tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21302030
Tiểu thuyết
10.03.2009
Henryk Sienkiewicz
Quo Vadis
Chương 34


 


Chương XXXIV


 


Vừa đi dạo trong khu vườn, bằng những lời thốt tự đáy lòng, Vinixius vừa kể cho nàng nghe những gì chàng vừa thổ lộ với đức Sứ Đồ: sự bất an của tâm hồn những đổi thay đã đến với chàng và nỗi mong nhớ vô bờ đã che lấp cả cuộc đời chàng, kể từ khi chàng rời ngôi nhà bà Miriam. Chàng thú nhận với Ligia rằng chàng đã cố quên nàng nhưng không sao quên nổi. Suốt ngày dài lẫn đêm thâu chàng chỉ nghĩ tới nàng. Cây thánh giá làm bằng cánh hoàng dương nàn để lại cho chàng gợi nhớ đến nàng, cây thánh giá đã được chàng đặt lên bàn thờ gia thần và bất giác được chàng sùng kính như một vật thiêng liêng. Càng ngày chàng càng nhớ thương nàng, bởi tình yêu mạnh hơn chàng, ngay từ lúc ở nhà ông bà Aulux nó đã xâm chiếm tâm hồn chàng... Các nữ thần Paki kéo sợi chỉ đợi cho những ai kia, nhưng riêng cho chàng chỉ là tình yêu, nhớ nhung và sầu não. Hành động của chàng dẫn xấu xa, nhưng dù sao cũng nẩy sinh từ tình yêu. Chàng yêu nàng từ lúc ở nhà ông Aulux và tại cung điện Palatyn, lúc gặp nàng tại Oxtrianum đang say lắng nghe ông Piotr và ngay cả lúc cùng Kroton đến bắt cóc nàng, lúc nàng túc trực bên giường chàng và cả khi nàng rời bỏ chàng ra đi. Lão Khilon đã phát hiện ra nơi nàng ở, đến xui chàng bắt cóc nàng, song chàng đã trừng phạt lão và đến gặp đức Sứ đồ để cầu xin chân lý, cầu xin nàng... Đáng ban phước thay giây phút mà chàng nẩy ra ý nghĩ ấy, bởi vì nhờ thế giờ đây chàng mới được ở bên nàng và nàng sẽ không bao giờ chạy trốn chàng như vừa trốn khỏi nhà bà Miriam nữa.


- Em đâu có trốn tránh chàng - Ligia nói.


- Vậy sao nàng lại làm như thế?


Nàng ngước đôi mắt xanh màu hoa diên vĩ nhìn chàng rồi hổ thẹn cúi đầu:


- Chàng cũng biết đấy...


Vinixius nín lặng giây lâu vì sung sướng, rồi chàng lại kể tiếp. Chàgn dần dần nhận rõ rằng nàng hoàn toàn khác hẳn đám phụ nữ La Mã, có chăng chỉ giống mỗi mình bà Pomponia mà thôi. Chàng cũng không biết nói ra sao để nàng hiểu, bởi chính chàng cũng không thật rõ những gì chàng cảm nhận. Ở nàng tỏa ra cho cuộc đời một vẻ đẹp hoàn toàn khác hẳn, vẻ đẹp chưa từng có trên thế giới, vẻ đẹp không chỉ giống như vẻ ngoài của những pho tượng, mà bằng cả tâm hồn. Thay vì thế, chàng nói cho nàng nghe cái điều khiến lòng nàng tràn ngập sướng vui, rằng chàng yêu nàng ngay cả vì việc nàng đã trốn tránh chàng, rằng nàng sẽ là vị thần thiêng liêng bên bếp lửa nhà chàng.


Rồi cầm lấy bàn tay nàng, chàng chẳng biết nói gì hơn, chỉ nhìn nàng với lòng ngưỡng mộ như ngắm nhìn niềm hạnh phúc của cuộc đời vừa tìm lại được. Chàng gọi mãi tên nàng, dường như muốn tin chắc rằng quả thực chàng đã tìm được nàng và đang ở bên nàng:


- Ôi, Ligia! Ôi Ligia!...


Sau rốt, chàng hỏi xem những gì đã xảy đến trong tâm hồn nàng; nàng thổ lộ với chàng rằng ngay từ hồi ở nhà ông bà Aulux nàng cũng đã thầm yêu trộm nhớ nàng, và giá như chàng đưa nàng từ cung điện Palatyn trở về nhà ông bà ấy, thì chắc nàng đã ngỏ lòng mình cùng chàng và sẽ cố gắng cầu xin ông bà Aulux đừng giận chàng.


- Xin thề với nàng - Aulux nói - thậm chí tôi không hề có ý định cướp nàng từ tay ông bà Aulux nữa kia. Sau này, chắc sẽ có dịp cậu Petronius nói lại cho nàng hay, rằng hồi đó tôi đã thổ lộ cùng cậu rằng tôi yêu nàng và muốn được cưới nàng. Tôi đã nói với cậu ấy: “Hãy để cho nàng được lấy mỡ sói bôi cửa nhà cháu, để cho nàng ngồi bên bếp lửa của cháu!”. nhưng cậu ấy đã cười mỉa mai tôi đã mớm cho Hoàng đế cái ý bắt ông bà phải trả nàng như một con tin để ban cho tôi. Trong nỗi tiếc nuối, biết bao lần tôi đã nguyền rủa cậu ấy, song cũng rất có thể, một định mệnh tốt lành nào đó đã an bài nên thế, nếu không tôi đã chẳng được biết các tín đồ Thiên chúa giáo và đâu thể hiểu được nàng...


- Chàng Markux, xin hãy tin lời em! - Ligia nói - Chính đức Chúa Crixtux đã cố ý đưa chàng đến gặp Người đấy.


Vinixius ngẩng đầu ngạc nhiên:


- Quả vậy! Chàng sôi nổi đáp - Tất cả đã được sắp đặt một cách thật lạ lùng, khiến cho tôi trong khi đi tìm nàng lại được gặp những người Thiên chúa giáo. Tại Oxtrianum, tôi đã ngạc nhiên lắng nghe lời đức Sứ đồ, bởi lẽ tôi chưa bao giờ được nghe những chuyện đó. Đó có lẽ cũng là do chính nàng đã cầu nguyện cho tôi.


- Vâng - Ligia đáp.


Họ đi ngang qua ngôi nhà hóng mát mùa hè phủ đầy dây trường xuân, tới gần chỗ mà bác Urxux đã từng nhẩy xổ vào Vinixius sau khi đã bóp chết tươi Kroton.


- Chính nơi này - chàng trai nói - giá như không có nàng chắc tôi đã chết rồi.


Chàng đừng nhắc lại! Ligia đáp - Và cũng đừng oán bác Urxux vì chuyện ấy làm chi.


Sao tôi lại có thể oán bác vì bác đã bảo vệ nàng? Nếu bác ấy là nô lệ, tôi sẽ trả tự do ngay cho bác ấy.


- Nếu bác ấy là nô lệ, ông bà Aulux đã giải phóng bác ấy từ lâu rồi.


- Nàng nhớ không - Vinixius nói - tôi đã từng muốn đưa nàng trở về với ông bà Aulux. Nhưng chính nàng đã từ chối, nàng bảo rằng Hoàng đế có thể biết chuyện ấy và sẽ trả thù ông bà. Nàng xem! Giờ đây nàng muốn gặp mặt ông bà ấy bao nhiêu lần tùy ý.


- Sao thế, chàng Markux?


- Tôi nói “giờ đây” nhưng là nghĩ rằn nàng có thể yên ổn gặp ông bà khi nàng đã là của tôi. Phải!... Bởi vì nếu Hoàng đế có biết chuyện và hỏi rằng tôi đã làm gì với người nữ con tin mà ngài giao cho, thì tôi sẽ trả lời rằng: “Tôi đã cưới nàng làm vợ. Nàng đến thăm ông bà Aulux theo ý muốn của tôi”. Hoàng đế sẽ chẳng chơi bồi ở Anxgiùm lâu đâu, bởi lẽ ngài còn muốn đi Akhai, mà nếu ngài có ở lâu thì không nhất thiết ngày nào tôi cũng phả giáp mặt ngài. Bao giờ ông Paven xứ Tarxu dạy cho tôi thấu hiểu chân lý, tôi sẽ xin chịu lễ rửa tội ngay lập tức và sẽ trở về đây, nối lại tình thân với ông bà Aulux. Đến lúc ấy họ cũng đã trở về thành đô rồi. Sẽ không còn trở ngại nào nữa cả. Khi ấy tôi sẽ đưa nàng về bên bếp lửa nhà tôi. Ôi, Carissima! Carissima!([1])


Vừa kêu chàng vừa vươn hai tay lên trời, dường như muốn xin trời cao chứng giám cho tình yêu của chàng. Ligia ngước đôi mắt long lanh nhìn chàng và bảo:


- Và khi ấy em sẽ nói: “Nơi nào có chàng. Kaiu, nơi đó sẽ có em, Kaiu!”.


- Không, Ligia hơi  - Vinixius thốt lên - Xin thề với nàng rằng sẽ không một người phụ nữ nào được tôn thờ tại nhà chồng như nàng tại nhà tôi đâu!


Họ bước hồi lâu trong lặng im, ngực căng tràn niềm hân hoan, chan chứa tình yêu, hệt như hai vị thần, xinh đẹp như hai vị thần, ngỡ như mùa xuân đã sản sinh ra họ cùng lúc với những loài hoa.


Cuối cùng, họ dừng bước dưới tán cây trắc bá mọc kề bên lối vào nhà. Ligia tựa người vào thân cây. Vinixius lại gần, cầu khẩn nàng bằng giọng run run:


- Xin nàng hãy bảo bác Urxux đến nhà ông bà Aulux mang đồ đạc và những thứ đồ chơi hồi trẻ của con của nàng về nhà tôi!


Mặt nàng đỏ ửng như một đóa hoa hồng, như nữ thần Rạng Đông, nàng nói:


- Phong tục bảo phải làm khác kia mà.


- Tôi biết lắm. Thông thường bà phù dâu([2]) sẽ mang những thứ ấy đi theo cô dâu, nhưng vì tôi, xin nàng hãy làm việc đó. Tôi sẽ mang những thứ đó theo tới biệt thự của tôi ở Anxium, chúng sẽ gợi cho tôi luôn nhớ đến nàng.


Nói tới đây chàng chắp hai bàn tay lặp đi lặp lại như một đứa trẻ vòi vĩnh:


- Bà Pomponia sẽ quay trở về thành phố trong những ngày này, vậy xin nàng hãy làm việc ấy, hãy làm nhé, carissma của tôi!


- Em tùy ý bà Pomponia đấy... - Ligia nói, mặt nàng cảng đỏ lựng lên khi nghĩ đến “bà phù dâu”.


Rồi họ trở lại im lặng, bởi tình yêu khiến cho hơi thở nghẹn lại trong lồng ngực đôi trẻ. Ligia đứng tựa lưng vào gốc cây trắc bá, khuôn mặt trắng trong bóng râm mang dáng một đóa hoa, đôi mắt nàng nhìn xuống và khuôn ngực nàng phập phồng gấp gấp, còn mặt Vinixius thì nhợt nhạt và biến sắc. Giữa cái yên ả phương nam, họ nghe rõ tiếng đập thình thịch của chính trái tim mình. Và trong niềm say nhau, cây trắc bá kia, những khóm sim thơm và dây trường xuân của ngôi nhà mùa hè nọ đã trở thành khu vườn ái ân của họ.


Nhưng bà Miriam đã hiện ra trong khung cửa mời họ ăn trưa. Họ ngồi giữa hai vị Sứ đồ. Cả hai hài lòng nhìn họ như nhìn một thế hệ trẻ, mà sau khi lớp già qua đời, sẽ chịu trách nhiệm giữ gìn và gieo tiếp những hạt giống của giáo lý mới. Ông Piotr bẻ và ban phước cho chiếc bánh mì. Trên tất cả các khuôn mặt đều hiện ra vẻ thanh tĩnh và niềm hạnh phúc lớn lao như đang tràn ngập cả căn nhà.


- Con thấy đấy - mãi sau ông Paven xứ Tarxu quay sang Vinixius - lẽ nào chúng ta lại là kẻ thù của cuộc sống và niềm vui?


Chàng đáp:


- Con đã hiểu sự thật rồi, con chưa bao giờ thấy hạnh phúc như khi được sống giữa các người.


***




Chương XXXV


 


Chiều ấy, khi đi ngang qua Forum trở về nhà, Vinixius nhìn thấy bên lối vào Viecx Tureux chiếc kiệu mạ vàng của ông Petronius do tám người  Bitini khiêng, chàng bèn vẫy tay bảo họ dừng lại và tiến sát tấm rèm che kiệu.


- Chúc cậu giấc ngủ say sưa và êm dịu!  - chàng gọi và bật cười khi nhìn thấy ông Petronius đang ngủ.


- À, ra anh! - ông Petronius mở choang mắt, thốt ra - Phải! Cậu vừa chợp mắt một chút, vì cả đêm cậu ở trên Palatyn. Bây giờ cậu vừa mới đi mua chút ít mang theo đến Anxium để có cái đọc... Có gì mới không anh?


- Cậu vẫn đang lung sách đấy ư - Vinixius hỏi.


- Ừ. Vì không muốn làm lộn xộn thư viện, nên cậu mua thêm một ít sách riêng mang đi đường. Hình như mới ra một số sách mới của Muxonius và Xeneka. Cậu cũng đi tìm sách của Perxius và một bản in các bài mục ca củ Vergil mà cậu chưa có. Ôi, cậu phát mệt cả người, phát đau cả tay vì tháo các bó sách đây này bởi vì hễ cứ vào hiệu sách là lại muốn xem cái này cái kia một chút. Cậu đã tới hiệu sách Avirunux, hiệu Atraktax trên đồi Argiletum, trước đó đã tới hiệu Xozius ở Vieux Xanđalariux. Nói có thần Kaxtor! Cậu buồn ngủ quá đi mất!...


- Cậu đã có mặt trên đồi Palatyn, vậy cháu xin hỏi có gì mới chăng? Hay thế này vậy cậu nhé! Cậu bảo chúng nó mang kiệu và các gói sách về nhà còn cậu tới nhà cháu. Ta sẽ chuyện trò về Anxium và về một việc khác nữa.


- Hay lắm - ông Petronius vừa nói vừa bước ra khỏi kiệu - Nhưng mà anh cần biết là ngày kia chúng ta phải đi Anxium rồi đấy.


- Làm sao cháu biết được cơ chứ?


- Anh đang sống ở thế giới nào vậy? Thế ra cậu là người đầu tiên báo cho anh tin ấy hay sao? Phải! Hãy sửa soạn vào sáng ngày kia. Đâu ngậm dầu ô liu chẳng ích gì, khăn lụa quàng quanh cái cổ to bự cũng chẳng ích gì: Râu Đỏ bị khản tiếng! Vậy nên không thể nào trì hoãn được nữa. Hoàng đế nguyền rủa thành Roma và bầu không khí ở đây, nguyền rủa cả thế giới. Ngài sẽ sung sướng lắm nếu sang được nó thành bình địa hoặc đốt trụi nó đi, ngài chỉ muốn ra biển càng nhanh càng tốt. Ngài nói rằn những mùi hôi thối mà gió mang từ các dẫy phố chật chội kia về sẽ đẩy ngài xuống mồ. Hôm nay, người ta đã dâng biết bao lễ vật lên tất cả các thần miếu để cầu xin giọng hát của ngài được hồi phục lại. Và đáng thương thay cho thành Roma, nhất là cho Nguyên lão viện, nếu như nó không mau mau bình phục.


- Vậy thì chẳng còn lý do gì để đi Akhai nữa cả.


- Thánh thượng của chúng ta đâu có phải chỉ có mỗi một thứ thiên tài ấy? - ông Petronius vừa đáp vừa cười - Ngài sẽ biểu diễn ở hội thi olimpie với tư cách một thi sĩ bằng chính tác phẩm của ngài về đám cháy thành Tơroa, với tư cách một người đua xe, một nhạc công, một lực sĩ, thậm chí như một vũ công - và trong mọi trường hợp, ngài đều đoạt được tất cả các vương miện dành cho kẻ thắng cuộc. Anh có biết tại sao con khỉ ấy bị khản tiếng không? Đó là vì hôm qua ngài muốn sánh tài nhẩy múa với Paryx, ngài đã múa biểu diễn cho chúng tôi xem câu chuyện ly kỳ của nữ thần Leđa, ngài mới toát mồ hôi ra và bị cảm lạnh đấy. Thân mình ngài ướt và dính nhem nhép như một con cá sình vừa lôi từ dưới nước lên. Ngài thay hết mặt nạ này đến mặt nạ khác, uốn lượn như một con thoi, vung vẩy đôi tay như một tên thủy thủ say rượu, thật phát buồn nôn khi nhìn cái bụng to tướng trên cặp chán khẳng khiu. Paryx đã huấn luyện cho ngài suốt hai tuần liền, nhưng anh cứ hình dung gã Ahenobarbux trong vai nữ thần Leđa hay chúa thiên nga mà xem! Thiên nga ra thiên nga! Chẳng cần nói thêm làm gì! Ấy thế mà ngài lại muốn công diễn cái kịch câm này đấy, trước tiên tại Anxium, sau đó sẽ tại Roma.


- Người ta đã phát ớn khi nghe ngài hát rồi, nhưng cứ nghĩ rằng một vị Hoàng đế La Mã lại trình diễn kịch câm thì, ôi thôi! La Mã có lẽ không sao chịu đựng nổi chuyện ấy!


- Anh cháu thân yêu ơi! La Mã có thể chịu đựng nổi mọi thứ, và Nguyên lão viện sẽ đồng thanh cảm ơn “người cha của tổ quốc!”.


Lát sau ông tiếp lời:


- Đám tiện dân thậm chí còn tự hào rằng Hoàng đế là một thằng hề nữa kia.


- Cậu hãy nói xem liệu có thể tồi tệ hơn được nữa hay không!


Ông Petronius nhún vai:


- Anh cứ chúi trong nhà, trong những suy nghĩ về nàng Ligia và đám tín đồ Thiên chúa, nên có lẽ anh không hay chuyện gì vừa xảy ra vài ngày trước đây Nerô đã công khai làm lễ cưới chàng Pitagorax! Hoàng đế sắm vai cô dâu! Chuyện quá mức điên rồ phải không? Và anh sẽ bảo sao: bọn thầy tu flamin được vời đến đã tới, long trọng làm lễ cưới cho Hoàng đế! Chính cậu cũng có mặt trong buổi lễ đó! Cậu có thể chịu đựng được nhiều điều, nhưng xin thú thật, cậu đã nghĩ rằng, nếu quả các thần có thật thì hẳn họ sẽ phải ra tay trừng phạt... Nhưng Hoàng đế không tin các thần và ngài có lý.


- Một con người vừa là thầy cả thượng đảng, vừa là thần, lại vừa là kẻ vô thần - Vinixius thốt lên.


Ông Petronius lại cười.


- Quả có thế! Cậu không nghĩ ra, nhưng đó quả thật là một sự kết hợp mà thế giới chưa từng được thấy bao giờ.


Rồi ông đứng dậy nói:


- Và cũng cần phải thêm, rằng chính vị thầy cả thượng phẩm ấy không hề tin các thần, còn vị thần kia vốn giễu cợt thần linh lại sợ hãi họ, bởi y là một kẻ vô thần.


- Bằng chứng là chuyện xảy ra ở thần miếu Vexta.


- Thế gian ơi là gian thế!


- Thế gian nào thì vua nấy! Nhưng chuyện ấy chẳng kéo dài lâu đâu.


Vừa trò chuyện, họ vừa bước vào ngôi nhà của Vinixius: chàng vui vẻ sai dọn bữa tối, rồi quay sang nói với ông Petronius.


- Không đâu, thưa cậu, thế giới phải được tái sinh.


- Chúng ta không thể nào tái sinh thế giới - ông Petronius đáp - Trong thời Nerô, con người chỉ là cánh bướm: nó sống đấy trong vầng dương ân sủng nhưng khi cơn gió lạnh đầu tiên nổi lên thì nó đã lìa đời.. dù nó không muốn thế! Thề có con trai của nữ thần Maia! Nhiều lần cậu tự đặt ra cho mình câu hỏi; vì phép mầu nhiệm nào mà cái lão già Luxius Xaturniux lại sống tới những chín mươi ba tuổi, sống qua cả Tyberius, Kaligula, Klauđius?... Nhưng mà thôi. Anh cho phép cậu phái kiệu anh đi đón Eunixe nhé. Cơn buồn ngủ qua rồi, cậu muốn vui chơi một chút. Hãy ra lệnh cho bọn nhạc công đàn tranh đến phục vụ bữa tối, rồi sau đó chúng ta sẽ trò chuyền về Anxium. Cần phải suy nghĩ về chuyện ấy, nhất là anh.


Vinixius ra lệnh đi đón Eunixe, song chàng nói rằng chàgn không hề muốn phải đau đầu cân nhắc về chuyến đi Anxium. Cứ để mặc cho chúgn vò đầu bứt tai, những kẻ không biết sống theo cách nào khác ngoài cách sống trong ánh dương ân sủng của Hoàng đế. Thế giới không phải kết thúc trên đồi Palatyn, đặc biệt là đối với những người có một cái gì khác trong trái tim và trong tâm hồn.


Chàng nói điều ấy một cách phóng khoáng, sôi nổi và vui vẻ đến nỗi ông Petronius đâm để ý, ông chăm chú ngắm chàng rồi hỏi:


- Anh làm sao thế? Hôm nay anh trông hệt như thời anh còn đeo bùa khánh trên cổ vậy.


- Cháu sung sướng quá - Vinixius thốt lên - Cháu cố tình mời cậu về đây để nói với cậu chuyện ấy.


- Có chuyện gì xảy ra với anh thế?


- Có một điều mà dẫu có đổi cả đế quốc La Mã cháu cũng không đánh đổi.


Nói đoạn, chàng ngồi xuống, tỳ tay vào tay ghế, ngả đầu tự lên lưng ghế và bắt đầu nói, với khuôn mặt tươi cười, cái nhìn tỏa sáng:


- Cậu còn nhớ cái lần chúng ta cùng đến nhà ông Aulux Plauxius, nơi đó, lần đầu tiên cậu được trông thấy nàng thanh nữ thiên thần, người mà chính cậu đã phải gọi là Nữ thần Rạng Đông và Nàng Xuân hay chăng/ cậu có nhớ nàng Pxyse đó, nàng thiếu nữ không ai sánh nổi, người đẹp nhất trong số tất cả các trinh nữ và các nữ thần trên đời hay chăng?


Ông Petronius nhìn chàng kinh ngạc, dường như muốn kiểm tra xem đầu óc chàng có bình thường hay không.


- Anh nó bằng thứ tiếng gì vậy? - mãi sau ông mới nói - Tất nhiên là cậu còn nhớ nàng Ligia.


Vinixius nói:


- Cháu là hôn phu của nàng.


- Cái gì?


Nhưng Vinixius đã đứng bật dậy và gọi viên quản nô.


- Bảo tất cả nô lệ đến đây trước mặt ta, không trừ một ai hết! Nhanh lên!


- Anh là chồng chưa cưới của nàng à? - ông Petronius hỏi lại.


Nhưng trước khi ông chưa kịp trấn tĩnh con thảng thốt thì gian chính sảnh của nhà Vinixius đã đông đặc người. Hổn hển chạy vào những cụ già, đàn ông tráng niên, đàn bà, đám thiếu niên, thiếu nữ. Mỗi lúc gian chính sảnh một thêm chật ních. Trong các hành lang được gọi là fauces vang lên những tiếng gọi nhau bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ. Lát sau, tất cả mọi người xếp thành một khối dày đặc dọc theo tường và đứng giữa các hàng cột; chàng Vinixius đứng gần bể hứng nước mưa, quay về phía Đemax - nô lệ  giải phóng và nói:


- Những ai đã phục dịch trong nhà ta hai mươi năm, sáng mai hãy có mặt tại dinh pháp quan, sẽ được trả tự do; những ai chưa đủ thời gian sẽ được nhận mỗi người ba thoi vàng và khẩu phần ăn gấp đôi trong suốt cả tuần. Gửi lệnh ngay tới các nhà gia hình ở thôn quê bảo tha phạt, tháo xiềng khỏi chân mọi người và cho họ ăn uống tử tế. Các người hãy biết là ta có một ngày hạnh phúc, ta muốn cả nhà đều vui.


Họ đứng lặng hồi lâu, dường như không tin vào tai mình nữa, rồi tất thảy các cánh tay nhất loạt vươn lên trời, tất thẩy những cái miệng đều kêu lên:


- Aa! Ông chủ! Aa!...


Vinixius vẫy tay ra hiệu cho họ ra ngoài, nên mặt dù muốn được cảm ơn và được phục xuống chân chàng, họ vội vã bước ra ngoài. Niềm sung sướng tràn ngập cả ngôi nhà, từ tầng hầm lên đến tận mái.


- Ngày mai  - Vinixius nói - cháu sẽ ra lệnh cho họ ra vườn, mỗi người sẽ vẽ trước mặt dấu hiệu gì họ muốn. Những ai vẽ hình con cá sẽ được chính Ligia phóng thích.


Nhưng ông Petronius, người vốn chẳng bao giờ ngạc nhiên quá lâu về bất cứ chuyện gì, đã trấn tĩnh lại và hỏi:


- Cá hả? A ha! Cậu nhớ ra điều mà lão Khilon nói: đó là biểu tượng của người Thiên chúa giáo.


Rồi ông chìa tay cho chàng Vinixius mà bảo:


- Hạnh phúc luôn luôn có mặt tại nơi nào người ta tìm thấy nó. Cầu nữ thần Flora sẽ rải đầy hoa dưới chân anh chị suốt cả những tháng năm dài. Cậu chúc anh tất cả những điều gì mà anh muốn tự chúc cho bản thân mình.


- Cháu xin cám ơn cậu. Cháu lại cứ nghĩ rằng cậu sẽ khuyên cháu làm ngược lại kia chứ, mà cậu thấy đấy, khuyên như thế chỉ là chuyện tốn thì giờ vô ích mà thôi.


- Cậu khuyên ngược lại? Đời nào! Trái lại thì có: cậu bảo rằng anh làm thế là hay lắm.


- Ha, kẻ tráo trở! - Vinixius vui vẻ kêu lên - Thế cậu quên điều cậu đã nói với cháu khi chúng ta rời nhà bà Grexyna rồi sao?


Ông Petronius thản nhiên trả lời:


- Không quên! Nhưng mà cậu đã thay đổi ý kiến rồi.


Lát sau ông nói thêm:


- Cháu thân yêu! Ở La Mã mọi thứ đều thay đổi. Các đức ông chồng thay đổi vợi, các bà vợ thay đổi chồng, vậy hà cớ gì cậu lại không thay đổi ý kiến cơ chứ? Chỉ một chút xíu nữa thôi là Nerô đã cưới nàng Akte, cô gái mà người ta đã cố gắng chứng minh cho Hoàng đế thấy là nàng thuộc dòng dõi hoàng tộc. Thế rồi sao? Ngài sẽ có được một người vợ ngay thẳng, còn chúgn ta có một vị hoàng hậu chính trực. Thề có thần Proteus và những vùng biển hoang vắng của thần! Cậu sẽ luôn luôn thay đổi ý kiến, khi nào cậu xem là thích hợp hoặc có lợi. Còn nếu nói về Ligia, thì dòng dõi hoàng tộc của nàng còn chắc chắn hơn nhiều so với các  bậc cha ông đáng nghi vấn của Akte. Tuy nhiên, tại Anxium anh phải chú ý tới Popea đấy nhé, cô ả hay thâm thù lắm!


- Không bao giờ! Tại Anxium sẽ không ai động được tới một sợi tóc cháu đâu!


- Nếu như anh cho rằng anh có thể làm cậu ngạc nhiên thêm một lần nữa thì  anh nhầm đấy! Nhưng làm sao anh có thể nói chắc thế?


- Chính đức Sứ đồ Piotr bảo cháu thế?


- À! Đức Sứ đồ Piotr bảo anh! Vậy thì chẳng có gì phải bàn, tuy nhiên xin hãy cho phép cậu được lo trước một vài biện pháp dự phòng, dù đó chỉ là để ông Piotr khỏi phải trở thành một nhà tiên tri không đúng; một khi Sứ đồ tình cờ nhầm lẫn, ông ta có thể sẽ đánh mất lòng tin của chúa, lòng tin chắc chắn sẽ còn có ích cho Piotr Sứ đồ.


- Cậu muốn làm gì xin cứ làm, nhưng cháu vẫn tin ông ấy. Còn nếu cậu nghĩ rằng cậu có thể chia rẽ cháu với ông ấy bằng cách lặp đi lặp tên ông với vẻ giễu cợt thì cậu nhầm đấy.


- Nếu vậy, hãy còn có một câu hỏi nữa: Anh đã trở thành tín đồ Thiên chúa giáo chưa?


- Cho đến lúc này vẫn chưa, nhưng ông Paven xứ Tarxu sẽ cùng đi với cháu để giải thích cho cháu giáo thuyết của đức Chúa Crixtux, sau đó cháu sẽ chịu lễ rửa tội. Điều mà trước đây cậu nói với cháu, rằng bọn họ là kẻ thù của sự sống và tình yêu là một điều không đúng.


- Thế thì lại càng tốt cho anh và Ligia chứ sao - ông Petronius đáp.


Rồi ông nhún vai nó như tự nhủ:


- Tuy nhiên, thật là điều đang ngạc nhiên, tại sao những con người này lại biết cách chinh phục tín đồ giỏi thế, làm sao cái đạo giáo này lại mở rộng ra đến thế?


Vinixius trả lời nhiệt tình cứ như chàng đã được rửa tội:


- Vâng! Hàng nghìn, hàng chục nghìn người ở Roma, ở các thành phố của Italia, Hi Lạp và châu Á. Tỏng hàng ngũ các chiến đoàn và lính cấm vệ cũng có tín đồ Thiên chúa giáo, họ có mặt ngay cả trong hoàng cung. Giác ngộ giáo thuyết này có cả nô lệ lẫn công dân, kẻ nghèo và người giàu, tiện dân và quý tộc. Cậu có biết rằng một số người trong dòng họ Kornelius cũng là tín đồ Thiên chúa, bà Pomponia Grexyna là tín đồ Thiên chúa. Akte và hình như cả Oktavia nữa cũng vậy. Vâng! Giáo thuyết này đang chiếm lĩnh thế giới và chỉ mỗi mình nó có thẻ làm cho thế giới được hồi sinh. Xin cậu chớ có nhún vai, biết đâu sau một tháng hoặc một năm nữa chính cậu lại chẳng thừa nhận nó.


- Cậu ấy ư? - ông Petronius thốt lên - Không! Thề có con trai của nữ thần Leto! Cậu sẽ không thừa nhận nó, dù cho nó có chứa đựng chân lý và sự thông tuệ của cả nhân loại lẫn thần linh chăng nữa. Việc ấy đòi hỏi phải khá nhọc công, mà cậu thì không thích nhọc lòng... Nó đòi hỏi phải chối bỏ bản thân mình, mà cậu thì không hề muốn từ bỏ bất cứ cái gì trong cuộc đời... Với bản tính giống như nước sôi lửa bỏng của anh, lúc nào anh cũng có thể bắt gặp một thứ gì tương tự như thế, nhưng còn cậu? Cậu có những viên ngọc chạm những đá mài chạm nổi, những chiếc bình cổ và nàng Eunixe của cậu rồi. Cậu không tin vào thế giới Olimpơ, song cậu sẽ tự tạo ra cho mình một Olimpơ trên mặt đất, cậu sẽ trổ hoa kết trái cho tới khi những mũi tên của vị thận xạ xuyên suốt qua người cậu, hay tới lúc Hoàng đế ra lệnh cho cậu phải tự mở phanh mạch máu. Cậu đã chót yêu hương hoa đồng thảo và một phòng tiệc đầy đủ tiện nghi mất rồi. Thậm chí, cậu cũng đã đâm thích các vị thần linh của chúng ta... với tư cách những hình tượng hoa mỹ, cậu thích cả Akhai, nơi cậu sẽ đi đến cùng với vị Hoàng đế béo ị, chân khẳng khiu vô song, thiêng liêng của chúng ta, một Auguxt, một Periođonixex, một Herkulex - Nerô!


Nói đoạn, ông lại bật cười khi nghĩ rằng ông có thẻ sẽ tiếp thu giáo thuyết của những người dân đánh cá xứ Galilei, ông cất giọng hát khe khẽ:


Ta sẽ quấn lưỡi gươm sáng của ta bằng lá trường xuân xanh biếc.


Theo vết Harmođiox và Aryxtagiton...


Song ông chợt ngừng lại vì viên xướng danh báo là nàng Eunixe đã đến.


Ngay sau khi nàng tới, bữa tối cúng được dọn ra. Trong lúc ăn tối, sau khi nghe một nghệ sĩ đàn tranh ca mấy khúc, Vinixius thuật lại cho ông Petronius nghe chuyện lão Khilon đến thăm chàng, cuộc thắm viếng ấy đã khiến chàng nẩy ra ý nghĩ đi gặp thẳng các vị sứ đồ, ý nghĩ ấy đã nẩy ra vào lúc đang trừng phạt lão Khilon.


Nghe thấy thế, ông Petronius - người đã lại bắt đầu buồn ngủ - bèn đặt tay lên trán và nói:


- Một khi kết quả đã tốt thì ý tưởng phải là tốt. Còn nếu nói về lão Khilon, thì phải tay cậu, chắc cậu đã tặng cho lão tới năm thoi vàng. Song nếu anh đã ra lệnh nện lão, tốt nhất anh cứ nện tiếp là hơn, bởi biết đâu sau này chẳng có lúc ngay cả các vị nguyên lão nghị viên cũng sẽ phải cúi đầu chào lão như giờ đây họ đang phải chào vị hiệp sĩ - thợ giầy Vatynius của chúng ta! Chúc anh ngon giấc!


Rồi tháo vòng hoa, ông cùng nàng Eunixe sửa soạn ra về. Khi họ đã đi, Vinixius bèn vào thư viện và viết cho nàng Ligia những dòng sau đây:


“Hỡi thần nữ, tôi muốn khi nàng mở đôi mắt tuyệt mỹ của mình ra, thì bức thư này sẽ nói với nàng: Chào em! Vì thế hôm nay tôi vẫn cứ viết, dẫu ngày mai đã lại được gặp nàng. Ngày kia Hoàng đế sẽ đi Anxium, và tôi, than ôi! Phải tùy giá ngài. Như tôi đã nói với nàng, không có đủ can đảm để chết. Song nếu nàng muốn, xin cứ viết cho tôi một chứ, tôi sẽ ở lại, mặc cho cậu Petronius phải tìm bằng được cách tránh mối hiểm họa cho tôi. Hôm nay, trong cái ngày vui sướng này, tôi đã ban thưởng cho tất cả nô lệ, ngày mai tôi sẽ đưa những kẻ nào đã phục dịch trong nhà đủ hai mươi năm tới gặp pháp quan để giải phóng cho họ. Nàng thân yêu, chắc nàng sẽ ngợi khen tôi, vì tôi nghĩ rằng việc đó hợp với giáo thuyết mà nàng thuận theo hơn nữa, tôi sẽ bảo với họ rằng họ chịu ơn nàng về việc được giải phóng để họ biết ơn và ngợi ca tên tuổi của nàng. Còn chính tôi sẽ tự nguyện làm một kẻ nô lệ cho hạnh phúc và cho nàng, cầu trời đừng bao giờ tôi bị giải phóng! Đáng nguyền rủa thay cái xứ Anxium lẫn chuyến đi du hành của Ahenobarbux! Tôi may mắn xiết bao, bởi đã không được thông thái như cậu Petronius, vì nếu không, tôi nhất thiết sẽ phải đi Akhai. Hồi ức về nàng sẽ làm dịu ngọt giây phút chia tay. Bất cứ lúc nào có dịp, tôi sẽ nhảy ngay lên lưng ngựa và phóng ngay về Roma để mắt tôi được vui sướng ngắm nhìn nàng, tai tôi được lắng nghe giọng nói ngào ngọt của nàng. Bất cứ lúc nào có thể, tôi sẽ phải nô lệ mang thư về hỏi thăm nàng. Xin cầu chúc nàng mạnh khỏe, hỡi thần nữ, tôi xin được ôm đôi chân nàng. Xin chớ giận tôi đã mạo muội gọi nàng là thần nữ. Nếu nàng cấm, tôi xin vâng lời, nhưng hôm nay tôi vẫn chưa biết gọi nàng bằng cách nào khác. Từ ngôi nhà tương lai của nàng, bằng tất cả tâm tình, xin chúc nàng sức khỏe”.


***




Chương XXXVI


 


Ở Roma, người ta đều biết rằng dọc đường Hoàng đế muốn ghé thăm Otia, mà thực ra là thăm chiếc tàu thủy vĩ đại nhất thế giới vừa chở ngũ cốc từ Alecxanđria tới, rồi từ đó mới đi theo Đường Bờ Biển([3]) đến Anxum. Mệnh lệnh đã được ban bố mấy ngày trước, nên ngay từ tinh mơ, cạnh cổng Pota Oxtienxix đã tụ tập những đám đông tiện dân địa phương cùng đủ loại người tứ xứ để được nhìn ngắm thỏa thuê đoàn tùy già Hoàng đế, thứ mà đám tiện dân La Mã chẳng bao giờ được nhìn cho thỏa. Đường đến Auxinm không khó đi cũng chẳng xa là bao, ở chính cái thành phố gồm toàm lâu đài và biệt thự được bài trí tuyệt với ấy cũng có thể tìm được tất cả các vật dụng cần thiết cho tiện nghi sinh hoạt, thậm chí cả những thứ xa hoa nhất thời ấy. Nhưng những khi đi đường, Hoàng đế có thói quen mang theo tất cả những đồ vật mà ngài ưa thích, từ những nhạc cụ và đồ gia dụng, tới các pho tượng và đồ khảm ghép những thứ ấy sẽ được người ta bày ra ngay cả khi ngài mống dừng chân qua loa dọc đường để nghỉ ngơi hay dùng bữa. Vì thế, mỗi chuyến du ngoạn có hàng đoàn tôi tớ phục dịch riêng cho ngài, chưa kể cá toán cấm vệ và đám cận thần, mỗi người trong bọn họ lại có riêng một đoàn nô lệ nữa.


Sáng sớm hôm ấy, đám mục phu ở Kampania, chân dận dép da dê, với nét mặt xạm nắng, xua qua cổng thành năm trăm con lừa cái, để ngày mai, khi tới Anxium, nàng Poppea đã có thể tắm bằng seã của chúng theo thói quen. Dân chúng cười khoái chí khi nhìn những chiếc tai dài của đàn lừa ve vẩy trong đám bụi mù và sung sướng nghe tiếng roi quất cùng những tiếng hò hét man dại của đám mục phu. Sau khi đàn lừa cái đi qua liền có một đám đông các tiểu đồng lao ngay ra đường, dọn mặt đường, thật sạch sẽ, rồi rải hoa và những lá thông lên đó. Trong đám đông, người ta trầm trồ kháo nhau với một cảm giác đầy tự hào, rằng suốt dọc con đường, cho tới tận Anxium, đều được trải hoa như thế, những đóa hoa lấy trong các khu vườn tư nhân địa phương hoặc mua lại với giá cắt cổ của của bọn con buôn ở cổng Pota Mugionix. Trời càng sáng, đám người mỗi lúc một đông thêm. Một số người dẫn theo cả bầu đoàn thê tử, và để khỏi cảm thấy thời gian chờ đợi quá dài, người ta bèn bày đồ ăn thức uốn mang theo lên những phiến đá được xếp sẵn gần thần miếu mới của nữ thần Xerera và ăn bữa điểm tâm([4]) ngoài trời. Đây đó, người ta tụ tập thành từng nhóm trong đó có những tay giang hồ lão luyện cầm cương. Nhân chuyến đi của Hoàng đế, người ta bàn tán về những chuyến du hành sắp tới của ngài và về chuyện du hành nói chung, trong đó đám thủy thủ và binh lính đã mãn hạn quân dịch thuật lại chuyện lạ về các vùng đất mà họ từng được nghe nói tới trong những chuyến viễn du, những vùng đất chưa hề có một bàn chân La Mã nào đặt tới. Đám thị dân địa phương, những kẻ trong đời chưa lần nào đi quá Via Appia, kinh ngạc hóng nghe những chuyện thần kỳ của xứ Ấn Độ và Ả Rập, về các quần đảo vây quanh Brytania, về hòn đảo nhỏ nơi Briarix giam giữ thần Xaturn đang say ngủ, về những xứ sở của ma quỷ, những đất nước miền cực bắc, về những mặt biển bị đông cứng lại, về tiếng rống và tiếng rít mà nước Đại dương phát ra khi mặt trời chìm xuống làm nước biển thẳm xanh. Những câu chuyện ấy chiếm ngay được lòng tin của đám tiện dân, thậm chí cả những kẻ như Plinius và Taxyt cũng tin. Người ta cũng nói về chiếc tàu thủy mà Hoàng đế sẽ viếng thăm, nó chở theo một lượng lúa mì đủ dùng trong hai năm, chưa kể tới bốn trăm du khách, cùng với ngần ấy người trong đoàn thủy thủ và cơn man dã thú, đám thú được sử dụng trong dịp thế vận hội mùa hè. Chuyện đó đã gây nên sự ủng hộ chung của mọi người đối với Hoàng đế, ngài không chỉ nuôi sống mà còn giải trí cho dân chúng nữa. Họ sẵn sàng chào đón ngài thật nồng nhiệt.


Vào lúc ấy xuất hiện một đơn vị kỵ binh người Numiđi thuộc đám lính cấm vệ. Họ mặc những chiếc áo dài màu vàng, thắt lưng đỏ, với những tấm che tai to tướng hắt ánh vàng lên những bộ mặt đen đúa của họ. Những ngọn giáo tre của họ sáng loáng trong ánh mặt trời, giống như những ngọn lửa. Sau khi họ đi qua, bắt đầu xuất hiện một đoàn người trông hệt một đám rước. Đám người dồn lấn nhau để có thể nhìn được gần hơn con đường qua cổng thành, song những toán bộ binh cấm vệ đã tiến đến đứng dọc hai bên cổng thành để ngăn chặn. Dẫn đầu là những cỗ xe chở lều trại bằng vải màu đỏ thắm, màu đỏ và màu tím, những chiếc lều bằng vải byxu trắng như tuyêt, khâu chỉ vàng, những tấm thảm tranh phương Đông, những chiếc bàn, những mảnh tranh ghép, các đồ dùng nhà bếp, những chiếc lồng chứa chim chóc phương Đông, phương Nam, phương Tây mà bộ óc hoặc cái lưỡi của chúng sẽ được dâng lên bàn ngự; những chiếc vò lớn đựng rượu cùng những sọt hoa quả. Còn những đồ vật mà người ta sợ sẽ bị cong vênh hoặc dập vỡ nếu xếp vào xe thì được các nô lệ xách tay. Người ta trôn thấy hàng trăm người mang những chiếc độc bình và những pho tượng bằng đồng thau Koryntơ, những toán riêng biệt mang các độc bình bạc hoặc bằng thủy tinh Alecxanđria. Vây quanh họ là những tốp lính cấm vệ đi bộ hoặc cưỡi ngựa, mỗi toán nô lệ lại có các viên quản nô canh giữ, chúng được trang bị những chiếc roi, đầu có gắn một thỏi chì hoặc sắt thay cho cái vút. Đoàn diễu hành gồm toàn những con người đang chăm chú và thận trọng mang đủ các thứ vật dụng nom hệt như một đám rước tôn giáo trọng thể. Sự giống nhau ấy lại càng rõ rệt hơn khi đến lượt các nhạc cụ của Hoàng đế và đám quần thần diễu qua. Người ta trông thấy những chiếc thu cầm, đàn luýt Hi Lạp, đàn luýt Do Thái, và Ai Cập, đàn lia, đàn forming, đàn tranh, những chiếc sáo những kèn buxyn và xymban dài lượt thượt bị gập lại. Nhìn cả một biển nhạc cụ đang lấp lánh trong nắng mặt trời với những ánh vàng, ánh đồng, những đá quý và hạt trai, có thể ngỡ như thần Aponlon hay thần Bacux đang lên đường du hành quanh thế giới. Rồi tiếp theo hiện ra những cỗ xe lớn đẹp tuyệt vời, chở đầy bọn nhào lộn, vũ công, vũ nữ, chia thành nhiều nhóm lòe lọet, với những thần trượng cầm tay. Theo sau chúng là đám nô lệ không dùng để phục dịch mà để phô trương sự xa hoa: nghĩa là những thị đồng và thị nữ được lựa chọn từ Hi Lạ và Tiểu Á mang về, tóc buông dài hoặc cuộn thành búi bọc trong lưới vàng, trông giống những thiên đồng, với những khuôn mặt đẹp tuyệt vời nhưng lại trát một lớp son phấn đầy bự để ngọn gió của vùng Kampania khỏi làm xạm mất làn da mịn màng của chúng.


Rồi lại đến một đơn vị lính cấm vệ gồm toàn những người Xykamber khổng lồ, râu quai nón, tóc trắng hoặc hung, mắt xanh. Đi trước họ là đám lính cầm cờ, được gọi là imaginaria, mang theo những con đại bàng La Mã, những chiếc bảng hiệu, những pho tượng của các vị thần Geman và La Mã, cuối cùng là những pho tượng toàn than và bán than của chính Hoàng đế. Từ dưới lớ giáp bằng da và sắt lộ ra những cánh tay xạm màu sương gió của các chiến sĩ, lực lưỡng như những chiếc máy chiến chinh, có thể sự dụng nổi các loại vũ khí nặng nề mà loại lính bảo vệ này được trang bị. Mặt đất như võng xuống dưới những nhịp bước chân nặng trình trịch và đều đặn của họ, còn họ, dường như cũng ý thức được sức mạnh của mình, sức mạnh mà họ có thể dùng để chống lại ngay cả các vị hoàng đế, họ cao ngạo nhìn đám thị dân, hẳn họ  đã quên mất rằng nhiều kẻ trong bọn họ đã từng phải đeo xiềng xích khi tới thành phố này. Song tốp lính này không nhiều, bởi lực lượng chính của lính cấm vệ vẫn đóng quân nguyên trong các trại binh để canh phòng và duy trì trật tự thành phố trong hàm thiếc. Tiếp theo sau đó, người ta chở đám sư tử và hổ báo của Nerô, để nếu ngài có nẩy ra ý định học đòi thần Đionizox, thì đã sẵn có súc vật để thắng vào cỗ xe diễu hành. Những người Hinđu và Ả Rập kéo cũi đi bằng những sợi xích thép có vòng, nhưng được quấn nhiều hoa đến nỗi ngỡ như chúng được ghép lại toàn bằng những đóa hoa. Những con vật được đám nô lệ dạy thú thành thạo thuần hóa, nhìn đám đông bằng những đôi mắt xanh lè, như đang ngái ngủ, thỉnh thoảng lại vươn cái đầu to tướng thèm thuồng hít hít hơi người, hoặc thè lưỡi lởm chởm những gai ra liếm mõm.


Đi tiếp theo sau là những cỗ xe và kiệu của Hoàng đế lớn và nhỏ, vàng và đỏ, được khảm ngà voi, ngọc trai cùng những viên ngọc quý lóng lánh ánh sáng. Sau chúng lại đến một đơn vị nhỏ lính cấm vệ mặc  sắc phục La Mã, gồm toàn những người lính tình nguyện Italia([5]). Rồi lại tới một đám đông tiểu đồng và thị nữ phục sức sang trọng, và cuối cùng là chính Hoàng đế, mà tiếng hò reo náo nhiệt của dân chúng từ đàng xa báo tin nài sắp tiến đến.


Trong đám đông, có mặt đức Sứ đồ, người một lần trong đời muốn được thấy mặt Hoàng đế. Cùng đi với ông có Ligia, nàng che mặt bằng một chàng mạng dầy và bác Urxux, sức mạnh cảu bác là sự bảo trợ chắc chắn cho nàng thiếu nữ giữa đám người nhốn nháo và đầy phấn kích này. Bác già người Ligi bê một tảng đá dùng để xây thần miếu mang tới cho đức Sứ đồ, đứng trên đó Ngưòi có thể trông rõ hơn kẻ khác. Thoạt tien, khi bác vần tảng đá, trong giống như một con tàu phá sóng, đám đông đã bắt đầu xì xào bàn tán, rồi tới khi một mình bác nhấc bổng cả tảng đá mà ngay cả bốn người khỏe nhất trong các cư dân của Hoàng đế cũng không thể lay chuyển nổi, thì tiếng xì xào biến thành kinh ngạc. Những tiếng kêu “Macte!” vang lên khắp bốn chung quanh. Song chính vào lúc đó Hoàng đế vừa tới. Ngài ngự trên một cỗ xe làm theo dạng chiếc lều, được sáu con ngựa bạch giống Iđumei đóng cương vàng kéo đi. Cỗ xe hìn lều được cố ý chừa trống lại hai bên để dân chúng có thể được chiêm ngưỡng Hoàng đế của họ. Xe có thể ngồi được tới vài người, nhưng muốn người ta chỉ tập trung chú ý vào mỗi mình ngài, nên Nerô chỉ đi một mình trong xe ngang qua thành phố, dưới chân ngài phủ phục hai chú lùn gù lưng. Ngài mặc một chiếc áo tunica trắng và một chiếc toga màu ngọc tím, áo hắt ánh xam xám lên mặt ngài. Đầu ngài đội một vòng nguyệt quế. Kể từ khi đi Neapolix về, ngài béo ra trông thấy. Mặt ngài mập bự ra, phía dưới hàm chảy xị chiếc cằm hai ngấn, khiến cho miệng ngài - vốn đã nằm quá gần lỗ mũi - giờ đây trông cứ như một vết phạt ngang ngay dưới hai lỗ mũi vậy, cái cổ nần nẫn như thường lệ được quấn một chiếc khăn lụa mà chốc chốc bàn tay trắng múp đầy mỡ của người lại sờ soạng sửa sang. Khuỷu tay ngài mọc đầy lông màu hung hung đỏ, trông cứ như vệt máu, đám lông này ngài không cho phép bọn nô lệ sửa râu tóc nhổ đi, vì người ta bảo ngài rằng việc đó sẽ làm những ngón tay bị run, có ảnh hưởng xấu đến tai chới đàn luýt. Một sự trống rỗng vô đáy hiển hiện như thường lệ trên né mặt ngài, cộng thêm với vẻ mệt mỏi và chán chường. Nói chung đó là một bộ mặt vừa khủng khiếp vừa nực cười. Vừa di chuyển, ngài vừa quay đầu sang bên nọ bên kia chốc chốc lại khép mi mắt chăm chú lắng nghe xem người ta chào đón mình ra sao.


Chào đón ngài là một cơn bão của những tiếng tay vỗ và tiếng kêu: “Xin kính chào! Vị thần linh! Hỡi Hoàng đế, Thánh thượng! Xin chào Người chiến thắng! Xin chào con người vô song - con đẻ của thần Aponlon, xin chào chính Aponlon!” Nghe những lời chào ấy, ngài mỉm cười. Song chốc chốc dường như lại có những bóng mây đem lướt qua mặt ngài, bởi đám dân chúng Roma vốn hay đả kích, cậy vào chỗ người đang đông đúc nên họ tự cho phép mình nói những lời châm chích, ngay cả đối với những người chiến thắng rất vĩ đại, những người mà thực ra  dân chúng vốn mến yêu và kính trọng. Ai cũng biết rằng trước kia đã từng có lúc người ta hét lên khi Julius Xezar tiến vào Roma: “Hỡi các công dân, hãy giấu vợ đi, thằng cướp đầu hói đang tiến vào đấy!” Tuy nhiên lòng tự ái kinh khủng của Nerô không sao chấp nhận nổi lấy một lời châm chọc hay chỉ trích. Thế mà giờ đây trong đám đông, bên cạnh những tiếng kêu ngợi ca lại vang lên tiếng gọi: “Gã Râu đỏ! Râu đỏ! Người mang bộ râu lửa của ngươi đi đâu đấy? Ngươi không sợ nó đốt cháy cả thành Roma à?” Và chính những người kêu lên câu đó cũng không hề biết rằng lời nói đùa của họ chứa đựng một điều tin tri khủng khiếp biết bao. Thực ra những tiếng kêu kia cũng chẳng khiến Hoàng đế bực mình mấy nỗi, nhất là khi ngài không còn mang bộ râu cằm nữa, ngài đã hiến dâng nó cho thần Jupiter Kapiton từ lâu rồi, đựng trong một chiếc hộp bằng vàng. Nhưng những kẻ khác, nấp sau các đống đá và gỗ của thần miếu lại kêu lên: “Matriciđa([6]) Nerô! Orextex Alkmeon!”, và những người khác: “Oktavia ở đầu rồi?” . “Trả máu đỏ lại đây!”. Còn đối với hoàng hậu Poppea đi ngay sát sau Hoàng dế thì người ta hét to: “Flava coma!” - đó là cái từ dùng để chỉ lũ gái điếm. Cái tài sành âm nhạc của Nerô thu lấy tất cả những tiếng kêu thét ấy. Và khi đó những ngón tay của ngài liền đặt ngay viên ngọc bích đánh bóng lên mắt để nhìn cho rõ và nhớ mặt kẻ nào đã phát ra những tiếng kêu ấy. Chính bằng cách đó, cái nhìn của Hoàng đế chợt dừng lại ở đức Sứ đồ đang đứng trên tảng đá cao. Trong một chớp mắt hai con người ấy nhìn nhau, song không một ai - cả kẻ đang ở trong đám rước tuyệt vời kia lẫn người đang ở trong đám người đông đảo nọ - lại nghĩ rằng đó là giây phút đọ nhãn quang của hai vị chúa tể trái đất, một kẻ ngay sau đó sẽ biến đi như một giấc mơ đẫm máu, còn người kia - chính cụ già mặc chiếc áo thô kệch nọ - sẽ chiếm lĩnh đến muôn đời sau cả thế gian lẫn cái thành đô này.


Hoàng đế đã đi qua, liền ngay sau ngài là tám têm Phi châu khiêng chiếc kiệu đẹp tuyệt vời, trong đó nàng Poppea - kẻ vốn bị dân chúng căm ghét - ngồi chĩnh chện. Cũng giống như Nerô, hoàng hậu mặc một chiếc áo dài màu ngọc tím, với một lớp phấn son dầy bự trên mặt, ả ngồi bất động, sau tư và hờ hững, giống như một nữ thần vừa xinh đẹp vừa ác độc, được rước đi trong đám tế thần. Kéo theo sau lại đến cả một bầu đoàn phục dịch nam và nữ, cùng một dẫy xe chở dụng cụ phục vụ cho tiện nghi và phục sức của ả. Mặt trời đã ngả quá sang phía trời tây mới đến lượt các vị cận thần diễu qua, một đám tuyệt mỹ, nhấp nhoáng, đổi màu như da rắng, kéo dài vô tận. Ông Petronius biếng nhác, được đám đông chào hỏi thân thiện, đi với nàng nô tỳ đẹp như một thần nữ của mình trong cùng một chiếc kiệu. Tygelinux đi trên một chiếc xe nhiều chỗ do bốn con ngựa nhỏ xíu kéo đi, chúng được trang điểm bằng những ngù lông màu trắng va đỏ thắm. Người ta thấy hắn đứng bật dậy, vươn cổ cố ngó xem Hoàng đế có ra hiệu cho hắn chuyển sang gồi cùng ngài hay chăng. Trong số nhữn người khác, đám đông quần chúng vỗ tay hoan hô Lixynianux Pizon, cười nhạo Vitelius, huýt sáo đón Vatynius. Đối với hai vị chấp chính quan đang chức là Lixynius và Iekanius người ta giữ vẻ bàng quang. Song Tulius Xenexion, kẻ không hiểu sao lại được ưa chuộng, cũng như Vextynux, thì lại được đám đông dân chúng vỗ tay hoan hô. Quần thần đông không tính xuể. Dường như tất thẩy những ai ggiầu có nhất, xinh đẹp nhất hoặc nổi tiếng nhất của Roma đều di cứ đến Anxium. Nerô chẳng bao giờ đi du hành mà không có hàng nghìn cỗ xe đi cùng, còn đám tùy tùng của ngài hầu như bao giờ cũng vượt quá số đầu lính của một chiến đoàn([7]). Người ta chỉ trỏ nhau hai lão Domixius Apher và Luxius Xaturninux già lụ khụ; người ta nhìn thấy ông Vexpazian, người chưa kịp len đường đi một chuyến nữa tới xứ Juđei, nơi ông vừa  mới từ giã để trở về ngay sau lễ đăng quang cảu Hoàng đế, các con trai của ông, và chàng trai trẻ Nerva, cả chàng Lukan Annius Ganlon, Giutianux, cùng hằng hà sa số những phụ nữ nổi tiếng hoặc vì của cải, hoặc vì sắc đẹp, hoặc bởi quá xa hoa và trụy lạc. Mắt của đáng người chuyển từ những khuôn mặt người nổi tiếng sang các bộ dây cương, những cỗ xe, đàn ngựa, những bộ áo quần kỳ dị của đám gia nhân mang dòng máu của tất thẩy các dân tộc trên thế giới. Trong dòng lũ cuồn cuộn những thứ xa hoa và kỳ vĩ ấy người ta không biết nên nhìn thứ gì. Không chỉ riêng mắt mà cả đầu có của người ta cũng bị lóa bởi những ánh vàng, bởi màu đỏ sắc tím, bởi ánh lóng lánh của những viên đá ngọc quý giá, bởi cái óng ánh của những hạt cườm, ngọc trai, ngà voi. Tưởng chừng chính ánh mặt trời cũng đã tan lẫn trong cái biển thẳm tuyệt diệu kia. Mặc dù trong đám đông dân chúng không hiếm khi những kẻ bần hàn, với cái bụng lép kẹp và cái đói chứa đầy hốc mắt, thế nhưng cảnh tượng cao sang kia không những chỉ đốt cháy lên trong họ sự khát khao hưởng thụ và lòng ghe tỵ, mà còn khiến họ tràn đầy khoái cảm và tự hào khi nó cho họ cảm giác về sức mạnh và sự vô dụng của La Mã, vốn do thế giới tạo nên đồng thời lại được thế giới thuần phục. Trên đời hẳn không kẻ nào dám ngờ rằng sự hùng mạnh kia sẽ không tồn tại đời đời, không thọ hơn tất thẩy các dân tộc, rằng trên thế giới có cái gì dám cưỡng chống lại sự hùng mạnh ấy.


Vinixius ở cuối đoàn hộ giá. Nhìn thấy đức Sứ đồ và Ligia, người mà chàng sẽ không ngờ sẽ được gặp , chàng nhảy vội ra khỏi xe, rồi sau khi chào hỏi cả hai với nét mặt bừng sáng, chàng nói vội vàng như người không muốn phí hoài phút giây nào:


- Nàng đã đến đấy ư? Tôi không biết phải cảm ơn nàng như thế nào cho xứng đây, hỡi Ligia! Thượng đế không thể gửi tới cho tôi lời tiên chi nào tốt lành hơn nữa. Một lần nữa xin cầu chúc nàng mạnh khỏe. Xin tạm biệt, nhưng chẳng lâu đâu. Tôi đã sai đặt ngựa trạm dọc đường, ngày nào được rảnh, tôi cũng sẽ có mặt bên nàng, cho tới lúc tôi xin được trở về hẳn. Cầu chúc nàng luôn mạnh khỏe.


- Xin chúc chàng sức khỏe, Marek! - Ligia đáp, rồi nàng khẽ nói thêm:


- Cầu đức Chúa Crixtux dẫn dắt và mở rộng tâm linh chàng đón những lời của đức Paven.


Lòng chàng vui sướng dào dạt vì nàng tha thiết mong chàng chóng trở thành tín đồ Thiên chúa giáo, chàng bèn đáp:


- Ocelle mi! Cầu cho được như lời nàng chúc! Đức Paven muốn đi lẫn trong đám gia nhân của tôi, nhưng ông sẽ luôn ở bên tôi, ông sẽ là người thầy, người bạn của tôi... Xin nàng hãy hé chàng mạng ra một chút, hỡi niềm vui sướng của tôi, để tôi được nhìn nàng mọt lần nữa trước lúc lên đường. Sao nàng lại che mặt kín thế?


Nàng đưa tay vén chàng mạng, hé cho chàng thấy khuôn mặt  trắng mịn cùng đôi mắt tuyệt đẹp đang tươi cười của nàng và hỏi:


- Như thé không hay sao, chàng?


Nụ cười của nàng chứa một hút bướng bỉnh thiếu nữ, nhưng chàng Vinixius nồng nhiệt đang say ngắm nàng đáp lại:


- Không hay cho đôi mắt của tôi, đôi mắt chỉ biết nhìn mỗi mình nàng, duy nhất, cho đến chết!


Rồi chàng quay sang bác Urxux và nói:


- Bác Urxux, bác hãy giữ gìn nàng như con ngươi mắt nhé, bởi nàng không chỉ là nữ thánh của bác mà là của tôi nữa đấy.


Nói đoạn, chàng cầm tay nàng ghé môi hôn trước sự kinh ngạc củ đán tiện dân, họ không sao hiểu nổi cái biểu hiện thành kính kia của vị cận thần tuyệt vời xinh đẹp nọ dành cho người thiếu nữ mặc chiếc áo dài dân dã, gần như áo bọn nô lệ này.


- Nàng khỏe nhé...


Rồi chàng vội rời chân, vì cả đoàn tùy tùng của Hoàng đế đã đi khá xa rồi. Đức Sứ đồ Piotr khẽ làm dấu thánh giá từ biệt chàng, còn bác Urxux tốt bụng thì hết lời ca ngợi chàng, bác rất vui sướng khi cô chủ trẻ chăm chú lắng nghe và nhìn bác đầy vẻ biết ơn.


Đoàn tùy giá đã đi xa và khuất sau những đám bụi vàng nhưng họ còn nhìn theo mãi, cho tới khi người chủ cối xảy bột là Đemax, người mà đêm đêm bác Urxux vẫn tới làm thuê, tiến lại gần.


Sau khi hôn tay đức Sứ đồ, ông mời họ rẽ qua nhà ông dùng bữa, ông nói rằng nhà ông ở gần Emporium, mà họ thì chắc đã khá đói và mệt vì đứng gần suốt ngày bên cổng thành rồi.


Họ bèn cùng nhau về nhà ông Đemax, rồi tới gần tối, sau khi nghỉ ngơi và ăn uống, họ quay về khu Zatybre. Định qua sông bằng cầu Emilius, họ đi theo Clivux Publicux, ngang qua đỉnh ngọn đồi Aventyn, giữa các thần miếu Điana và Merkurơ. Từ trên cao, Sứ đồ Piotr nhìn xuống những tòa nhà chung quanh những ngôi nhà mờ mờ xa tít chân trời và trầm tư suy nghĩ về sự to lớn cùng quyền bá chủ của hành đô này, nơi ông đã đặt chân đến để truyền lại những lời răn của Đức Chúa. Cho tới lúc này, ông mới được thấy sự thống trị của La Mã, với những chiến đoàn đóng tại các vùng đất mà ông đã đi qua, nhưng đó chỉ giống như những cái chi riêng lẻ của cái sức mạnh tập trung vào một hình hài mà hôm nay ông mới trông thấy lần đầu. Thành phố này vô độ, tàn ác và tham lam, nó đã tàn tạ , thối nát đến tận xương tủy, song dường như vẫn không hề bị suy suyển trong sức mạnh siêu nhiêu của nó. Hoàng đế - kẻ giết mẹ, thằng giết em, tên giết vợ - kéo theo sau một dẫy dài những bóng ma đẫm máu, không hớn đám quần thần của hắn, tên phóng đãng, thằng hề, song đồng thời lại là chúa tể cảu ba mươi chiến đoàn, và qua đó - chúa tể cảu toàn trái đất. Đám triều thần phủ đầy vàng và lụa đó, không dám chắc ngày mai, song vẫn quyền thế hơn cả các bậc đế vương. Đối với ông, tất thẩy những thứ đó gộp thành một vương quốc khủng khiếp của cái ác và sự vô lý. Trái tim chất phác của ông ngạc nhiên tại sao Đức Chúa lại giao phó cái quyền lực không thể hiểu nổi kia cho một con quỷ satăng, sao Đức Chúa lại trao cho hắn trái đất này để hắn mặc sức nhào nặn, xoay lật, dày vò, bóp nặn ra máu và nước mắt. Hắn xoay giật như gió lốc, tàn hại như bão tố, triệt phá như ngọn lửa. Những ý kiến ấy khiến trái tim sứ đồ của ông run rẩy, ông thàm gọi lên Thầy: “Chúa ơi tôi biết làm gì với cái thành phố mà Người đã phái tôi tới? Của y cả biển cả và đất liền, của y cả muông thú trên mặt đất và thủy tộc dưới nước, của y cả những vương quốc và thành quách, cả ba mươi chiến đoàn đang canh giữ; còn tôi, thưa Chúa, chỉ là một tên ngư phủ ở ao hồi! Tôi biết làm gì đây? Tôi làm sao thắng được sự dữ của y?”


Lòng nhủ thầm như thế, đầy ưu phiền và lo lắng, ông ngẩng mái đầu bạc run run của mình lên trời thành tâm cầu nguyện và kêu xin Người Thầy Thiêng Liêng của ông.


Đột nhiên những lời cầu nguyện của ông bị tiếng Ligia cắt ngang, nàng thốt lên:


- Cả thành phố như đang chìm trong lửa...


Qủa thực, chiều hôm ấy mặt trời lặn một cách khác thường. Cái đĩa khổng lồ của vầng thái dương đã khuất một nửa sau ngọn đồi Janikun và toàn bộ bầu trời ngập tràn ánh đỏ. Từ nơi họ đứng tầm mắt bao quát cả một không gian rộng lớn. Hơi chếch về bên phải, họ trông thấy bức tường dài của Đại Hý Trường, bên trên là tầng tầng lớp lớp những tòa ngang dẫy dọc của cung điện Palatyn. Thẳng ngay trước mặt, thần miếu Jupiter. Song tất thẩy những hàng cột, những bức tường và đỉnh nhọn của các tòa thần miếu kia dường như đều ngập chìm trong ánh sáng màu vàng và đỏ rực. Những đoạn sông nhìn rõ ở xa xa gióng như dòng sông máu, và mặt trời càng lặn xuống sau đồi thì ráng chiều mỗi lúc một thêm đỏ rực, mỗi lúc một thêm giống quầng lửa của đám cháy, nó mạnh lên lan rộng ra, và rốt cuộc trùm phủ cả bẩy ngọn đồi, từ đó dường như nó đang lan tràn ra những vùng chung quanh.


- Cả thành phố như đang chìm trong lửa - Ligia lặp lại.


Ông Piotr đưa tay che mặt và nói:


- Cơn giận dữ của Đức Chúa đang ở trên thành phố


(Còn tiếp)


Nguồn: Quo Vadis. Nguyễn Hữu Dũng dịch. NXB Văn học, 1999.


 







([1]) Nàng thân yêu! Nàng thân yêu! (La tinh)


([2]) Nguyên văn: pronuba - người đàn bà bo tr đi theo cô dâu đ dy bo cô dâu bn phn làm v.




([3]) Via Littoralis.




([4]) Nguyên văn: Pranđium (La tinh)




([5]) Cư dân ca Italia được Hoàng đế Aunguxt min cho nghĩa v quân s , nên các đơn ca h -  thường được gi là Cohops italiac, ch gm toàn lính tình nguyn. Trong đi cm v cũng vy, nếu không phi là người ngoi quc thì là lính tình nguyn (chú thích ca tác gi).




([6]) Thng giết m (La tinh)




([7]) Vào thi các Hoàn đế La Mã, mi chiến đoàn khong 6000 người (Chú thích ca tác gi)



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.Chương 34
6.Chuong 32 & 33
7.Chương 30 & 31
8.Chương 28 & 29
9.Chương 27
10.Chương 26
11.Chương 25
12.Chương 24
13.Chương 23
14.Chương 22
15.Chương 21
16.Chương 17, 18, 19 & 20
17.Chương 15 & 16
18.Chương 14
19.Chương 12 & 13
20.Chương 10 & 11
21.Chương 8 & 9
22.Chương 7
23.Chương 5 & 6
24.Chương 3 & 4
25.Chương 2
26.Chương 1
27.Lời Giới thiệu
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »