tự hỏi tại sao tôi không nói tiếng mẹ đẻ, viết tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt Nam.


* * *


Xong. Chắc anh nhận thấy rằng ít lâu nay tôi vắng mặt ở cái Quán Cóc của chúng ta, mà trước đây tôi vẫn đến đều hơn.


Tôi không thể giải thích cho chính tôi tại sao ít lâu nay tôi lại chán đời một cách nhẹ nhàng. Nhẹ nhàng, là vì hình như ở thế gian này không còn có cái gì có một ý nghĩa gì với tôi.


Tuy nhiên, lục tuần chưa thể kêu là già được. Phần anh, anh vẫn trẻ – sự sống động ấy bàng bạc trong văn anh, trên báo cũng như trong sách. Tinh thần mạnh luôn luôn, văn pháp trẻ trung luôn. Tôi thì không còn được thế nữa rồi. Tôi vẫn phong phú trong lãnh vực sáng tác văn nghệ, nhưng viết gì? Viết để làm gì? Mà viết cho ai?


Một bài báo, kể cả một cuốn sách nữa, thêm ra hay kém đi cũng chẳng làm cho ta nổi tiếng hơn, mà cũng chẳng làm giảm bớt được một chút nào.


Nếu bây giờ sự nghiệp của tôi đột nhiên bị tiêu ma, tôi cũng thản nhiên như thường.


* * *


Đối với một người, có phải như thế thì nguy hiểm lắm, phải không bạn hiền?(1)


Người ta mà đến lúc không còn một chút ham muốn say sưa nào nữa thì nhàm quá đi – người ta có thể tiếp nhận cái chết với rất nhiều, rất nhiều dửng dưng. Phải mà! Tôi đã cầu xin Trời Phật một điều: nếu phải chết, xin cho chết lẹ! Đó, tôi chỉ cầu xin có thế thôi.


Để cho đỡ đau ốm phần nào, tôi đã tập một thứ yoga – mà không biết đó có phải là kết quả bất khả không có cách gì tránh nổi, phải không anh? Này, anh này. Tôi nhận thấy thế này: người đỡ đau khổ vì vấn đề nhu cầu, nhưng trái lại, tôi chẳng thấy có cái gì quan hệ cả, chẳng cái gì nói lên được điều gì!


Thuốc phiện làm cho người ta say mê đắm đuối, ấy thế mà cả thuốc phiện đối với tôi cũng chẳng quyến rũ chút nào. Một giọt thuốc nâu pha vào chén nước làm cho lòng tôi dìu dịu đi – thế là xong. Tôi không còn thấy sự thích thú của ba năm trước đây nữa.


Thế là sao? Anh nghĩ về trường hợp của tôi ra thế nào?


* * *


Anh có nhận được “bức thư thay lời tựa” của tôi chưa?(2). Như vậy có được không? Anh muốn làm gì, tùy ý. Anh có thể đem dùng, bỏ đi, thêm vài dòng hay vài đoạn nẩy ra ở trong trí óc anh hay xóa bỏ những câu mà anh cho là không vừa ý. Tóm lại, anh hoàn toàn tự do làm gì thì làm.


* * *


Tôi cũng có một cái buồn nho nhỏ. Chuyện chẳng ra cái chết gì mà cũng thành ra… Mỗi người quan niệm sự đời một cách. Kỳ cục chưa! Buồn cười chưa!(3)


Này anh Vũ Bằng!(4) Ở Âu châu, có nhiều văn gia in thư từ của họ trao đổi cho nhau. Thí dụ: Thư tín trao đổi giữa Gide và Valéry, trong đó nói về đủ mọi thứ: phê bình, ký sự, truyện ký, ý kiến trao đổi giữa hai bên.


Ở nước ta, khó làm được công việc đó, phải không anh? Nếu bất ngờ có một nhà xuất bản nào (trên khía cạnh thương mại thì hình như không kiếm được phải không?) chúng ta sẽ cùng soạn với nhau một cuốn sách chừng hai trăm trang, lấy nhan đề là Thư tín trao đổi giữa Vũ Bằng – Tam Ích – viết bằng tiếng Việt, cố nhiên sách đó sẽ lấy tít giản dị là:


THƯ GIỮA VŨ BẰNG và TAM ÍCH


và chúng ta sẽ đấu láo với nhau. Cô vọng ngôn chi cô thinh chi.(1)


* * *


Gần đây, anh cho tôi biết anh sẽ viết một bộ (hai hay ba bốn tập gì đó) đề là Chuyện nhà văn hay là Nhà văn lắm chuyện.


Anh có nhớ rằng anh đã nói với tôi: “Tôi nói về anh khá nhiều trong sách đó”.


Vậy bây giờ, tôi xin anh một điều, anh Vũ Bằng: anh đừng nhắc lại bất cứ sự việc gì liên quan đến tôi khả dĩ làm cho người ta thù oán. Đời tôi, muốn có một kẻ thù quy mô về tinh thần hơn là thù lây oán chạ với những văn sỡi(2) không tự biết sự thấp kém của mình, nhưng lại mang trong bụng một lòng tự ái còn nặng hơn cả thân thể họ.


Không có kẻ tiểu nhân nào tồi tệ bằng một người trí thức mèng. (Tôi đã làm cái thí nghiệm đau đớn ấy không biết bao nhiêu lần!).


Tuổi tác giúp người ta một việc tốt, bạn ạ: đó là lòng dung thứ.


* * *


Tôi cố gắng tinh giảm số kẻ thù – của tôi – nếu có kẻ thù. Đây, tôi nói cho anh biết tại sao:


Từ khi ở tù ra, nhỡn quan của tôi đối với việc đời thay đổi nhiều. Trước đây, khoảng từ 1964 đến 1965, thiên hạ đã đổ lên đầu tôi rất nhiều danh từ xấu xa: tự phụ, làm phách, lớn tiếng… thế này thế nọ.


Bây giờ, xấp xỉ sáu mươi tuổi rồi, tôi cố tìm cách “gỡ tôi” – ấy là chưa kể – như tôi đã tâm sự với anh – chưa kể rằng tù ngục và những đau khổ tinh thần đã thay đổi tôi hoàn toàn!


Bây giờ tôi hết sức thiết tha đến tình ưu ái và lòng dung thứ. Tôi cũng nhận thấy có cái gì giông giống như thế ở trong con người anh: cái đó bàng bạc trong những tác phẩm và các bài văn anh viết. Và tôi tự nhủ rằng đó cũng là một thứ khôn ngoan, có phải thế không anh? (Khi người ta lớn tuổi – đời anh cũng như đời tôi lận đận lao đao quá rồi: xáo động quá nhiều, thăng trầm quá nhiều, mà hiểu lầm mình và vân vân, vân vân… cũng quá nhiều!).


* * *


Còn cái anh khỉ gió Vương Văn Bách bây giờ ra sao? Anh ấy là một người bạn quý. Tôi nghĩ đến anh ấy nhiều. Anh nói với anh ấy như vậy giùm tôi.


(tiếp theo)


Chào tái ngộ.


Bạn: Tam Ích


* * *


Sau lá thư này, Tam Ích không gửi tiếp vì mấy lẽ:


1) Anh cùng tôi viết bài cho mấy tờ hàng ngày và tạp chí.


2) Chúng tôi chia nhau với mấy người bạn khác soạn một cuốn “Từ điển Việt Nam”.


3) Anh viết xã luận cho một tờ hàng ngày.


Mãi đến tháng Chạp, tôi mới lại nhận được thư sau:


Thư đề ngày 18 tháng Chạp 1971


Anh Bằng


Anh còn nhớ có một hôm đã lâu, anh hỏi tôi có còn viết cho nhật báo T.B không. Tôi nói không là vì bẵng đi năm hôm không thấy họ cho người lại lấy bài(1). Tôi cho là báo ngưng.


Nhưng rồi ra lại.


Ngay cái chiều mà anh Bách nhắn tôi viết bài về cuốn sách của bạn anh thì hai bên chúng tôi có cuộc “nói chuyện”. Và tôi thôi viết hẳn cho T.B từ chiều hôm đó. Sự ngẫu hợp lạ lùng!


Vậy anh nói giùm với anh Bách là tôi sẽ viết và đăng báo khác.


* * *


Tội nghiệp Chu Tử có người con chết.


* * *


À, có một chi tiết nói với anh. Là trong bài về “Nguyễn Triệu Luật” khi viết về Hoàng Lê nhất thống chí, tôi đề tác giả là Phan Huy Chú hay Phan Huy Ích là sai. Xin anh sửa cho là Ngô Thời Chí.


Trong bài, tôi ỷ vào tình thân mật rồi nói suồng sã cái “nuance” trịch thượng. Nếu có thế thật, đối với anh, thì xin anh toàn quyền sửa chữa, sao cho gọn thì thôi.


Phóng bút cũng có đôi khi viết tào lao.(2)


Thân mến


Tam Ích  


* * *


Bẵng đi mấy ngày, tôi không gặp anh. Đến ngày 26 tháng Chạp, anh mới lại gặp tôi sau khi anh đi dạy học ở trường Pasteur về. Tôi trao cho anh một bức thư do bác sĩ Hoàng Văn Đức biên tập tạp chí Đông Phương gửi cho anh. Tam Ích đọc xong, không nói gì. Chiều ngày 29, anh đem đến Văn Học một bức thư dán kín (các thư trước đều gửi qua nhà bưu điện) viết khác hẳn các thư trước đây, nghĩa là rất ngắn (sau này xét lại thì bức thư này viết sau bức thư anh viết cho các nhà chức trách nói rằng anh tự ý chết, nhà chức trách khỏi phải điều tra, giảo nghiệm).


 


Thư đề ngày 29 tháng Chạp 1971


Anh Bằng thân mến,


Tôi vừa nhận được một bức thư của một anh bạn bác sĩ bảo điền vào một bản khai lý lịch.


Theo anh bạn thì “đứng trên cương vị nhà văn, tôi mắc một món nợ với độc giả, hoặc bằng cách này, hoặc bằng cách khác, muốn hiểu rõ tôi hơn”. Anh bạn lại viết thêm rằng “nếu tôi không cho họ biết thì rồi họ sẽ phải đọc những tài liệu lầm lạc về tôi và cái nghiệp của tôi sẽ bị hiểu lầm thêm nữa”.


Vì tôi mắc bận và một ngày rất gần đây sẽ phải đi xa khỏi Sài Gòn, tôi nhờ anh điền vào tờ khai lý lịch giùm tôi – nếu anh thấy nên làm - bởi vì anh là người bạn hiểu tôi rất nhiều.


Tờ khai lý lịch ấy như sau:


“Để giúp…(1) giới thiệu các tác giả (viết bài cho báo) như xưa nay trên thế giới các tạp chí vẫn làm, xin ông vui lòng dán ảnh và ghi vào đây những điều mà độc giả mong mỏi được biết về ông.


Bút hiệu tác giả: ………………………………………………………….     


Họ tên: …………………………………………………………………………….       


Trú quán: ………………………………………………………………………..          


Năm sinh: ………………………………………………………………………..         


Văn bằng (nếu tiện) và nghề nghiệp: ………………….


Tiểu sử tác giả: …………………………………………………………….   


Từ ngày 30 tháng Chạp 1971 (Dương lịch) đến ngày 4 tháng Giêng 1972, tôi chỉ gặp Tam Ích thêm một lần. Khác những lần gặp trước, lần này, anh có vẻ tươi hơn và có vẻ mạnh hơn. Nhưng chúng tôi không trò chuyện được với nhau lâu “ở cái quán cóc quen thuộc” vì hôm đó có hơn mười anh em tề tựu để nói về các vấn đề thời sự văn nghệ.


Uống cạn một ly hồng trà, Tam Ích chắp tay vái mọi người, cười ha hả rồi đi về phía Ngã Sáu. Anh cũng không hỏi tôi đã điền vào bảng kê khai lý lịch của ông chủ báo bạn anh chưa.


Vì bận rộn mưu sinh, tôi chưa làm được cái công việc anh giao phó thì sáng mùng 6 tháng Giêng Dương lịch năm 1972, bạn Phạm Trần, rồi tới giáo sư Nguyễn Quý Hùng, đến Quán Cóc nói trên, báo cho tất cả anh em biết là anh Tam Ích đã qua đời rồi.


Tất cả anh em ở đấy đều bưng mặt khóc – mà những bạn “giang hồ” nhất, “chai” nhất, lại khóc trước nhất, nhiều nhất, nghẹn ngào nhất, ấm ức không nói được lên lời. Tôi cũng khóc, và ngay lúc ấy tôi hiểu tại sao Tam Ích lại lấy cớ đi xa khỏi Sài Gòn, nhờ tôi điền vào bản kê khai lý lịch ông chủ nhiệm tờ tạp chí nói trên gửi cho anh vào một ngày cuối năm 1971.


 


Văn Học số 145 (1-4-1972)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Tất cả thư từ của Tam Ích gửi cho Vũ Bằng đều viết bằng tiếng Pháp, Vũ Bằng dịch. Nguyên văn của Tam Ích như sau: “Êtes vous gueux? Mai, je le suis”, tạm dịch là “rách”, xin đợi các bậc cao minh sửa chữa.




(1) Nghiệp (Karma): Danh từ Phật giáo chỉ duyên kiếp có sẵn từ trước (Chú thích của dịch giả).




(2) Đây là đa ch trường anh dy hc.




(3) Nguyên văn: Vous allez dire cella, Cher anh Vũ Bng.




(1) Nguyên văn: C’est simple comme boujour.




(2) Nhng ch gch chân là ca Tam Ích trong thư ch Pháp.




(1) Nguyên văn: C’est énormément couricux.




(2) Nguyên văn: Pas vrai, mon cher vieux?




(3) Bc thư này viết sau khi tôi nhn được ca Tam Ích mt món quà đáng giá. Gp Tam Ích, tôi tr li, ly c anh cũng nghèo, nhưng Tam Ích không chu, bt tôi phi nhn.




(1) Chú thích của dịch giả: Hồi tháng 5 năm 1971, anh Tam Ích kêu mệt mỏi, nhức đầu luôn và không ăn được. Các bác sĩ bạn đều khuyên anh đến phòng mạch chữa chạy cho anh. Anh nấn ná không đến. Anh Vương Bách thúc giục anh dữ lắm, anh mới chịu đi đến bịnh viện Bình Dân khám bịnh. Xét quả tim, phổi, thận… anh đều tốt, không căng máu, không thiếu máu. Các bạn trong bịnh viện Bình Dân tận tâm chích thuốc và vô nước biển cho anh.




(2) Tam Ích có một cái sợ là văn viết trên báo có nhiều chữ sai lầm không sửa kỹ làm cho lắm đoạn văn chương thành ngớ ngẩn, vô nghĩa, tức cười. Anh thường nhờ tôi xem lại giúp để cho đỡ sai lầm.




(1) Nguyên văn: My dear.




(2) Tam Ích có đề tựa cho hai cuốn sách của tôi: Nói có sách do Nguyễn Đình Vượng xuất bản và Nhà văn lắm chuyện do Nhân Văn xuất bản.




(3) Đoạn này nói về gia đình.




(4) Nguyên văn: Ecoute, anh  Vũ Bằng!




(1) Nguyên văn của Tam Ích. Nhắc lại một câu thơ đề trên đầu tập Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh.




(2) Nguyên văn: écrevassiers.




(1) Những chữ gạch chân do anh Tam Ích gạch.




(2) Trước khi mất, anh Tam Ích có đưa cho tôi mấy bài mà tôi nhờ anh viết. Trong số đó có bài Phê bình Nguyễn Triệu Luật. Bức thư trên đây nói về bài báo đó.




(1) Tên t báo.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »