tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054368
Lý luận phê bình văn học
09.10.2012
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (4)

Xuân Diệu hiểu rõ rằng chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam biểu hiện tập trung qua những điển hình tuyệt đẹp trên, đồng thời cũng là phẩm chất chung của những con người mới, lao động cần cù ngày đêm trên khắp miền đất nước. Đó là chất người của cụ Muỗi, người dân kháng chiến hết lòng yêu thương cán bộ: “Bù trừ cho tất cả - Đáp trả có gì đâu”, là thầy giáo Phụng hết lòng vì con em bản ông:


Biết anh như mảnh trăng đèo


Vừa ôm rừng núi vừa theo xóm làng


là chú Nhơn, người cán bộ miền Nam mảnh khảnh mà dẻo dai, tận tụy với phong trào:


Hiền như đống trấu nhen âm ỉ,


Mà ngún trong tim rực lửa đào.


Rõ ràng những nhân vật trữ tình kiểu mới đã xuất hiện trong thơ Xuân Diệu đều tích cực, giàu lý tưởng, khác hẳn với một số hình bóng đã có trong thơ ông thời kỳ trước Cách mạng. Trước kia trong thơ Xuân Diệu cũng có nói đến một người kỹ nữ, một chú lái khờ, người lệ ngọc… Tưởng như là những con người trên ngẫu nhiên chạy qua cuộc đời thơ của tác giả, nhưng thực ra họ chỉ là những biểu tượng mà Xuân Diệu vay mượn để tự biểu hiện: “Mình với ta tuy hai mà một”.


Ngày nay những nhân vật trữ tình trong thơ ông đông vui, giàu khích lệ, luôn tạo được sự chia sẻ, chan hòa với cái tôi trữ tình của nhà thơ. Phần lớn họ là những con người có thực ở ngoài đời đang lao động và chiến đấu trên nhiều trận tuyến.


Đi vào đời sống thực tế, Xuân Diệu không thi vị hóa một cách dễ dãi. Ông không chỉ muốn nói tới kết quả mà nhấn mạnh cả quá trình đi đến kết quả. Xuân Diệu muốn đề cập tới sức lao động sáng tạo với tất cả tính chất phức tạp gian khổ của nó. Ông nói tới con kênh tưới nước mà không quên cảnh hạn hán ghê người, nói tới những con đường mới trên vùng đồng chiêm trũng và hiểu rõ: “Phải bốn hòn đất chìm - Mới một hòn đất nổi - Một con đường đồng chiêm - Bằng bảy đường đồng bãi”. Viết về hồ Suối Hai, một hồ chứa nước lớn và đẹp, Xuân Diệu muốn giới thiệu công sức đã tạo nên hồ: “Hơn hai trăm vạn thước khối đất - Xe chở vai khiêng đào lại đắp - Năm nghìn thước khối đổ bê tông - Mới được vững, cao, dài chiếc đập”. Và hình như tác giả cảm thấy vẫn còn chưa đủ, ông phải nói thêm về cách xây chân đập: “Phải gỡ đất mềm thay đất sét - Rồi xây lát đá nước trùm lên”. Và cứ thế, ý định của ông là tốt và ông phải vất vả đánh vật với khối lượng to lớn của chất liệu thực tế để rồi không đạt được kết quả mong muốn. Suy nghĩ về đời sống sau Cách mạng, Xuân Diệu có một quan niệm đúng khi nhấn mạnh đến sự vận động rất nhanh chóng, rất biện chứng của thực tế. Làm sao có thể nắm bắt được phần tinh chất và điển hình của đời sống trong những thay đổi to lớn và kỳ diệu đó. Một số hiện tượng trong xã hội trước kia mang tính chất tương đối tĩnh và định hình, thời gian đã góp phần chọn lọc qua những cái trôi đi, lắng xuống, nhà thơ có thể dựa vào những truyền thống và kinh nghiệm quen thuộc từ nhiều thế kỷ để suy nghĩ về xã hội. Cuộc sống mới lại rất phong phú, sinh động Xuân Diệu không muốn dừng lâu ở sự chọn lọc để trôi đi cái đa dạng và phong phú của cuộc sống, ông muốn đưa từng mảng của sự sống vào để bạn đọc tìm đến chọn lọc. Quan niệm và cách làm ấy của Xuân Diệu buộc thơ phải ôm, phải chứa đựng quá nhiều chất liệu bề bộn của đời sống, ranh giới giữa thơ và văn xuôi do đó bị lẫn lộn và mất đi. Trong nhiều trường hợp thơ rơi vào kể lể dài dòng, trúc trắc và nghèo nàn nhạc điệu, giảm sút sức truyền cảm.


Có thể vì những lý do trên mà số người thích thơ Xuân Diệu lúc này chưa nhiều. Lẽ ra ông chỉ cần đem đến cho đời một vài quả đến độ thật ngọt chín và thơm hương thì ông lại dâng cả chùm quả còn nửa chín nửa xanh. Lẽ ra ông có thể tập trung sức để gây ấn tượng về chất lượng, Xuân Diệu lại phân tán năng lực qua số lượng. Đó là những biểu hiện chưa phù hợp với quy luật của thơ.


Tuy nhiên với những cố gắng của mình, Xuân Diệu vẫn có đóng góp vào hướng lớn: đưa thơ về với đời sống thực tế. Ông nắm bắt và đem được chất sống khỏe và trần trụi của sự sống vào trong thơ. Một thiên nhiên gay gắt mà con người đã tiến hành cuộc đấu tranh đầy gian khổ và thắng lợi. Nào cảnh ruộng đồng hạn hán:


Xưa nhìn nỗi mạ cháy mà đau


Hết cảnh khô bèo cạn đáy ao


Con đỉa vắt qua mô đất chết


Và người ngửa mặt ngóng trời cao.


và hôm nay, con mương đã dẫn nước về đồng ruộng:


Hai bờ một nước ôm tha thiết


Nước dọn tre xanh, ứng nắng hồng


nào cảnh núi non hiểm trở:


Mã Pí Lèng danh bất hư truyền:


Sống Mũi Ngựa, núi cao thẳng đứng.


Núi điệp trùng núi tỏa bốn bên,


Đá gan trâu gãy choòng đá cứng.


Sương mù dưới vực vút bay lên,


Bạc lẩn màu cây mờ đỉnh dựng!


và từ đó sức lao động đã chiến thắng để cho xe đi về xuôi ngược:


Mà đường hạnh phúc rộng thênh thênh.


Xuân Diệu nhạy cảm và tinh tế về cái thấy cái nghe, do đó miêu tả được nhiều bức tranh về đời sống. Quang cảnh nên thở của xã Thanh Nga:


Sắn xanh quanh những ngôi nhà,


Long lanh là mít, lòa xòa cành tre.


Một trăm đồi cọ múa xòe,


Dây leo quanh gốc, nắng loe trên tàu.


và vẻ đẹp hấp dẫn của công việc lao động thuộc vùng tơ tằm Thuận Vi:


Tiếng kẻng ban mai kén dậy rồi,


Nồi ươm thoăn thoắt những tay ai,


Xõa tơ, tơ tỏa theo guồng cuộn,


Lóng lánh như xe ánh mặt trời.


Từ những quan sát và lắng nghe cụ thể, Xuân Diệu có xu hướng muốn khái quát chân lý của sự sống biểu hiện trong sức mạnh của đấu tranh thiên nhiên và xã hội. Với sức mạnh nội tại tiềm tàng của nó, với quy luật phát triển biện chứng của tự nhiên và xã hội, sự sống luôn đi lên và vô địch. Nhìn một cánh bướm mong manh vượt qua dòng sông rộng. Xuân Diệu thấy rõ quy luật ấy của tự nhiên thật tài tình và kỳ diệu:


Trước đôi cánh nhỏ,


Sông hóa vô cùng.


Bướm băng một mạch,


Vừa vờn cong cong.


Xuân Diệu cũng phát hiện ra sự sinh thành và phát triển đến kỳ lạ của sự sống trong tự nhiên qua một chùm sấu nhỏ:


Mấy hôm trước còn hoa,


Mới thơm dây ngào ngạt,


Thoáng như một nghi ngờ,


Trái đã liền có thật.


Tác giả không khỏi đặt câu hỏi trước cái kỳ diệu đến như huyền bí của sự vật: “Ôi từ không đến có - Xảy ra như thế nào?”. Không có một bàn tay thần thánh và phép nhiệm mầu nào, ở đây chỉ có sự sống phát triển theo quy luật biện chứng. “Nó sẽ lớn như trời vậy”, nó sẽ vượt lên mọi thử thách, mọi sự cản trở, phá hoại:


Một ngày một lớn hơn


Nấn từng vòng nhựa một


Một sắc nhựa chua giòn


Ôm đọng tròn quanh hột…


 


Trái non như thách thức


Trăm thứ giặc, thứ sâu


Thách kẻ thù sự sống


Phá đời không dễ đâu.


Trong đấu tranh xã hội, quy luật ấy càng biểu hiện một cách quyết liệt hơn. Sự sống là ở phía chúng ta, những người cách mạng đang gieo trồng và chăm sóc, nâng niu sự sống. Kẻ thù luôn gieo rắc cái chết, chúng dùng sức mạnh tàn bạo để hủy diệt sự sống, nhưng cái chết đang từng ngày bao vây chúng. Hầu hết những bài thơ trữ tình đả kích của Xuân Diệu đều xoáy sâu vào chủ đề ấy. Bàn tay ta, Tòa án nhân dân thế giới, Đi thăm bãi tha ma tàu bay giặc Mỹ,… đều vạch trần và lên án kẻ địch tàn bạo. Cái chết đã đến với chúng, cái chết đang đến với chúng, “những cái thây ma lịch sử”, những “bạo lực đã đi ngược chiều cuộc sống”. Xuân Diệu cũng thường xây dựng tứ thơ để ca ngợi sự sống trên tinh thần vận dụng so sánh, đối lập với cái chết. Con chim và xác chiếc tàu bay Mỹ, Sự sống chẳng bao giờ chán nản vừa trực tiếp đánh địch, biểu dương chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta, vừa hàm ý triết học về quy luật phát triển và tiêu vong trong cuộc sống. Những suy nghĩ của Xuân Diệu có lúc nhuần nhuyễn, nhưng cũng nhiều khi còn tự nhiên qua lời nói trần trụi.


Phần thành công và chưa thành công trong hướng đi vào đời sống của thơ Xuân Diệu có tác dụng bồi đắp và ghi nhận những kinh nghiệm cần thiết cho phong trào thơ hiện nay.


Một đóng góp đáng chú ý của Xuân Diệu cho vườn thơ cách mạng thuộc về mảng thơ tình yêu. Nhà thơ của “tình yêu và tuổi trẻ” này trước Cách mạng đã một thời say đắm và tự đóng khung nhìn lại trong thế giới yêu đương và mộng tưởng. Tuy nhiên trong xã hội cũ, tình yêu không phải là một lối thoát, một vương quốc riêng tư để cho hạnh phúc tìm đến và yên nghỉ. Xuân Diệu tỏ ra tha thiết, nồng nhiệt, vội vã trong tình yêu, nhưng chính ông cũng lại tự cảm thấy chua chát, chán chường. Cái tập thể nhỏ của đôi lứa tưởng như có thể chan hòa bằng trăm ngàn sợi dây thương mến và niềm đồng cảm sâu xa nhất, nhưng chính ngay ở nơi ấm cúng này có lúc lại thấm thía cô đơn và con người vẫn tự chia sẻ ra nhiều ngăn cách:


Em là em mà anh vẫn là anh


Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành.


Sau Cách mạng, trong nhiều năm đi theo kháng chiến, Xuân Diệu ít viết thơ tình yêu. Hòa bình lập lại, nhà thơ có điều kiện để nghĩ đến cuộc sống và hạnh phúc riêng tư. Thơ tình của Xuân Diệu lại đâm chồi nảy lộc. Có lẽ trong thơ đây là loại chủ đề mang nhiều tính chất riêng tư nhất và thường được khai thác trực tiếp hay gần gũi với cuộc đời tác giả. Theo thời gian, tình cảm có thể sẽ mất dần đi phần non tơ nhưng ở Xuân Diệu vẫn có một mạch thơ tình đằm thắm cho đến cuối đời. Thơ tình của Xuân Diệu ở chặng đường sau không còn nhiều chất sôi nổi ban đầu nhưng yếu tố tình cảm được kết hợp thêm với lý trí, với chiều sâu những chiêm nghiệm của bản thân, với bản lĩnh của một tâm hồn thơ lớn nên có thêm nhiều phẩm chất mới. Hồn thơ của Xuân Diệu vẫn còn thắm nhụy, vẫn còn nhiều hương sắc, cách cảm nhận của tác giả về một mùi hương vẫn tinh vi tươi thắm như xưa. Hương thơm của hoa quả trong vườn hoa quả Thuận Vi như cùng đi vào giấc ngủ:


Canh khuy chợt thức nghe hoa ngát,


Giấc ngủ như là đã ướp hương.


Hương hoa như là sự hiển diện của bản sắc, hồn hoa. Xuân Diệu đã từng hình dung “hương bay thì hoa tưởng hoa bay”. Và làn hương kỳ diệu ấy tham dự vào những chuyện tình mầu nhiệm:


Tôi cầm mùi dạ lan hương,


Trong tay đi đến người thương cách trùng.


Dạ lan thơm nức lạ lùng,


Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương.


Tâm hồn thơ ấy được mở rộng, nâng cao với nhiều màu sắc mới. Những câu thơ lành mạnh, khỏe khoắn mà không kém phần tha thiết:


Anh đã đi với em trên đất nước,


Dép ta gần đôi lúc dẫm vào nhau.


Con đường đẹp của đất nước cũng là con đường che chở cho tình yêu nảy nở. Bước sóng đôi gần gũi ấy trên cùng một hướng đi và cũng được dắt dẫn bởi một lý tưởng đẹp đã mang lại cho tình yêu những phẩm chất mới. Tình yêu không phải là chuyện huyền bí nhưng lại rất thiêng liêng, đắm say tha thiết, nhưng không vội vàng, vồ vập. Tình yêu ích kỷ, tầm thường là phép trừ, là sự chia sẻ năng lực của mỗi người. Xuân Diệu ca ngợi tình yêu mới mà sức mạnh của mỗi cá nhân luôn được cộng lại, nhân lên. Xuân Diệu cũng chỉ ra trong tình yêu có nỗi nhớ thường trực:


Uống xong lại khát là tình


Gặp rồi lại nhớ là mình của ta


có nguyện ước thường xuyên:


Nguyện miếng ngon đừng vắng bóng em


Nguyện cảnh đẹp có em bên cạnh


Nguyện tâm hồn như chim chắp cánh


Nguyện xương thịt như cây liền cành


cò niềm vui vô tận:


Quanh ta ríu rít là đời,


Bên em ai hát ai cười - là anh.


Và sự yêu thương thông cảm tự bên trong:


Vai anh khi để đầu em tựa


Cân cả buồn, vui của một đời.


Trong cái hữu hạn của một cuộc đời, một lứa tuổi, tình yêu luôn muốn trở thành vô biên, bất tận để không bị thời gian tàn phá, không bị không gian chia xẻ, ngăn cách:


Dẫu rằng hữu hạn đôi ta,


Yêu đương một thuở thành ca muôn trùng.


Với suy nghĩ này, ông lập được nhiều ý thơ hay, nhiều tứ thơ mới lạ. Trên dòng trôi chảy của thời gian và trong cái mênh mộng của đất trời, Xuân Diệu nghĩ đến khuôn mặt người yêu. Ông muốn đưa vẻ đẹp cụ thể của một cuộc đời hữu hạn này gắn vào cái vô tận của đất trời:


Mặt em ở giữa kho trời đất,


Vô tận thời gian có mặt em.


Đáy thẳm tâm hồn anh đã cất,


Mặt em, hoa vĩnh viễn ngày đêm.


Ông không muốn đem tình yêu vào địa hạt huyền bí, nhưng muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa thiêng liêng, cao cả của một thứ quan hệ tình cảm thắm thiết đến kỳ lạ của đời sống con người. Ông không ca ngợi tình yêu một cách chung chung mà bao giờ cũng gắn với một cảnh ngộ, một sự việc để tạo nên những tình cảm chân thực và nhớ mong cụ thể. Một buổi chơi núi, một lần ngắm hoa, một chiếc áo người thương treo trên tường, một đôi đũa mun kỷ niệm, một lần tiễn đưa trong chiến tranh,… từ những trường hợp cụ thể ấy Xuân Diệu nói đến tình yêu tha thiết và chung thủy. Ông khéo kết hợp giữa cái cụ thể với cái khái quát, kết hợp giữa tình yêu đầm ấm trong sự sống hằng ngày với tình yêu bay bổng cao đẹp.


Ca ngợi tình yêu tuyệt vời nhưng Xuân Diệu nói lên đúng đắn mối quan hệ giữa tình yêu với lý tưởng và nhiệm vụ cách mạng. Phút giây thử thách là sự xa cách, là năm tháng đợi chờ, người đi công tác, người đi chiến đấu xa:


Giặc Mỹ, giặc Mỹ phá đời chúng ta!


Anh cách em xa đôi ta đánh giặc.


Ta lại chúc nhau chân cứng đá mềm,


Gắn bó nhân dân, vững vàng công tác.


Và chắc chắn là những con người ấy với nhiều nỗ lực trong công tác luôn có phần đóng góp vắng mặt của người yêu nơi xa vì sức mạnh của họ được nhân lên:


Một người chiến đấu với hai tâm hồn.


Điều đáng quý là những chùm thơ tình yêu của Xuân Diệu vẫn luôn tươi trẻ, thiết tha và được viết ra khi ông đã qua rồi lứa tuổi sôi nổi của thanh niên. Đã có trên gần bốn chục năm trôi qua, cái khoảng cách giữa những bài thơ tình đầu tiên của tâm hồn trẻ Xuân Diệu trong thời kỳ thơ mới với những sáng tác hôm nay. Chắc chắn ông không nói được nhiều về những sắc thái mới của tình yêu tuổi trẻ bây giờ. Ngoài những kỷ niệm được khai thác trực tiếp trong thơ tình yêu, chủ yếu ông là người chứng kiến và chia sẻ gián tiếp; ông là người thứ ba thân yêu nói hộ những nỗi niềm của tuổi trẻ, ông là người lấy sự phong phú và tình yêu của cuộc đời làm nên sự giàu có của bản thân mình. Với chừng mực đó, càng thấy những cố gắng lớn của Xuân Diệu để giữ được chất thanh xuân của tâm hồn. Trong bản chất tốt đẹp và trong sáng của nó, tình yêu không có tuổi già và thi sĩ của tình yêu cũng nằm trong quy luật ấy vì họ luôn có nhu cầu sáng tạo và khát khao viết nên bản tình ca của cuộc đời. Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là từ khi hòa bình lập lại, thơ ca Việt Nam có điều kiện mở rộng và giao lưu với thơ ca thế giới, Xuân Diệu là nhà thơ tiên phong trong lĩnh vực này. Một mặt đi sâu và tìm hiểu truyền thống, Xuân Diệu giới thiệu tinh hoa của thơ Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Tản Đà. Một mặt Xuân Diệu bỏ công sức để dịch thơ thế giới, Blaga Đimitrôva nhận xét: “Xuân Diệu là dịch giả kiệt xuất với các bản dịch thơ Exênhin, Puskin, Maiacốpxki. Ông là người bạn lớn thân thiết của nền văn học Bungari từ Bôtép đến các nhà thơ trẻ sau này”. Đối với những nền thơ ca phong phú của nước ngoài, hồn thơ của Xuân Diệu đã rộng mở đón chào và tiếp nhận cái mới, cái hay. Xuân Diệu yêu thích thơ Aragông và Enxa cũng như tình yêu đằm thắm của hai người trong đời, trong thơ. Đây là một trong những trường hợp tiêu biểu của hiện tượng tuy là vợ chồng nhưng vẫn giữ được chất thơ tình yêu. Nhiều trường hợp khi đã bước vào quan hệ vợ chồng thì thơ cũng mang nhiều tình cảm chung thủy, tình nghĩa trách nhiệm và bớt đi chăng ít nhiều sự lãng mạn bay bổng. Xuân Diệu đặc biệt yêu thích và tìm được những nét gần gũi với thơ của Nadim Hítmét. Thơ Hítmét rất gần với cuộc sống, khai thác trong sự bộn bề của cuộc sống chất thơ sinh động. Xuân Diệu cũng yêu thích thơ của Nicôla Ghiden, nhà thơ Cuba. Chất dân gian giàu có của một vùng đất đã tạo bản sắc phong phú cho hồn thơ của Ghiden. Xuân Diệu yêu thích thơ Bungari mà những đại biểu ưu tú của thời hiện tại như Gagriana và Đimitrôva. Những nét thông minh hòa hợp với chất trữ tình đằm thắm của tâm hồn thơ nữ tạo nên bản sắc độc đáo.


Và điều quan trọng là Xuân Diệu đã biết tiếp nhận chọn lọc những giá trị của thơ ca thế giới. Trong thơ Xuân Diệu thời kỳ sau Cách mạng có thể tìm thấy cách tiếp cận, khai thác cái đẹp của đời thường như Nadim Hítmét, chất trữ tình tươi tắn và có chiều sâu tư tưởng của Aragông, và tính chiến đấu của thơ Maiacốpxki và thơ ca Xô viết. Không phải lúc nào ông cũng thành công nhưng rõ ràng thơ Xuân Diệu đã chủ động, tự tin khi mở rộng diện cảm thụ vượt qua những ranh giới của dân tộc trên hướng nhân loại hóa.


Trong nhiều thập kỷ phát triển của những chặng đường thơ cách mạng, Xuân Diệu đã chín lại với thực tế mới và nguồn thơ lại tỏ ra dạt dào, sung sức. Trong hoạt động sáng tạo thơ ca, những nỗ lực của ông bền bỉ, những mong ước của ông lớn lao, ông luôn tỏ ra năng động, sôi nổi trong thơ và ngoài thơ. Làm thơ, viết phê bình lý luận về thơ, bình thơ và nói chuyện thư, ở hoạt động nào Xuân Diệu cũng có phần đóng góp. Gần bảy mươi tuổi hiến dâng cho đời, “Ông hoàng của thơ tình yêu”, nhà thơ tiên phong của cách mạng đã làm việc hết mình. Ông đã cảm nhận sâu sắc về những nỗ lực sáng tạo của bản thân. Nếu Huy Cận mong ước được gieo hết hạt khi kết thúc cuộc đời thì điều ấy Xuân Diệu đã làm, đã thực hiện được. Năm năm trước khi qua đời, Xuân Diệu như đã tiên tri thấy phút giây đau đớn và kỳ lạ đó khi “đã sống hết mình” với thơ, với đời:


Cái quả cam này đã vắt hết,


Hiến cho non nước, hiến đời thân.


Tuy không biết đến bao giờ kiệt,


Nhưng dẫu sao thì cũng phải dừng.


 


Hãy để cho tôi được giã từ,


Vẫy chào cõi thực để vào hư.


Trong hơi thở chót dâng trời đất,


Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.


Nhận xét về Xuân Diệu, nhà thơ Pháp, bà Mirây Găngxen viết: “Xuân Diệu như một người hát dạo của nhân dân thời kỳ hiện đại”. “Xuân Diệu là rễ cây và gió, là đất và nhạc. Cũng như những nhà văn lớn của Việt Nam, Xuân Diệu là nhà thơ bắt rễ sâu trong nhân dân”.


“Khảo luận văn chương, NXB Khoa học xã hội, H., 1997)


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học sắp phát hành.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »