tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20520100
10.10.2012
Vũ Bằng
Tìm hiểu nguồn gốc các tên hiệu

Vấn đề tìm hiểu nguồn gốc tên người và các bút hiệu đã trở thành một môn học riêng ở Tây phương và được kêu là anthro-ponymie(1). ở Đông phương, môn học này chưa có hoặc là chưa được mấy khi đề cập.


Bàn về cái tên người, sách Đất lề quê thói của ông Nhất Thanh, chỉ có một bảng kê khai các họ theo thứ tự A, B, C, gồm chừng một trăm họ. Bảng kê khai đó căn cứ ở sách sử và những ấn bản Đại Việt lịch triều đăng khoa, Đăng khoa bị khảo... ở nhiều quyển sổ đinh từ hiệu Gia Long, ở các nhật báo, các danh sách thí sinh có cấp bằng....


 Nói riêng ở Pháp, công việc tìm hiểu nguồn gốc họ và tên người đã được nhiều nhà khảo cứu tìm hiểu từ nhiều năm nay, như Mabillon (1681), E. Salverte (1824) và gần đây nhất là G.A. La Roque (1901), P. Chapuy (1934).


Họ và tên người Pháp


Khi một đứa trẻ ra đời ở Pháp nó mang hai tên: một cái tên ông bà tức là tên theo pháp lý của cha mẹ, bà con thân thích (nom de famille) và một hay nhiều tên họ mà người ta tự ý chọn (prénom). Cả hai cái tên đó hiện nay không có ý nghĩa rõ rệt: đó chỉ là những cái “nhãn” không liên quan đến vóc dáng, đến tính tình, đến tâm hồn của đứa trẻ mà cũng không liên hệ gì đến trường hợp sinh ra nó.


Nhưng cái tên ông bà, hiện nay truyền từ đời nọ sang đời kia, đã được một ông tổ nào đó ở trong họ trước đây đã mang rồi. Còn cái tên họ thì thường là tên một nhân vật lịch sử. Do đó công việc nghiên cứu tên ông bà và tên họ đòi hỏi phải tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử.


Muốn tìm được ông tổ đầu tiên mang cái tên ông bà hiện nay, cần phải tìm đến ngọn nguồn, nghĩa là từ thời kỳ mà pháp luật chưa bắt mỗi người phải có một cái tên. Muốn hiểu tại sao người ta lại lấy một cái họ. Cần phải biết rõ khuynh hướng của từng thời đại, bởi vì việc chọn lựa một cái họ gắn liền với một cái “mốt” thay đổi tùy theo từng thế kỷ (thí dụ: dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm có người họ Phạm xin đổi họ ra là Ngô).


Công việc kế tiếp tên họ hiện nay có nhiều khi không thực hiện theo đúng sự bắt buộc của pháp luật. Người ta có thể lấy một cái họ khác hẳn cái họ ghi trong sổ bộ lục mới sanh; trên một giấy tờ chánh thức, người ta lại có thể ghi thêm một cái họ bên cạnh cái họ chính thức, với điều kiện là ghi chú "tự hay tức": Auguste tức Léon, Emilia tự Valéria. Tên ông bà cũng có thể thay đổi được: như Belin đổi ra Blin, hoặc đổi ra một tên họ nữa.


Tên hiệu của người Âu có một ý nghĩa hơi khác tên hiệu người á(1)


Như Vũ Bằng đã nói trong bài "ý nghĩa của cái tên người", ở nước ta thường thường nhà văn có tên hiệu, nhưng người làm nghề khác cũng vẫn có quyền lấy tên hiệu để cho người ta khỏi lầm lẫn với người khác. Đó là trường hợp của những nhà buôn lấy hiệu là "Thái Thạch", "Quảng Thành", "Đức Duy", "Tài Tiến", "Cà phê Hoa Sim", các xưởng máy, các công ty xuất nhập cảng hay cả các trường học nữa.


Các tên hiệu này đặt theo một lề lối tự do, không bắt buộc và có thể thay đổi tùy theo sở thích. Có cái tên rất nghiêm trang như "Liên á Đông Phương", có cái tên trào lộng, như "quán Mụ Béo, tiệm Ba Mập, quán Lai Rai, nhà hàng Tư Hổ". Những tên hiệu đó có thể thay dổi, như trước là quán Ba Mập sau đổi ra là Ba Sún Răng, nhà hàng Kim Chi sau đổi ra là Thanh Điệp, hiệu sơn Con Khỉ sau đổi ra là hiệu Con Chồn. Nhưng cũng có những cái hiệu bất di bất dịch, truyền từ đời ông đến đời cha sang đến đời cháu, có tính cách "gia truyền" như: Công ty Trương Văn Bền và các con, Quảng An Hòa con, hội buôn Ismael và các cháu...


Các tên hiệu này dù nhất thời hay gia truyền đều có tính cách làm lu mờ tên thật của người ta. Vì thế ta vẫn nói: "Đi tìm ông Cự Chung đánh mạt chược đi" hay "Bà Béo vừa bị bắt bạc". Do đó thời Trung Cổ ở Pháp, có câu cách ngôn: "Au sornon quonoist l'en l'ome" nghĩa là "Người ta có thể nhận ra mỗi người qua cái hiệu".


Thêm một chữ bút để phân biệt hiệu của các văn thi sĩ và ký giả


Những cái tên hiệu vừa kể trên chỉ là để cho người ta dễ phân biệt người này với người kia cho khỏi lầm.


Hiệu của các nhà văn, thơ, ký giả, có hơi khác một chút. Các nhà văn, thơ, ký giả, ngoài cái ý định phân biệt với người khác, còn muốn nhờ cái hiệu để nói lên hoài bão, ý chí, đặc điểm của mình. Vì thế, người ta thường đặt ở trên chữ hiệu của các nhà văn, thơ, ký giả, chữ "bút", gọi gộp lại là "bút hiệu".


Phân loại các bút hiệu của các văn thi sĩ, ký giả


ở các nước Âu châu, người ta đã phân loại các bút hiệu của các nhà văn, thơ, ký giả (1). ở nước ta, trước đây, Tiểu Thuyết Thứ Bảy cũng có một loạt bài nói về bút hiệu các nhà văn đương thời, nhưng chưa có một loạt bài nào nghiên cứu về các bút hiệu của các văn, thi sĩ và ký giả.


Chúng tôi đánh bạo làm công việc đó dưới đây và mong rằng sẽ được các bạn đọc bốn phương chỉ bảo và bổ túc.


Theo chúng tôi, các văn nhân, thi sĩ và ký giả đặt bút hiệu đều có ngụ nhiều ý nghĩa, nhưng đại loại thì có những phân loại như sau:


1, Bút hiệu xuất phát từ đặc điểm vật chất hay tinh thần. Một phóng viên của báo "Noir et blanc" lấy bút hiệu là Bouerbis (nghĩa là con cừu) chỉ vì tính anh ta hiền như con cừu; Jean Loup là vì anh ta dữ mà tính tình kín đáo, còn Querqui ở báo "Figaro" là chữ rút ngắn của thổ ngữ querquillard nghĩa là hay sanh sự, ba gai. Nhà văn lão thành Doãn Kế Thiện lấy hiệu là Bất ác nói lên được hai ý nghĩa: bất ác nghĩa là Thiện, mà bất ác còn là tính tình của ông vì ông hiền như bụt, ai nói chọc mấy cũng chỉ toét miệng ra cười trừ. Đó còn là trường hợp của Nguyễn Văn Cự, tức Cự Điếc, bỉnh bút của báo Liên hiệp lấy hiệu là Khóa Chữ (vì không ai hiểu tính tình anh), Bùi Huy Sinh lấy hiệu là Địa Quỷ, Thiên Tinh (vì anh ta phá không ai chịu nổi), Nguyễn Như Hoàn lấy hiệu là Đình Dù (vì anh ta dớ dẩn), Tạ Mạnh Khải lấy hiệu là Cuồng Sỹ (nghĩa là người Cuồng nước Sở, nhưng chính anh cũng điên điên khùng khùng vì vừa nghiền rượu vừa nghiền a phiến).


2, Bút hiệu nhắc nhở đến nguồn gốc địa lý. Ký giả Pháp Le Belge dùng bút hiệu đó vì là người Bỉ (Belgique); Le Braulé xuất xứ ở Braux, còn một người ký tên là Le Russe là để nhắc nhở rằng trước kia ông ta đã đánh trận Grimée, ngoài ra lại để một bộ râu bồm sồm, một bộ râu loàm soàm giống như một bần cố nông Nga.


ở nước ta, nhiều nhà văn cũng lấy địa lý để đặt bút hiệu: Ngô Hoan lấy bút hiệu là Thanh Châu (vì anh sinh quán ở Thanh Hoá), Tản Đà là bút hiệu của Nguyễn Khắc Hiếu (vì ông gốc ở Sơn Tây có sông Đà và núi Tản), quê Ngô Tất Tố ở Bắc Ninh có sông Côi bèn lấy bút hiệu là Côi Giang. Ký giả Hồ Khắc Tráng lấy bút hiệu là Hồng Lam để nhắc nhở đến một ngọn núi và một trái núi của quê hương mình, Phạm Quỳnh quê ở Lương Đường (Hải Dương) lấy bút hiệu là Lương Đường (bút tự là Thượng Chi), Dương Phượng Dực cố tổng thư ký tòa soạn báo Trung Bắc Tân Văn lấy bút hiệu là Đông Lĩnh để ghi nhớ trái núi ở quê hương mình, Vũ Hoàng Chương lấy bút hiệu Phù Giang (vì anh là người làng Phù ủng, Hưng Yên); Tô Hoài (vì anh ở Bưởi trông ra sông Tô Lịch).


3, Bút hiệu đảo lộn những chữ trong tên thật. Khái Hưng là những chữ đảo lộn của tên thật là Khánh Giư (Trần Khánh Giư). Nguyễn Tuân ngoài bút hiệu Nhất Lang còn một bút hiệu nữa mà ít người được biết: Âu Nguyễn Tu, Lê Bái tức nhà thơ Thanh Tùng Tử ký một bút hiệu hợp với thời đó nhưng đời sau cho là lố lỉnh: J.Leiba. Còn Vũ Đình Tường lấy bút hiệu Tương Huyền là vì Tương đánh dấu huyền là Tường, Nguyễn Thứ Lễ lấy bút hiệu Thế Lữ là do chữ Thứ Lễ đảo đi đảo lại.


Tôi nói "hợp với thời đó" vì thuở ấy có cái phong trào "lấy tên Tây": Tchya, bút hiệu của nhà văn Đái Đức Tuấn gồm mấy chữ đầu của câu: "Tôi chẳng yêu ai" hay "Tôi chỉ yêu Angèle"; Ngym là "Người yêu Mợ", Uicro là bút hiệu của Bùi Xuân Như, phụ trách trang chiếu bóng của nhật báo Ngọ báo, Prerre Đỗ Đình là bút hiệu của Đỗ Đình Thạch. Không hiểu bút hiệu Lô Răng của ký giả phụ trách mục Tạp ghi trên tờ Tiền tuyến bây giờ có phải là tàn dư phong trào đó hay không, nhưng đọc lên nghe cũng có vẻ Tây hết sức.


4, Bút hiệu bắt nguồn từ tên một nhân vật mà mình ưa thích, thương mến, hay kính trọng: Vũ Trọng Phụng lấy bút hiệu là Thiên Hư nhưng trong những bài báo đả kích chế độ thời đó hay bút chiến với nhóm Phong hóa - Ngày nay thường ký một bút hiệu mà ít người biết: X.T.Đ.


X.T.Đ là Xuân Tóc Đỏ. Anh lấy bút hiệu ấy vì hai lẽ: một, anh cho mình bất quá cũng chỉ là một thứ Xuân Tóc Đỏ gặp may mà nổi tiếng; hai là tình cờ Số đỏ nổi tiếng, Xuân Tóc Đỏ thành ra một "nhân vật ra gì" (quelqu'un) nên anh lấy ngay tên Xuân Tóc Đỏ làm một trong các bút hiệu của anh và lấy thế làm thú vị.


Nhiều nhà văn nhà thơ khác lấy tên vợ, tên con, tên cháu làm bút hiệu: Vũ Tường Khanh là tên một đứa cháu gái của nhà văn Vũ Bằng, cũng như Vũ Lăng, Vũ Bá, Vũ Hầu là con; Hồng Hải là tên con của ký giả kiêm văn sĩ Cung Mạnh Đạt; nhà văn nổi tiếng về hai cuốn văn học sử Hoàng Trọng Miên lấy bút hiệu là Hoàng Thu Đông cũng không ngoài lẽ đó: Thu là tên người con gái đầu lòng của anh (đã mất) còn Đông là tên người con trai (sinh vào mùa đông, thêm một lẽ nữa là lúc đó có phong trào quyên biđông cho quân đội, sống đã "bi" mà nhà lại đông bạn hữu đến ở trong khi tiền hết).


Hoàng Ly, tác giả nổi tiếng các truyện ma, tên thật là Đỗ Hồng Nghi, lấy bút hiệu chính là Trương Linh Tử, không phải vì con vì cháu, nhưng vì cảm phục một nhân vật Tàu là Trương Lương, nổi tiếng về tiếng địch thời Chiến Quốc mà cũng là người biết nhập thế và xuất thế đúng giờ đúng giấc. Sau này anh đổi bút hiệu ra là Hoàng Ly, vì mấy lẽ sau đây: đời anh giăng mắc nhiều ly biệt quá; hoàng là hoàng oanh, ly là con ly (long ly qui phượng) hai giống đó xuất hiện thì có thánh nhân ra đời, thiên hạ thái bình no ấm. Phạm Mạnh Kha, tác giả truyện dài Đôi vợ chồng, ký giả Việt báo lấy hiệu Kinh Kha cũng không ngoài lý do cảm mến Kinh Kha đời Tần bên Tầu.


5, Bút hiệu bắt nguồn từ nghề nghiệp hay chức vụ. ở Âu châu có nhiều văn nhân ký giả lấy bút hiệu xuất phát từ nghề nghiệp, như Môché (chính là mouchier) lấy bút hiệu đó là vì nghề chính của ông là nuôi ong (thổ ngữ là môché è mié, mouche à miel). ở nước ta, những bút hiệu bắt nguồn từ nghề nghiệp tương tối ít. Cố nhớ tôi chỉ nhớ có Văn Tứ lấy bút hiệu là Đội Tứ (bỉnh bút kiêm phóng viên Việt báo của Bùi Xuân Học) vì anh đóng đội.


6, Bút hiệu bắt nguồn từ chữ Pháp được Việt Nam hóa. Trong thời kỳ Nhật đến Đông Dương và dưới thời ông Ngô Đình Diệm nhiều người Việt quốc tịch Pháp, cũng như nhiều người Pháp lại phải đổi tên Việt Nam. René Candelon, viết báo Việt Nam, lấy bút hiệu là Chương Đắc Long (phiên âm lơ lớ chữ Candelon), Boué Lahorgue lấy bút hiệu là Lã Hồng Cơ. Còn Antoine Vensel (trợ bút báo Dân chúng dưới thời Ngô Đình Diệm), tác giả truyện dài Con ma nhà chú Hỏa (mà bây giờ còn nhiều người nhắc tới nhân đô thành vừa chiếu một phim mà cốt truyện gần đúng in như thế, phim Con ma nhà họ Hứa) thì lấy bút hiệu là Văn Sen, (tội nghiệp bây giờ đã ra người thiên cổ, không được đi coi phim Con ma nhà họ Hứa).


7, Bút hiệu bắt nguồn từ các ngôi sao trong tử vi. Tôi không thấy mấy nhà văn nhà thơ Âu Tây lấy bút hiệu theo cách này, nhưng các nhà thơ, văn Việt thì tương đối nhiều: Thái Bạch, là tên một vì sao, là bút hiệu của nhà văn kiêm ký giả Phạm Văn Giao; Vũ Trọng Phụng lấy bút hiệu là Thiên Hư cũng là tên một vì sao chiếu mệnh anh (Thiên Hư, Thiên Khốc). Kẻ viết bài này lấy bút hiệu Thiên Tướng chỉ vì lẽ mệnh lập tại Thìn; có tử vi Thiên Tướng. Rồi do chữ Thiên đó, bao nhiêu sao có chữ Thiên đều được đem dùng làm bút hiệu: Thiên Phủ, Thiên Không, Thiên Mã (mặc dầu nhiều khi bút hiệu đó không có ý nghĩa gì hết). ở đây, có ký giả ký tên là Thái Dương, Hoa Cái không biết có phải vì lẽ vừa nêu trên không, nhưng dù sao cũng nên biết Thái Dương, Hoa Cái là hai ngôi sao trong tử vi.


8, Những bút hiệu phát sinh vì thời cuộc hay vì thời cơ. Những bút hiệu như Tám Sác Ne của Cát Hữu, Bút Nguyên Tử của Nguyễn Văn Cư tức Cư Điếc, Thánh Sống của Trương Linh Tử phát sinh từ thời cuộc hay vì thời cơ.


Ký tên những bài giải đáp khó khăn cho độc giả báo Liên hiệp, Trương Linh Tử ký bút hiệu là Thánh Sống để tỏ rằng mình giải đáp tâm sự đúng phong phóc như thánh vậy. Cũng nên nhớ rằng ta có câu "nói vanh vách như thánh sống”.


Tám Sác Ne là bút hiệu của Cát Hữu ký dưới những bức tranh hay những bài trào lộng viết trên tờ Dân chúng. Sở dĩ lấy bút hiệu đó là vì theo thói tục miền Nam, người ta thường gọi với nhau là anh Ba, anh Bảy, cô Ba, chị Tư, còn Sác Ne là con đường đông đảo nhất và vui nhất lúc mới bắt đầu phong trào di cư.


Còn Bút Nguyên Tử - xuất hiện trước khi ông Dương Tấn Trương lấy bút hiệu Triệu Nguyên Tử ký dưới những bài "Gẫm cười hai chữ nhân tình" bắt đầu từ báo Dân chúng - thì nguyên do lúc đó mới bắt đầu có vấn đề nguyên tử, mà đi đầu thời đại nguyên tử là cây bút nguyên tử(1) ta dùng hiện nay để viết, bây giờ rất tầm thường nhưng đối với lúc đó thì rất lạ vì bút quái bút quỷ gì không cần chấm mực mà cứ viết được hoài được hủy.


9, Những bút hiệu bắt nguồn từ sự bắt chước nhau. Sau khi Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật được giải nhất của hội Khai Trí Tiến Đức về cuốn truyện Quả dưa đỏ, nẩy lên một phong trào lấy bút hiệu có chữ "tử", Thanh Tùng Tử (bút hiệu của Lê Bái), Thanh Tử (bút hiệu của Nguyễn Văn Lưu), Thu Tâm Tử, Hoài Nam Tử, Cồ Việt Tử. Sau đó ít lâu, lại có phong trào bắt chước người Nhật, bút hiệu có chữ lang: Nhị Lang là bút hiệu của Dương Mầu Ngọc (còn bút hiệu nữa là Ngọc Thỏ), Tam Lang, bút hiệu của Vũ Đình Chí, Tứ Lang, Ngũ Lang, Thất Lang, Hoài Điệp Thứ Lang, thôi thì chẳng còn thiếu lang gì cả! Thập Lang là bút hiệu của Dương Tự Giáp, bỉnh bút của báo Văn hóa (ông lấy bút hiệu Thập Lang còn vì lẽ ông là con thứ mười).


Sau đó một thời gian Nguyễn Tường Tam lấy bút hiệu Nhất Linh, Khánh Giư lấy bút hiệu Nhị Linh, Nguyễn Tường Long lấy bút hiệu Tứ Linh cũng là bắt chước nhau để tỏ ra cùng một nhóm.


Cũng thuộc vào loại này, ta không thể quên được những bút hiệu bắt đầu bằng chữ "tú" có một thời rất phồn thịnh trong làng thơ: bắt đầu là Tú Xương rồi đến Tú Mỡ, Tú Sơn, Tú Dua, Tú Phe, Tú Nạc... Sau đó ít lâu, nổi lên phong trào lấy bút hiệu bắt đầu bằng chữ "trạng": Trạng Đớp, Trạng Hít. Chữ "cử" như Cử Đỉnh, Cử Tạ hay Đồ Như, Đồ Tố, Đồ Nam, Đồ Phồn (tên thật là Bùi Huy Phồn).


10, Những bút hiệu bắt nguồn từ một kỷ niệm hay một sự việc gì xảy ra lúc còn thơ ấu. ở Pháp, báo "Annales" có một nhà viết phim ký tên Mimiche. Sở dĩ có cái bút hiệu ấy là vì lúc bé ông này được một góa phụ ở Balê kêu như thế. Lớn lên ông ta giữ cái tên đó ký trên báo để nhớ đến bà mẹ nuôi, rồi con ông ta ký là "Mimiche con" (Mimiche fills).


Mâma tên thật là Thomas, nhưng giữ bút hiệu đó cho đến chết là để tưởng nhớ đến bà mẹ ông, vẫn kêu ông là "mon p'tio Mâma". Còn Jean Sâle thì một hôm kia ôm đại một cô bạn để hôn, cô bạn nói: "Chao ôi, Jean, tay mày dơ quá" (sale là dơ). Bè bạn kêu anh là thằng Sale. Sau này viết sách, anh ta ký là Jean Sâle, mặc dầu anh ta rất sạch sẽ.


Văn Thu, tên thật là Nguyễn Văn Điển, một nhà văn hợp tác với nhiều báo ở Bắc Việt trước hiệp định Genève, bây giờ còn được nhiều người biết vì hai cuốn Đảng Hắc Long Hóa Châu nghĩa sĩ, lấy bút hiệu nói trên để ghi lại một cái tên thời nhỏ mà người nhà quen gọi anh là Thu lớn, còn em anh là Thu con. Tôi không nhớ được rành mạch lắm, nhưng Lan Khai lúc ở Tuyên Quang về làm tờ Loa của Bùi Xuân Học, ở trên gác nhà tôi, dường như có một lúc đã nói rằng tên thật anh là Cốt, nhưng anh không dùng tên ấy, cứ lấy bút hiệu là Lan Khai vì ông cụ sanh ra anh đã đặt cái bút hiệu ấy cho anh. Anh ký bút hiệu ấy để luôn luôn ghi nhớ đến người cha đã khuất.


11, Những bút hiệu lấy vì một sự tình cờ hoặc vì thích thú nhất thời, mà chẳng có lý do gì hết. Một người vợ bạn tôi viết báo trong Nam trong thời kỳ Pháp thuộc lấy bút hiệu là Thu Tâm, chỉ vì một hôm đọc Tuyết Hồng lệ sử chị thấy một câu: "Chữ thu ai để lên đè chữ tâm". Thu ở trên chữ tâm là chữ sầu. Lúc đó có phong trào lãng mạn, ai cũng thích sầu, thế là chị lấy bút hiệu đó, và giữ cho đến chết không thay đổi.


Mặt khác, tôi lại còn một bạn thơ tên là Trần Độ. Vì vấn đề động viên, anh phải "lánh nạn" sang Campuchia, và tại đây anh xin làm căn cước giả. Người làm căn cước giả không kịp hỏi tên viết bừa là Lê Nguyên tự Lý Trình. Thế là từ đó Trần Độ thành ra Lý Trình và bao nhiêu văn thơ anh sáng tác sau đó đều mang bút hiệu Lý Trình. Hỏi tại sao anh lại lấy bút hiệu đó, anh cười tủm và thú thực chính anh cũng không biết tại sao anh lại lấy hai chữ "Lý Trình" làm bút hiệu.


Trong loại này, tôi còn nhớ đến bút hiệu Hoàng Tùng của Song An Hoàng Ngọc Phách, tác giả Tố Tâm, bút hiệu Bất Lệch của Hoa Bằng Đỗ Thúc Trâm, bút hiệu Văn Tôi của Hoàng Tích Chu, bút hiệu Hif Đinhf Nguyễn Văn Tôi của cụ tú Nguyễn Đỗ Mục... bút hiệu Cô Ngã (ngửa) của Vũ Bằng lúc chủ trương tờ Vịt đực.


12, Bút hiệu phát sinh từ những đặc điểm trong tiếng nói hay từ những thói quen. ở Pháp có một người tên là Brota có người vợ ưa dùng thổ ngữ "brôte" là một từ có vẻ quê. Dân trong vùng kêu bà ta là bà Brôte và chồng bà là Brôta (chính thực ông là Brôtard).


Odiche tên thực là Auguste, nhưng em gái ông nói ngọng lại kêu là Odiche thành ra ông có bút hiệu Odiche.


Toupoul hãy còn nhỏ lúc thành Sébastopol bị bao vây. Anh ngọng kêu là thành Toupoul, thành ra có sước hiệu là Toupoul.


Capote đánh bài thường có thói quen reo lên: "Capot, mày capot rồi". Thành ra tên là Capot, sau này viết báo viết sách ký là Capot, còn Marie Tipossible sở dĩ lấy bút hiệu đó viết phóng sự trên báo "Le-petit parisien" là vì cô ta có thói quen động một tí thì la lên "C'est-y possible" (có thể như thế được chăng?).


ở nước ta, những bút hiệu như thế tương đối ít. Tôi còn nhớ một người lấy đặc điểm vật chất của mình để làm bút hiệu: đó là Bùi Xuân Học, chủ nhiệm nhật báo Ngọ báo, Việt báo và tuần báo Loa. Bút hiệu của anh là Bùi Xoắn ốc (vì tóc anh xoắn trôn ốc, kiểu tóc người Maroc), anh em chế nhạo anh kêu là Bùi Xoắn ốc; tương kế tựu kế anh lấy luôn hai chữ "Xoắn ốc"), làm bút hiệu. Cũng trong tinh thần đó, lúc Trần Huy Liệu viết Công dân và Tương lai vẫn dùng bút hiệu tắt là L.T. Hỏi tại sao lại ký như thế (vì lúc đó tôi là thư ký tòa soạn hai báo đó, giao thiệp mật với Liệu và nhóm Travail). Liệu lấy mùi soa lau mắt, cười và nói: "Có lạ gì đâu mà phải bàn với tán lôi thôi. L.T là Liệu Toét vì anh em vẫn gọi tôi như thế!”


Cũng thuộc vào loại này, nhưng lấy bút hiệu vì thói quen, tôi không thể quên được Cao Bá Thao tác giả nhiều kịch thơ trong đó có cuốn nổi tiếng nhất là "Quán biên thùy", lấy bút hiệu Thao Thao. Tại sao? Chỉ vì anh ta khàn, mất tiếng, nhưng gặp ai cũng nói thao thao bất tuyệt, muốn rứt ra không nổi.


13, Bút hiệu bắt chước bút hiệu của những người nổi tiếng trước đó - Boquillon lấy bút hiệu là Onésime để bắt chước Onésime Boquillon, là một nhà văn nổi tiếng hồi đầu thế kỷ hai mươi vì cuốn truyện nhan đề là "La lanterne" (Cái đèn dầu).


Lé cherrère lấy bút hiệu là Gabriel để bắt chước Gabriel La Charrière, một ký giả kiêm nhân viên bảo hiểm nổi tiếng ăn chơi một thời, còn Saragosse lấy bút hiệu là Victor vì Thống chế Victor đã chiếm được thành Saragosse.


Ngọc Thỏ Dương Màu Ngọc lấy bút hiệu Nhị Lang có ý muốn có tài như Dương Tiễn (tức Nhị Lang thần hiển thánh), Vũ Hầu muốn theo Gia Cát Vũ Hầu, Lương Vũ Bá lấy bút hiệu đó là vì nhớ đến Lương Sơn Bá trong truyện Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, còn Chung Kều "thái giám thời đại", tác giả tập phóng sự Mất chim trong Thách đố chắc chắn lúc lấy bút hiệu Kều đã phải nhớ đến nhân vật Cao Kều trong Thủy hử...


14, Bút hiệu thương nước yêu nòi - Sinh vào lúc bị Tây thống trị, chà đạp, nhiều nhà văn nhà thơ chạnh lòng yêu nước thương nòi đã lấy những bút hiệu nhắc đến cảnh tang thương điêu bái của xứ sở quê hương. Đó là những bút hiệu: ái Quốc, Trinh Việt, Trinh Vệ, Đỗ Quyên, Việt Quyên (bút hiệu của nhà thơ Trần Văn Lương ví mình với con chim quyên nước Việt). Ngô Tất Tố ngoài bút hiệu Côi Giang, Ngô Công (con rít) ký dưới những bài trào lộng "Nói hay đừng", còn bút hiệu khác là Thục Điểu (cũng ví mình với con chim cuốc thương nước mà kêu ra máu), cụ Phan Bội Châu khi viết Pháp Việt đề huề chính kiến thư lấy bút hiệu là Sào Nam có ý nhắc câu chữ Việt điểu sào nam chi nghĩa là chim Việt làm tổ trên cành cây nam, giáo sư Nguyễn Quý Hùng lấy biệt hiệu là Việt Hùng, Trần Huy Liệu lấy hiệu là Nam Kiều, lúc còn là Việt quốc cũng không ra ngoài ý thương nhà yêu nước nói trên...


15, Bút hiệu phát xuất từ một câu chuyện tầm thường hay quan trọng - Tôi nhớ lúc còn đi học có một giáo sư tên là Le Roc. Truy mãi ra mới biết là ông ta lúc nhỏ có cái tính hay hỏi người khác ăn róc có ngon không (róc là phó mát roquefort). Mọi người thấy nói thế cả cười và do đó thành ra tên Le Roc.


Le Pois, người vùng Nan-sous-Thil (Côte d'or) ăn một bữa cơm ngon ra, thường vỗ bụng bình bịch mà kêu "Tôi tròn như hạt đậu" (Je suis rond comme un pois), do đó thành tên Le Pois.


Còn Le Bourrique thì có cái hiệu đó là vì ông cụ sinh ra ông thường mắng: "Nó say sưa như thùng rượu của con quỷ sứ" (Jl est saoul comme la bourrique du Diable).


Về bút hiệu của những nhà văn nhà thơ nước ta, tôi cũng được một vài giai thoại. Bút hiệu của Lê Văn Trương là Cô Lý. Hỏi tại sao lại đặt như thế, có lẽ nhiều người không biết. Lúc đó Lê Văn Trương mới ở Nam về Bắc, bỏ nghề bán hột soàn và săn con pạc pàng xồ (?) để viết bài báo thứ nhất (1) cho tờ hàng ngày Trung Bắc Tân Văn. Làm việc ở ty trị sự, có ông Mai Huy Hội và một vài nhân viên, trong đó có một cô tên là cô Lý. Lê Văn Trương muốn o cô này, nhưng không biết làm cách nào, viết phim ký tên là Cô Lý để cho cô này chú ý tới anh. Bút hiệu đó tưởng là lấy để rỡn chơi, không ngờ thành bút hiệu thực, mà sau này anh ký mãi trên các tờ báo như: Hà Nội tân văn, Đông Dương tạp chí, Nhật tân...


Lưu Trọng Lư, lúc viết Tiểu thuyết thứ năm lấy bút hiệu là Lưu Thần cũng là chuyện đùa trong khi say rượu. Nguyên Lư không uống được rượu, hơi nhắp một tí thì say, nhưng anh cứ nhất định mình là một sâu rượu như Lý Bạch - một thứ trích tiên trên trời. Từ chỗ đó, nhớ đến Lưu Thần, Nguyễn Triệu lên tiên, anh bèn nhân họ mình là họ Lưu, lấy bút hiệu là Lưu Thần để ký dưới nhiều thơ, văn hồi đó.


Bút hiệu Anh Độ của ký giả Đỗ Tràng Độ (hiện giờ là bỉnh bút của tờ KHHB) liên quan đến một câu chuyện ăn chơi. Lúc đó ở Hà Nội anh thường đi chơi bời hát xướng. Một hôm gõ trống ở Khâm Thiên với Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư báo Tiểu thuyết thứ năm, anh cao hứng làm một bài trường ca. Lê Tràng Kiều thú lắm ghi lại rồi hôm sau về nhà báo đưa cho thợ in xếp chữ. Cuối cùng không thấy đề tên tác giả, thợ in hỏi Lê Tràng Kiều tên tác giả là gì? Bí quá Phúng (vì Lê Tràng Kiều là biệt hiệu của Lê Tài Phúng) nói:


- Cứ đề là anh Độ.


Thế là Đỗ Tràng Độ có cái biệt hiệu Anh Độ từ lúc đó và giữ mãi cho tới bây giờ.


Nhiều người tưởng rằng Bằng Vân là tên tự của bác sĩ Trần Văn Bảng, tác giả nhiều tập sách thuốc và hai cuốn nổi tiếng gần đây: một là cuốn thơ Mảng vui và hai là cuốn sách bằng Pháp ngữ nói về đời bác sĩ Phạm Hữu Chí. Thực ra Bằng Vân chỉ là tên hiệu. Hỏi tại làm sao lại đặt thế thì Trần Văn Bảng cho biết ông thích hai chữ đó thì đặt chơi, ý muốn ví mình với con chim bằng lượn trên mây. Ông tâm sự tiếp:


- Nói cho thực đúng, tôi lấy hiệu Bằng Vân còn vì một lẽ nữa là tôi mến cụ Ngô Bằng Giực, bút tự là Thùy Thiên "cánh con chim bằng bay che cả trời". Trước khi lấy bút hiệu Bằng Vân, viết các sách y khoa, tôi ký bút hiệu Thanh Ba và lấy bút hiệu này, hoàn toàn vì thích thú hai chữ đó chớ chẳng có ngụ ý sâu xa gì cả. Mặt khác tôi thích thú hai chữ Thanh Ba vì Thanh nhắc đến quê tôi ở Thanh Trì. Gần đây hơn nữa, viết thơ trào lộng tôi còn ký là Hồ Thị. Cũng là chuyện đùa chơi thôi: tôi tự coi là cháu mười lăm đời của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, mặc dầu Hồ Xuân Hương không hề có con.


Còn Lưu Kiếm, nguyên bỉnh bút của báo Sáng dội miền Nam, hồi còn ông cố vấn Ngô Đình Nhu thì tên thật là Hà Bổng. Tại sao lại lấy bút hiệu là Lưu Kiếm: Tự ví mình với một cây kiếm chưa có chỗ sử dụng chăng?


Không. Trước hội nghị Genève, viết báo anh vẫn ký là Hà Bổng. Ra kháng chiến, một hôm ngồi nói chuyện với anh em, một người cho biết làng anh mới đổi tên mới là Lưu Kiếm. Thế là từ đó anh lấy bút hiệu là Lưu Kiếm và dùng bút hiệu này cho tới bây giờ, mặc dầu từ lúc đặt bút hiệu "Lưu Kiếm", anh chưa bước chân về làng để xem có phải thực làng anh là làng Lưu Kiếm hay không.


Kết luận


Những bút hiệu đặt ra vì một sự thích thú riêng, thực ra, còn nhiều. Tôi ngờ rằng thuộc loại này, có bút hiệu của các văn nhân, ký giả Nam Cao, Mai Thảo, Lưu Dương, Tân Thanh, Từ Thạch, Huyền Trân (Trần), Thâm Tâm...


Nhưng dù sao thì bút hiệu cũng chỉ là một thứ tên muốn đặt thế nào tùy ý chớ không bó buộc phải có điển cố, lý do, nếu nói lên được chí hướng, hoài bão của mình càng hay mà nếu không nói lên được gì cả, chỉ "kêu" thôi, chỉ "đẹp" thôi thì cũng chẳng có gì hại hết.


Mặt khác chúng ta cũng nên biết thêm rằng bút hiệu không phải bất di bất dịch, trái lại có thể thay đổi tùy theo thời cơ, tùy theo sở thích, tùy theo phong trào. Mà một người không bắt buộc phải chỉ có một bút hiệu mà thôi, trái lại có thể có bốn năm hay vài chục bút hiệu để ký trên những báo, sách mà mình trước tác. Thí dụ viết trên một tờ báo trào phúng thì ký bút hiệu vui đùa, viết trên một tờ báo văn nghệ thì ký bút hiệu vui vẻ, viết một tờ báo nghị luận thì ký bút hiệu nghiêm trang, viết một tờ báo chính trị thì ký một bút hiệu có tính cách đấu tranh, viết một tờ báo phụ nữ thì ký bút hiệu "thơ mộng". Đó là trường hợp của Ngô Tất Tố dịch Kinh Dịch ký bút hiệu là Ngô Tất Tố, viết báo chống Pháp ký là Thục Điểu, viết phim đả kích thối tha xã hội ký là Ngô Công. Cụ cử Mai Đăng Đệ viết luận thuyết ký là Tam Hữu, viết chuyện phiếm ký là "Đồ Gàn" hay "Lẩn thẩn tiên sinh"; Phạm Quỳnh viết xã thuyết ký Phạm Quỳnh, dịch văn ký là Thượng Chi, tranh luận với ai ký là Lương Đường hay là Hồng Nhân, Nguyễn Đỗ Mục dịch truyện ký là Nguyễn Đỗ Mục, viết Hài đàm ký là Hif Đinhf Nguyễn Văn Tôi. Nguyễn Văn Vĩnh viết xã thuyết ký Nguyễn Văn Vĩnh hay Phượng Vũ, viết tranh luận ký bút hiệu Tân Nam Tử; viết bài phụ nữ ký Nguyễn Thị Đào(1), Phạm Duy Tốn viết ký sự hay truyện ngắn ký Phạm Duy Tốn, viết truyện Tiếu Lâm ký bút hiệu Thọ An...


Thực ra, muốn sưu tầm cách nào đi nữa thì cũng không thể biết hết hiệu của một nhà văn. Chúng ta chỉ nên biết rằng một nhà văn thường có vài bút hiệu, tuy nhiên cũng có các nhà văn có tới vài chục bút hiệu. Trong khi một số khác lại không ký biệt hiệu bao giờ như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng chẳng hạn(2).


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Nhân danh học.




(1) Bài này, Vũ Bằng ký bút danh là Thiên Tướng.




(1) L. Logeat: Les sobriquets de Nan-sous - Thil (Côte d'or). Ch. Bruneau: Les sobriquets de modernes du village belge de Chooz.




(1) Tức bút bi.




(1) Những cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích.




(1) Thật ra, bút hiệu của Nguyễn Văn Vĩnh một thời là Đào Thị Loan.




(2) Nguyên Hồng, tên thật là Nguyên Hồng, tác giả nhiều thiên tiểu thuyết phóng sự có tiếng như Bỉ vỏ, Bảy Hựu, Những ngày thơ ấu...



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »