tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19730564
Tiểu thuyết
30.04.2013
Diêm Liên Khoa
Tứ thư

 


            Học giả đứng sau tôi. Lại im lặng một lúc. Bỏ tôi lại, ông đi một mình đến mấy gian nhà chứa xác chết ở dẫy sau. Đã có người từ ngoài tường vây xách nồi bát luộc thịt đi về. Ráng chiều đã tàn, tia sáng còn lại sau cùng cũng rút khỏi mặt đất. Trong giây lát tĩnh lặng mơ ảo, hoàng hôn buông xuống sân khu doanh trại,  ánh sáng chưa tắt hẳn, đêm đen chưa trùm xuống. Tôi ngồi xổm trên đất có thể nhìn thấy những người từ ngoài đi về. Không ai vì đói mà phải bò lê. Họ đều đứng đi, hơn nữa bước chân hình như có vẻ nhấc cao hơn, bàn chân có thêm sức bật. Trước đây đi bộ, dưới chân mỗi người, đều không phân biệt rõ tiếng kéo lê lệt sệt của bước chân, nhưng bây giờ bước nào ra bước ấy, có tiết tấu có nhanh chậm. Lại có những bước chân tấp nập rậm rịch theo tôi, đều như từ ngoài đồng hoang luộc ăn rau dại trở về. Họ đi vào sân doanh trại. Từ nhà xác phía bên trong, học giả đi ra ngoài, không biết trông thấy nhau, họ có nói gì, có nhìn nhau không. Chỉ thấy học giả từ trong đi ra đến trước mặt tôi, bước chân ông cũng như người đi về sân có sức hơn, đi từng bước. Sau khi đến trước mặt tôi, học giả đứng tại chỗ cúi đầu nhìn tôi, khẽ nói một câu nghe rõ:


-           Nửa túi đậu nành nữ nghệ sĩ để lại anh có lấy không?


Tôi từ từ đứng dậy:


-           Chị ấy để phần anh đấy!


-           Anh đem lại đây chia cho anh chị em mỗi người một ít.


            Trong hoàng hôn, khuôn mặt ông lờ mờ nhìn ra cổng, giọng lạnh lùng tẻ  nhạt, ông nói:


            - Tổng cộng năm mươi hai xác chết, không xác nào còn nguyên vẹn. Anh về nhà trước đi, mình muốn đến khu 918 tìm gặp con người kia. Nhất định hắn biết nhiều hơn Con Trời, nhất định sẽ nói thật phạm vi tai hoạ này xét cho cùng rộng bao nhiêu, còn kéo dài bao lâu nữa.


            Nói rồi ông đi đến khu dục tân 918, tìm hỏi thằng cha ngực đeo lủng liểng đầy huân huy chương. Đêm hôm ấy, mãi đến mười hai giờ khuya học giả mới về. Khi về ông không đi vào nhà ngủ, mà đi thẳng đến gõ cửa nhà Con Trời.


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


Chương 15


CON TRỜI


 


            1.CON TRỜI


 


            Con Trời ngồi như ngọn nến ở giữa giường, hoa đỏ, sao đỏ, bằng khen đỏ,  cả đèn lồng đỏ bằng giấy mới có gần đây, treo đầy đầu giường và chân giường, trên cả trần nhà, trên cây sậy, trên mái che bằng lau sậy cũng treo hoa đỏ, đèn lồng đỏ, còn có dải bay bằng giấy hình đuôi én cắt bằng giấy. Một nhà một thế giới đều màu đỏ. Một bếp lò ở giữa nhà, có cả sách chưa xé làm mồi châm lửa, một cuốn là “Gien-ê-rơ sách truyện nước Anh của nữ tác giả Charlotte Bronte, một quyển là “Faoxtơ” sách của Goeth nước Đức ngày xưa. Hơi nóng lửa lò bốc lên đỏ lung linh cả mái che trần nhà. Phía trước giường để một bát nước uống của Con Trời. Một bát khác, là bát đựng đậu nành rang nóng hổi. Con Trời ngồi ngay ngắn trên giường, cuốn chăn, ngồi xếp bằng. mắt lim dim. Khuôn mặt phù thũng bóng loáng phát sáng. Y như bức tượng nến Thần Con trẻ, Thánh trong chùa.


            Cửa đóng kín. Học giả đến tìm gặp Con Trời.


            Học giả và Con Trời trò truyện với nhau.


            Học giả nói với Con Trời một việc rất quan trọng:


            - Mười tám bông lúa mạch to hơn bông thóc, không thiếu một bông, tôi không ăn hạt nào, có thể trao hết cho Ngài. Ngài đem mười tám bông mạch trồng  bằng máu này, mỗi bữa ăn mấy hạt, đi lên Kinh Thành. Giữ những bông mạch  máu to hơn bông thóc, to bằng bông ngô, ngài có thể vào đến Trung Nam Hải, gặp cấp trên cao nhất nhất, phản ảnh với ông ta tình hình ở đây. Tôi nhờ Ngài một việc, đó là khi Ngài hiến dâng cho cấp trên những bông mạch to nhất này, đưa cho họ nửa cuốn bản thảo tôi chưa viết xong. Họ nhìn thấy những bông mạch, xem nửa cuốn sách còn bỏ dở, e rằng không có cơ hội viết xong, họ sẽ biết như thế nào về con người hiện nay của nhà nước này dưới gầm trời này.


            Con Trời trợn mắt. So với thường ngày, trong mắt hơi nheo có ánh long lanh.


            Tôi về đem  những bông mạch và bản thảo cuốn sách cho Ngài.  Tôi van xin Ngài, Ngài vĩnh viễn không được nói với ai tôi đã cho Ngài mười tám bông mạch.


            Học giả ra về. Sau thời gian lâu lâu, quả thật ông đã đem về mười tám bông mạch được gói mấy lớp vải và giấy dầu chống ẩm ướt. Đêm sâu lắng và vắng vẻ, sao sáng đầy trời. Bầu trời trong xanh. Khi bước vào nhà Con Trời,  Con Trời đang ngủ gà ngủ gật. Cửa động, Con Trời mở mắt, uống nước trong ánh sáng, lại đưa tay nhúng nước sạch trong bát rửa mặt. Mắt ngài sáng long lanh. Học giả thấy mấy hạt đậu rang vốn trong bát không còn, bát không, sang sáng, không hề có thứ gì.


            Ngài đặt gói bông mạch lên giường, cẩn thận giở ra, đầy nhà loang dần mùi thơm máu, mát lạnh, đầm đậm.


            Con Trời ngửi mùi thơm nồng man mát của hạt tiểu mạch còn có hơi nực mùa hè khô khô của thân cây mạch và vỏ mạch. Mười tám bông tiểu mạch được học giả bó riêng, to nhất đúng như bông ngô, cộng thêm ba tấc dằm mạch, bông mạch dài hơn bắp ngô, dài hơn một thước, nhỏ nhất cũng bằng bông mạch to. Khó biết học giả cất giấu bông mạch ở chỗ nào, mà vẫn nguyên vẹn, hạt mạch phong kín trong vỏ. Hạt mạch có màu đỏ sẫm, căng phồng, bột lắng như sắp nở ra. Có hạt mạch từ bông rơi rụng xuống, Con Trời nhặt lên, giơ xem trước đèn, hạt mạch có màu vàng nhạt đỏ thẫm, bụng hạt mạch có rãnh như vết dao khắc.


            Mỗi hạt to bằng hạt đậu hoà lan, như hạt lạc.


            Mắt Con Trời bừng sáng. Ngài cười, nụ cười như bông hoa to hồng nhạt nở trên mặt.


-           Một hạt ngươi cũng không ăn thật chứ?


Học giả gật đầu.


-           Bây giờ ngươi có thể ăn một bông. Ta thưởng ngươi ăn một bông.


Học giả lắc lắc đầu.


-           Ngươi còn gì nói với ta không?


Con Trời thu bông mạch lại để lên đầu giường, nét mặt sáng láng.


Học giả đưa nửa tập bản thảo cuốn sách của ông gói trong vải. Trong nhà có mùi nước thuốc tím. Học giả đưa sách trịnh trọng nói:


            - Cuốn sách tôi viết sáu năm, Ngài trao cho cấp cao nhất ở Kinh Thành, chỉ cần ngài trao bông mạch hạt to nhất cho cấp trên cao nhất nhất chắc chắn ông ta sẽ tiếp kiến Ngài ở Trung Nam Hải. Lúc ấy Ngài hãy trao cho ông nửa cuốn sách này.


Con Trời nhận bản thảo cuốn sách.


-           Liệu ông ta có sai người dẫn ta đi dạo Kinh Thành không?


            -  Ông ta sẽ thân chinh cài lên ngực Ngài một bông hoa hồng to, Hoa hồng có dải bay. Trên dải bay có lời đề từ tự tay ông ta viết cho Ngài. Đeo bông hoa ấy Ngài đi khắp thành Bắc Kinh. Trường Thành, Cố cung, Di Hoà Viên, Vương Phủ Tỉnh, vườn thú, ngài muốn đi nơi nào thì đi. Chỗ nào Ngài cũng khỏi phải mua vé vào cửa, lại được vào ở Tử Cấm Thành. Mọi người nhìn thấy Ngài mặt ai cũng sáng lên kính nể, đều vỗ tay hoan hô nghe rất hay.


            Con Trời để bản thảo cuốn sách lên đầu giường. Trên mặt còn phù thũng. Ánh sáng càng sáng láng và rực rỡ. Việc thế là thành. Đêm hôm ấy Con Trời thức trắng, nhìn mười tám bông mạch, nghĩ đến chuyện ở thành Bắc Kinh, nghĩ đến cấp trên sẽ cài cho Ngài hoa hồng to nhỏ và vật kỉ niệm.


            Hôm sau khi mặt trời mọc, mọi người còn nằm nghỉ trong ổ ấm, Con Trời đi đến từng nhà chào tạm biệt:


            -Ta phải lên Kinh Thành – Con Trời nói - Đến Bắc Kinh gặp cấp trên cao nhất nhất, anh chị em ta sẽ có lương thực, không bao giờ còn đói nữa. Những người ngủ trên giường không ai hiểu lời Con Trời. Con Trời đến nhà ở của học giả và nhà văn lại nói như thế, đồng thời còn cúi chào trước giường học giả, sau khi nhét một nắm đậu cho nhà văn, Ngài đi ra khỏi nhà, lên đường dời khu 919.


Ngài đã lên đường thật.


Ánh nắng rực rỡ.


Trên trời có ánh sáng trắng.


            Mây màu bay lượn, như Thiên sứ đang nhảy múa. Hôm nay trời nắng ấm như mùa xuân, ngước mắt nhìn, tầm mắt dài vạn dặm. Trên bãi sông Hoàng Hà xa xa yên lặng như nước hồ nghỉ thở và lụa đang bay trên trái đất. Gần đó, bụi trần rơi và cát bay đều nằm trên mặt đất, thành một phần của trái đất. Con đường thông ra bên ngoài y như một dải sáng nhàn nhạt. Con Trời đeo ba lô bọc ba lần lụa điều của Ngài, dọc đường rảo bước, vải lụa điều như một quả cầu lửa nhẩy tênh tênh trên vai Ngài. Có người ra tiễn,  đi trước nhất là học giả và nhà văn, trong tay nhà văn nắm một nắm to đậu nành của Con Trời và hạt mạch máu như hạt lạc.


Học giả vẫy tay chào Con Trời.


            Con Trời cũng quay lại vẫy tay, rồi quay người đi và mất hút trong ánh sáng mờ nhoà


 


            2 CON TRƠI


 


            Con Trời đi được mấy hôm, mặt đất trở nên ấm áp, thấy chỗ nắng kín gió chân tường có cỏ mới ra mầm nẩy chồi. Số là nữ bác sĩ đi tiểu tiện, nước giải chảy thành xoáy lộ ra cỏ non trong suốt, vàng nõn, như kính, tiểu tiện xong, nhổ mầm soi lên ánh nắng. trông thấy trong mạch non có chút nước chảy, chợt ngẩn người, lại chợt tỉnh, giơ ngọn mầm cỏ non vàng trong sáng chạy vào sân reo gọi:


-           Sang xuân rồi, chúng ta đã được cứu!


-           Sang xuân rồi, chúng ta đã có cái ăn!


            Người gọi là đàn bà, nữ bác sĩ. Chị vừa chạy vừa gọi, bất chợt chị ngã gục không bao giờ bò dậy nữa. Người ta đến kéo chị mới biết chị đã chết. Bởi vì bác sĩ biết trước tiên cái lẽ, khi vạn vật khai hoa, mạng sống sinh trưởng. Bác sĩ đã reo gọi và chết như thế. Bởi vì sung sướng quá đỗi, chị sướng quá ra sức reo gọi bị kiệt sức. Mọi người từ trong nhà ùa ra, đến chỗ nắng kín gió bới, quả nhiên có mầm cỏ, nẩy từ rễ. Không có mầm, gốc cỏ cũng mềm ướt, chứa nhiều nước, ăn sống rễ cỏ, có vị ngòn ngọt tanh tanh trong mồm.


            Ai cũng đi bới đất ăn sống rễ cỏ. Ăn nhiều cỏ mới người nào cũng đau bụng đi lỏng lại đều bị chết. Một hôm có người nhớ đến Con Trời đi lên Kinh Thành đã nửa tháng vẫn không có tin gì. Người ta bảo lên Kinh thành có ô tô, tàu hoả, đi về chỉ mất dăm ba hôm, cấp trên có gặp cũng chỉ mấy phút, mười mấy, hơn hai mươi phút. Thời gian còn lại Ngài có thể lấy chân đo mỗi tấc đất ở Kinh Thành, sau khi xong việc, Con Trời nên trở về. Nhưng Ngài không về. Ngày nào anh chị em cũng nhìn ra đường cái.


            Con Trời không trở về, người ta hoài nghi Ngài đã chết. Xét cho cùng khi ra đi mặt Ngài sưng phù, chân cũng sưng phù. Toàn thân từ trên xuống dưới đều phù thũng.


Có người bảo:


-           Không có Con Trời chính là lúc có thể về nhà tự do.


            Có người hưởng ứng đều muốn đi. Học giả đứng ra ngăn. Ông nói chỉ cần Con Trời trao bản thảo nửa cuốn sách của ông cho cấp trên cao nhất nhất, thiên hạ sẽ lập tức khôi phục như cũ, nông dân làm ruộng, công nhân đi làm ca, giáo sư trở lại bục giảng. Ai có kiến thức và thích suy nghĩ có thể trở lại ngẫm nghĩ và sáng tác.


Lại chờ đợi. Cuối cùng không thấy Con Trờì về.


            Mùa xuân đã đến. Ấm trong lòng đất. Trái đất lại mọc cỏ, nở muôn hoa. Chim sẻ từ đâu bay về, bay liệng trên bầu trời kêu riú rít. May mà cơn đói đã qua, đã có rau dại chống đói. Trên bãi sông Hoàng Hà đâu đâu cũng có  xúp-lơ, rau dền đỏ, rau răng cưa, chỉ trong chốc lát đã hái được hàng nắm. Có rau rừng,  người sẽ có sức, con người lại nẩy ra ý nghĩ, nhân khi Con Trời đi vắng dời khỏi khu dục tân.


-           Ba ngày nữa Con Trời không về anh chị em sẽ bỏ đi được không?


Học giả đi đến từng nhà khuyên:


-           Bỏ đi chỉ có một con đường, con đường ấy liệu đi có dễ dàng hay không?


Sau ba ngày Con Trời vẫn biệt tăm.


            Có người bỏ đi, bỏ trốn không thấy nữa. Trên người mang đủ số, một nắm hoa hồng nhỏ. Số hoa này lấy từ trên thân phạm nhân đã chết đói, đủ một trăm hai mươi lăm bông hoa nhỏ. Trên người được rau rừng tiếp sức, không thấy anh ta trên giường, trên dưới gầm giường không có quần áo. Không ai còn chịu nghe lời học giả, không ai còn tin lời học giả. Con Trời đã đi hai mươi tám ngày. Có hai lần đi Bắc Kinh cũng về rồi.


Lại một buổi trưa, có người ngang nhiên nói trong sân:


-           Ai muốn ra đi đều thu dọn hành lý đi theo tôi.


            Mọi người ầm ầm thu dọn hành trang đi ra, đứng đông lắm, đếm quân số có năm mươi hai người tất cả, mới biết khu 919 có già một nửa bảy mươi người chết đói chết bệnh. Sang xuân rồi, người có sức, Con Trời không về chính là thời cơ tốt bỏ đi tập thể.


-           Làm sao đây? - Học giả hỏi nhà văn.


            Tôi cũng đi. – Nhà văn đáp - Lần này tôi động viên mọi người bỏ đi. Những người này, tôi đã từng ghi nhiều chuyện của họ trong “Tội nhân lục”. Chuộc tội, tôi phải dẫn họ đi.- Vừa nói nhà văn vừa sửa soạn hành lý của mình.


            Học giả ngạc nhiên nhìn nhà văn. Nhà văn nhìn học giả, hy vọng nhà văn và mọi người đi thoát. Học giả nhìn toàn thể anh chị em phạm nhân hưng phấn và kiên nghị đứng trong sân, lắc đầu với nhà văn, nhìn nhà văn hỏi:


            - Trên đường thông lên thị trấn, chỗ nào cũng có trạm kiểm soát, các bạn đi lối nào?


Nhưng nhà văn nói một cách kiên nghị:


-           Không đi cũng chết.


Thì có chuyện như thế.


            Nhà văn và học giả bắt tay tạm biệt, ra khỏi nhà. Mặt trời đã ngả về tây, có người đề nghị:


-           Mở cửa nhà Con Trời xem xem, có gì đáng lấy đi!


-           Lấy cắp hay sao hả?


Nhà văn hét to.


-           Đừng quên chúng ta là dân trí thức, là những người có học!


            Một dòng người đi qua trước cửa nhà Con Trời. Kẻ vác người xách, có người gánh. Mấy chục người theo nhà văn men theo con đường cái, tốp năm tốp ba đi ra ngoài bãi sông Hoàng Hà. Học giả đứng trong sân nhìn mọi người đi khỏi cổng. Ánh mắt ông mờ mịt,đầy vẻ hoài nghi .Ông không đi ,tin Con Trời nhất định sẽ về, nhất định sẽ trao tập bản thảo cuốn sách cho cấp trên. Học giả cứ nhìn anh chị em phạm nhân mãi đến lúc đội ngũ mất hút trong ánh nắng mùa xuân.


 


3. CON TRỜI


 


            Không ai dám đi đường cái, đều men theo đường mòn cánh đồng hoang, đi ra hướng thế giới bên ngoài. Đến chiều khi mặt trời chênh chếch đằng tây, ai cũng mồ hôi nhễ nhại. Có người vứt bớt hành lý thừa dọc đường, nào giầy, nào mũ, nào quần áo, còn có cả quần thừa không dùng, nhưng không ai vứt cái nồi luộc nấu rau xanh.


            Khi hoàng hôn, đi được mười dặm, có người tụt lại đằng sau, như con dê lạc đàn. Đến chỗ bãi xanh tươi trong đồng hoang, nhà văn bảo mọi người dừng lại, hái rau riếp đắng, nhặt củi chờ những người đi sau.Tuy vất vả, nhưng cũng vui, xét cho cùng thì đây là một cuộc đào thoát tập thể. Họ đốt lửa trên bãi cỏ, tìm nước về, luộc rau rừng ăn. Ăn xong, mọi người lăn ra ngủ ở chỗ trũng, hố kín gió trên bãi cỏ, nhìn sao đầy trời, có người còn hát, hát một bài hát cách mạng quen tai nhất, vừa hùng tráng vừa lý tưởng. Tên bài hát là “Đi lên phía trước theo đường lớn”. Lời ca viết “ Có con đường hướng lên phía trước, phía trước sáng sủa có tự do, chỉ cần bạn tỏ ra dũng cảm, cuộc đời sẽ trong sáng và rạng ngời.”. Đầu tiên một người hát, sau đó nhiều người hát theo, ai cũng hát, không biết hát thì hát theo. Trong đồng hoang vắng lặng vô cùng, trăng sao đầy trời, lời hát của họ như sóng nọ đuổi sóng kia, đẩy cảnh yên tĩnh trên đồng hoang ra rất xa, rất xa. Hát mệt lại nghỉ, bắt đầu trùm chăn ngủ. Hôm sau khi mặt trời mọc, có người phát hiện bị mất cắp, tìm khắp nơi, rà số người, mới biết thiếu mất hai thanh niên. Một là giảng sư đại học, một là phó giáo sư. Họ đều là thầy giáo và học sinh khoa vật lý cùng một trường ở Bắc Kinh .


            Mất cái gì? – Nhà văn hỏi.


            Mấy người cúi đầu nói:


-           Sao năm cánh.


            Nhà văn im lặng. Mọi người rủa sả kẻ ăn cắp, rồi tiếp tục lên đường. Ngày đi đêm nghỉ, chống gậy mà đi, bụng đói luộc rau dại. Đêm ngủ ở nơi kín gió giữa đồng hoang, Ngày đi tối nghỉ, ban đêm không còn ai hát nữa. Đặt lưng xuống là ngủ. Lại ngày đi đêm nghỉ, cứ thế việc thành lại bại, như hoa nở hoa tàn. Năm ngày sau, vòng qua chín khu dục tân, bốn thôn bản tự nhiên, bảy trạm kiểm soát. Thị trấn hiện ra ngoài mấy dặm trước mặt. Con đường cái xa xa giống như sợi dây chão dắt đến lối vào thị trấn. Mọi người và nhà văn đều biết, chỉ cần qua được thị trấn, coi như đã đi thoát Tổng bộ dục tân, lại đến huyện lỵ, đáp xe lên Địa khu, tàu hoả đã ở trước mặt, chia ra lên tầu hoả là có thể ai về nhà nấy, gặp vợ, gặp con, gặp bố mẹ, thiên luân lại quây quần chung quanh một chậu lửa.


            Khi trông thấy thị trấn, đám đông đi chậm lại. Nhà cửa trên thị trấn đều như đống rơm đống rạ, bụi trên đường cao hơn mặt đất, yên tĩnh vô cùng, vắng lặng như chết. Trên thị trấn không có tiếng động, có khói bếp của các gia đình lưa thưa   lẻ loi, bốc thẳng lên trời. Đến trưa, nắng chiếu sáng loá mắt. Đám đông dừng lại, đề nghị cử người đi trước dò la. Hai chàng trai trẻ đi, đi như kẻ ăn cắp, đã nhanh chóng quay lại, nét mặt xám ngoét. Hỏi tại sao? Trả lời ba hôm trước, một giảng sư và một phó giáo sư  từ  đám đông lấy cắp năm ngôi sao của người khác bỏ trốn đã chết ở chỗ ngã ba vào thị trấn, xác vất ở cạnh đường như hai bó lúa. Hai chàng kể chung quanh xác chết, chỗ nào cũng rơi những ngôi sao và hoa hồng nhỏ Con Trời phát cho mọi người ai cũng có. Hai chàng còn kể ở ngã ba đường vào thị trần có hai gian nhà lá, trước cửa dựa súng canh gác, chôn một biển gỗ, trên biển gỗ có năm chữ “Trạm kiểm tra yêu nước”. Nhà văn suy nghĩ rồi nói:


-           Đám đông chia tách ra, đêm tối từ hai bên thị trấn lén lút đi vào.


            Họ chia thành hai tốp, lần lượt có người dẫn đầu. Khi trăng lên, từ hai bên đường cái vào thị trấn, một tốp đi bên trái, một tốp đi bên phải, vẫn theo đường mòn, không phải như đi đường, có lúc cúi xuống đi, có lúc bò sát đất, còn xa thì đi thẳng lưng rảo bước, không ai được nói chuyện, có người sợ lạc, vứt cả chăn cả nồi. Trời cũng đã tối, mây che khuất trăng, nhìn không rõ chân và đường trước mặt. Hôm sau khi trời sáng, hai tốp gặp nhau trong bãi trũng ngoài đường cái, cứ tưởng đã từ bên này thị trấn sang bên kia thị trấn, cứ tưởng đã đi qua “Trạm kiểm tra yêu nước”, nhưng đã phát hiện chỗ họ gặp nhau vẫn là nơi họ chia tay trước hoàng hôn đêm qua. Có người vứt áo cạnh đường khi chia tay vẫn còn ở bên đường, cái áo vắt trên một cây nhỏ vẫn treo nguyên trên cây nhỏ.


            Cả một ngày nản chí, đêm hôm sau, sau khi phân biệt kĩ bên trái bên phải và đông tây nam bắc, nhà văn lại cho hai tốp ra đi hai bên thị trấn. Hôm sau khi trời sáng, tụ họp ở một chỗ trũng che khuất ngoài đường cái, vẫn là chỗ họ chia tay hôm qua và hôm trước. Khi chia tay, cái áo vứt lại vẫn ở cạnh đường. Cái quần treo trên cây hoè nhỏ vẫn rủ trên cây hoè nhỏ. Người nào cũng nản chí, u mê, không biết làm thế nào đi khỏi vùng hoang dã hai bên thị trấn này. Họ quyết định ngày thứ ba cử người vừa phục vừa đi dò đường trong bãi hoang, cắm cành cây trên đường làm dấu hiệu. Ban đêm theo dấu hiệu mò vào đối diện thị trấn. Cử mấy người trẻ vừa nấp vừa phục đi đến nơi hoang dã ở hai bên, đã nhìn thấy nơi xa xa cạnh thị trấn đều là bãi lầy của đất bãi sông Hoàng Hà. Bãi lầy mênh mông không bờ bến, mùa xuân đến, vùng thượng nguồn sông Hoàng Hà, băng mùa đông đã tan, nước chảy ào ào. Chỗ thấp cách hai bên bờ trăm dặm toàn chứa nước, chỗ cao hẳn lên cách gần thị trấn lại toàn là bãi tha ma và gò đống. Các ngôi mộ toàn là mộ mới chôn năm ngoái. Bãi rất rộng, mộ lô nhô mọc lên như nấm sau trận mưa xuân, có đến hàng ngàn hàng vạn ngôi, rộng bao la tít tắp mãi chân trời, đều là phạm nhân và dân thường chết đói, còn có cả người từ các khu dục tân bỏ trốn chết cạnh thị trấn. Tất cả các ngôi mộ đều chưa kịp mọc cỏ, mộ mới đất mới phơi dưới nắng vàng, ánh lên như mặt nước. Bãi cỏ mầu xanh. Trong sáng xanh người chết chưa kịp chôn ngâm trong nước trần truồng dưới gầm trời, có người sau khi chết không bó chiếu, phơi giữa trời bị sói và diều hâu mổ bới xác nhoe nhoét. Xương chất thành đống trắng xoá.


            Ngôi mộ nào cũng bốc hơi trắng có mùi tanh nồng, thum thủm.


            Kẻ đi thăm dò đường đi hẳn nửa ngày quanh mộ. Khi ra khỏi trận địa mộ, lại theo cành cây đánh dấu quay về, khủng khiếp lau mồ hôi, về với đám đông, lăn giữa đám đông. Một người đi thăm dò đường khác quay về, lau mồ hôi, kinh hãi, mất sức, ngồi bệt trong đám đông:


-           Toàn mộ là mộ.


Một người kể.


            - Nhiều người chết hoàn toàn không chôn, thối rữa trên bãi cỏ giữa các ngôi mộ.


Một người khác kể:


            - Mộ chi chít chẳng khác gì bãi đá cuội, nhiều như cát. Té ra hai ngày hai đêm chúng tôi đều quanh quẩn lạc giữa trận địa mộ.


Người nọ nhìn người kia.


Ai cũng nhìn mặt nhà văn.


            - Trận địa mộ cũng phải đi  - Nhà văn nói -  Giữa đống người chết cũng phải đi, đi khỏi trận địa người chết sẽ đến nhà.


            Sau đó ăn rau đắng, tìm ổ chuột đồng, đào bắt chuột, ăn để lấy sức chuẩn bị ban đêm đi vòng qua thị trấn đi vào khu vực trận địa người chết rộng bao la. Đêm đi, mây màu bay hết, trăng lên, khi trăng sáng ngợp trời đất, đám đông tập hợp cùng đi theo hai hướng. Đến bãi tha ma toàn bộ tay nắm tay nhau đi theo mốc đánh dấu ban ngày về phía thị trấn. Nhà văn và người cằm mốc đánh dấu đi trước, nín thở lặng lẽ đi như kẻ cắp.Té ra đó là bãi lầy bát ngát không bờ bến loang loáng dưới sáng trăng. Ánh sáng trời và sắc nước, soi rõ chân người, có thể nhìn thấy  trận địa mồ, xác người chết và cọc tiêu chỉ đường. Không sợ trận địa mộ và xác chết, đám đông đã từng có kẻ chết, cứ đi theo cọc tiêu. Cuối cùng đi khỏi  trận địa mộ và đám người chết đến một cánh đồng hoang rộng phẳng hai bên thị trấn. Biết mình đã đi ra khỏi trận địa mộ và đám người chết, họ buông tay nhau ra, có người  xông lên trước, té ngã, đứng dậy, rảo bước vui vẻ nói chuyện, lỡ to mồm chửi bậy “Đù mẹ, đù mẹ!”, chửi một cách không sao hiểu nổi. Nhà văn đi trước, quay lại dằn giọng bảo,        


-           Nói khe khẽ thôi, nói khe khẽ thôi! Tất cả lại nắm tay nhau vào!


            Không ai chịu nghe lời chỉ bảo và mệnh lệnh của nhà văn. Kẻ rảo bước, người chạy gằn xông lên trước. Sau khi xuyên qua bãi hoang, phía trước đột nhiên dừng lại, phát hiện bên này của hoang dã vẫn là trận địa mồ mả và hàng loạt tử thi. Dưới sáng trăng nhìn rõ vẫn là những bó cỏ xếp đống như nấm mênh mông. Mọi người xúm lại đi theo sau nhà văn. Nhà văn đứng trên một đống mộ, nhìn bên trái trông bên phải, nhìn thị trấn và Tổng bộ lờ mờ phía xa xa sau lưng và nhà dân dưới ánh trăng, cuối cùng sau khi xác định rõ phương hướng, lại bảo mọi người tay cầm tay đi qua bãi lầy, đi qua trận địa mộ, đi về hướng đường cái trước thị trấn.


            Sau khi trời sáng đám đông phát hiện lại trở về con đường cái sau thị trần trước đây. Thì ra cái áo vứt cạnh đường vẫn ở cạnh đường, mảnh vài và cái thắt


lưng da vắt trên cây hoè nhỏ vẫn trên cây hoè nhỏ bằng ngón tay cao bằng đầu người bên đường.


            Mặt trời mọc ở đằng đông, nắng lên đè mọi người giữa đồng hoang thấp trũng. Người nào cũng tuyệt vọng, tuyệt vọng lan tràn. Trong ánh mắt đều là ánh sáng chết. Có người lăn ra ngủ, nói có chết ở dưới chân cũng không đi qua bãi tha ma nữa, phần đông đều ngồi bệt lên bãi cỏ, sắc mặt tím tái, vàng lè, nhiều lời oán hận loang dần trong đám đông, có người đến hạch sách nhà văn:


            - Taị sao dẫn người ta đến đằng sau thị trấn, không đi sang phía bên kia thị trấn?


Nước bọt bắn cả lên mặt nhà văn.


            - Có lẽ nào không thể từ đường cái tìm cách đi qua? Không đi được ông dẫn anh chị em trốn cái gì?


            Nhà văn quyết định thân chính đến trạm kiểm soát giao thiệp.


            Mọi người đều lấy hoa hồng, ngôi sao cất trong túi trong lòng đem nộp, để phòng nhà văn bị vặn hỏi có thể bảo toàn tính mạng của ông. Trong ánh nắng, trong tay mỗi người đều có mười mấy, mấy chục bông hoa nhỏ, bông hoa vừa và sao năm cánh cắt bằng giấy tranh được từ chỗ Con Trời, đỏ rực hẳn một đống đưa đến trước mặt nhà văn. Nhà văn lắc đầu cám ơn lòng tốt của anh chị em, móc túi lấy ra một gói giấy nhỏ mở ra có đến mấy chục hạt tiểu mạch đỏ sẫm, to hơn hạt đậu, to bằng hạt lạc:


            - Tôi đi hiến dâng cho cấp trên giống mạch trồng bằng máu này, giống mạch này trồng một mẫu có thế sản xuất được hàng ngàn, hàng vạn cân với điều kiện để tôi dẫn anh chị em từ đây đến huyện lị.


            Nhà văn vung tay bước đi ngất nga ngất ngưởng, trong tay chống một cái gậy đường xa mệt mỏi. Mọi người đều nằm nấp ở chỗ kín trên bãi cỏ, nhìn cửa vào thị trấn, hy vọng giống mạch máu của ông nhà văn có thể dẫn mọi người đi qua trạm gác, sang bên kia đường thị trấn, dẫn đến bến xe huyện lỵ, có thể trông thấy nhà văn đến trạm kiểm soát lối vào thị trấn, lính gác chặn ông lại rồi dẫn ông vào trong nhà.


            Thời gian trôi ì ạch, một giây như một năm. Ai nấy đều phủ phục trên đất chờ đợi, rẽ cây cỏ nhìn ra ngã ba thị trấn. Cuối cùng nhà văn từ trong nhà đi ra, đi theo đường bên này trở về.


            - Không chỉ ở đây có Trạm kiểm soát yêu nước, cả nước chỗ nào cũng có. – Nhà văn nói - Cấp trên cao nhất nhất đã quy định, trong hoàn cảnh khó khăn, nạn đói lớn lan tràn, bất cứ người nào cũng chỉ được ở nguyên trong thôn bản, trong nơi mình sinh sống, không được đi đâu, không được truyền ra ngoài chỗ mình có bao nhiêu người chết đói.


            Ai cũng tưng hửng không buồn nói. Nhà văn còn bảo:


            - Chỉ có hai loại người được đi lại, một là phải có giấy chứng nhận của trên, hai là người ấy phải có một ngôi sao đỏ bằng sắt trên mũ quân nhân thật sự, hoặc năm ngôi sao giấy to.Nhưng ngôi sao giấy to phải có con dấu nhỏ cấp trên phát cho Con Trời. 


            4. “CON TRỜI”


 


             Mấy ngày sau, mọi người ở bên thị trấn đều ăn rau dại bò lê bò lết trở về khu 919. Khi đi năm mươi hai người, lúc về còn bốn mươi ba người, chín người kia bỏ mạng trên dọc đường. Trở lại doanh trại không ai còn nói chuyện, tuyệt nhiên không nhắc đến chuyện đi, chỉ có điều lúc rỗi rãi, ai cũng trông ra đường cái, hy vọng Con Trời, hoặc cấp trên đột nhiên xuất hiện trên đường cái.


            Sang tháng hai âm lịch, trên đường mọc cỏ dại. Thi thoảng có con thỏ rừng và con chồn con cáo đứng ngơ ngác trên đường, nhởn nhơ đi lại.


            Một hôm, trước lúc hoàng hôn, trên trời có ánh sáng trắng, có người từ trong nhà đi ra, lại nhìn ra đường ngoài doanh trại, trông thấy chiếc khoá sắt trước cửa nhà Con Trời không còn nữa. Cửa khép hờ. Cái mạng nhện luôn chăng, lúc nào cũng ngự trị ở cửa cũng mất. Ngạc nhiên một lúc, thấy có người đi trong nhà. Mọi người chạy khỏi nhà, đứng ở cửa nhà Con Trời, Thì có chuyện như thế. Mọi anh chị em đều đứng ở cửa nhà Con Trời, đông lắm, yên tĩnh, nghiêm trang, không ai nói một câu. Con Trời bị những bước chân làm tỉnh giấc. Cánh cửa kẹt một tiếng mở ra. Quả thật Con Trời xuất hiện trước đám đông. Con Trời trở về trong yên tĩnh ban trưa. Về nhà là Ngài lăn ra ngủ. Trên mặt, trên chân, trên người không còn phù thũng, chỉ còn gầy và xanh xao. Ánh nắng hắt lên mặt Ngài. Nét mặt có vẻ mệt mỏi, chán ngán mà hưng phấn, dáng gầy xanh, đen sạm, ánh lên sự rắn rỏi như mọi người từng quen biết, song là nét sáng láng của một người trưởng thành, Con Trời đã cao lên, lớn hẳn, trên cằm đã mọc râu đen đen, người mảnh dẻ xương xương, như một cây lên cao. Nhưng trên đầu Ngài, tóc đã dài hai tấc. Trong mớ tóc rối bung có lẫn hai ba rễ cỏ cây.


            Tinh thần, tình cảm và ánh mắt của Ngài chín chắn cứng rắn, dứt khoát, như nắm được phần thắng trong tay. Học giả đến trước mặt Ngài:


-           Thế nào?


Ông hỏi thận trọng, như thử trái tim của Con Trời.


Con Trời trang nghiêm khẽ đáp:


            -Trong Trung Nam Hải cũng có lò luyện gang thép thật. Trên quảng trường Thiên An Môn cũng đã từng trồng ruộng thí nghiệm sản lượng mẫu vạn cân.


            Không ai nói gì. Nét mặt kinh hoàng của nhà văn đầy vẻ mờ mịt u ám.


            Lúc này Con Trời nheo mắt nhìn trời. Trên trời có mây báo điềm lành, có ánh sáng trắng, có một đàn bồ câu không biết từ đâu bay qua. Sau khi đàn bồ câu bay đi, Con Trời dụi hai mắt ngái ngủ, nét mặt cười rất tươi, khẽ nói một câu rất tuyệt vời kinh khủng.


-           Anh chị em đều có thể về nhà!


            Lời của Con Trời nặng và chắc, hoàn toàn là giọng nói vang khoẻ của một người trưởng thành. Nói xong, Ngài quay người đi vào trong nhà, lấy ra một túi vải, nét mặt cười sáng láng, rạng rỡ chưa từng có.


-           Anh chị em đều không phải chịu đói rét cải tạo ở đây nữa.


            Cái túi Ngài xách kêu leng keng, tiếng va chạm của những đồ sắt nhỏ, giống như tiếng nhạc vang lên theo lời Ngài và tấu lên theo tiếng cười của Ngài.


            Con Trời đứng trên bậc thềm cửa nhà Ngài, móc túi lấy ra một nắm ngôi sao đỏ  như đồng tiền đúc bằng sắt đỏ tươi.


            - Anh chị em mỗi người cầm một ngôi sao đỏ sắt đúc này, có thể đàng hoàng đi tung tăng trên đường cái lên thị trấn. Trạm kiểm tra nào nhìn thấy ngôi sao thật này cũng cho anh chị em đi qua. Anh chị em muốn đi đâu thì đi. Đến huyện lị, đến Địa khu, đến Tỉnh thành và Bắc Kinh, đi đến bất cứ nơi nào khắp đất nước, về gia đình, về đơn vị của anh chị em.


            Con Trời cầm một nắm ngôi sao như cầm bó đuốc trong tay, vừa nói vừa vẫy lên không. Bầu trời vạch qua một quầng sáng đỏ cầu vồng.


            - Anh chị em hãy về chuẩn bị hành lý – Con Trời nói to – Đêm nay hãy ngủ ngon, sáng sớm mai ta sẽ phát cho mỗi người một ngôi sao, mỗi người còn có một túi đậu nành rang, làm lương khô ăn dọc đường.


            Tiếng Con Trời oang oang, dõng dạc, khác hẳn tiếng nói bẽn lẽn nhiều tháng trước.


            Con Trời không kể hơn một tháng qua ở Bắc Kinh Ngài đã gặp ai, gặp chuyện gì, chỉ rất thanh thản, nói một cách rất dứt khoát.


            - Về chuẩn bị đi anh chị em, ta cũng phải ngủ một giấc ngon lành cái đã. Quả tình  ta quá mệt.


            Con Trời nói xong quay người vào nhà, đóng cửa kêu đánh két, để lại ở bên ngoài nỗi ngạc nhiên sâu nặng khó hiểu trên mặt học giả, nhà văn và tất cả anh chị em phạm nhân.


            Mọi người tiếp tục đứng ngẩn ngơ một lát, vừa nghi hoặc, vừa đi về nhà mình, cả đêm không nói chuyện, lòng vẫn không tin Con Trời sẽ thật sự phát cho mỗi người một ngôi sao và một túi đậu nành rang, để mọi người đi khỏi khu dục tân một cách dễ dàng tự nhiên. Ban đêm ai nấy vẫn ngủ như thường ngày, vẫn ngủ đến lúc tự nhiên thức dậy. Nhưng hôm sau, sự việc đã khác hẳn. Chim khách báo tin lành dậy rất sớm, đậu trên bệ cửa sổ từ bao giỡ bao giờ. Đầu tiên chỉ một con, hai con hót, sau đó cả bầy vù vù  bay đến, đậu trên bệ cửa sổ hót thành bản đại hợp xướng. Có người thức giấc, kéo lê dép, ra ngoài cửa đứng một lúc dưới bầu trời, lại đến trước cửa nhà Con Trời ngạc nhiên nhìn, đã trông thấy cả một vùng đỏ rực, như lửa cháy loang rộng, ngẩng đầu hốt hoảng kêu, nhìn lên trời, lại chạy đến cạnh nhà tập thể gọi ầm ĩ:


-           Mau lên, mau lên nhìn Con Trời!


-           Mau lên, mau lên  nhìn Con Trời!


            Tiếng gọi của ông này vang thấu  khu chín mười chín và Lối cũ, vang thấu một thế giới.


            Mọi người đều thức dậy, dụi dụi mắt, chạy ra cổng, đến trước nhà Con Trời . Bước chân rậm rịch, tiếng gọi rộn rã, đến nơi chợt đứng sững, cúi xuống nhìn đất dưới chân, nghển cổ nhìn trời cao rộng. Bầu trời sáng trắng, mây tím đỏ, chim khách từng bẩy bay đến đậu trên bệ cửa sổ và trên tường khu doanh trại 919. Ai cũng nhìn thấy mây trắng biến thành hình tượng Thiên sứ từ xa xa  bay sang bầu trời bên này. Ai cũng thấy dưới mây tím, mây Thiên sứ, bầu trời sáng láng trắng trong, không hề có một làn gió thoảng. Dưới bầu trời sáng trắng phơn phớt hồng,  trước cửa nhà Con Trời, trong cổng khu 919, trên cây cao cao, dựng lên một giá chữ thập. Chân giá chữ thập chôn rất chặt trong một hố đất, còn Con Trời, trên mặt  đất hàng trăm hoa hồng đỏ và bằng khen đều rải dưới giá chữ thập, treo cài lên cột giá chữ thập. Mặt đất ngợp màu đỏ, như ánh lửa cuốn dài dài. Hoa to hoa nhỏ, hoa lụa, hoa là, hoa doan, trải đỏ, cài đỏ sân khu doanh trại, ửng sáng mặt đất. Giá chữ thập cao cao đứng giữa sắc đỏ, như cây cột buồm cao cao dựng trên biển đỏ bao la lúc sáng sớm và khi chiều tà, còn Con Trời mặc áo choàng xanh thủ công, lưng thắt dải vải dệt tay, bị đóng đinh trên chính giữa giá chữ thập. Dưới giá chữ thập còn rải đất ầm ướt vừa đào tươi mới, trong hoa, đỏ thành màu máu, đỏ thành màu hồng hoa.Có cây cỏ màu trắng, màu xanh nổi trên đất như thân cây hoa ở trong hoa. Giá chữ thập làm bằng gỗ vuông, to như cái bát, cao hơn một trượng, gần hai trượng. Để tự leo lên được giá chữ thập, Con Trời đã đóng lưa thưa mấy thanh gỗ nhỏ ở lưng giá chữ thập.Trong ánh nằng mặt trời vừa mọc ở đằng đông, trên mặt Con Trời bị đóng đinh trên giá chữ thập, một nụ cười mỉm hài lòng, nhịn cơn đau đớn, phát sáng đỏ.             Sau khi trời sáng đúng lúc mặt trời lên, Con Trời rải kín hoa hồng tự đóng mình lên giá. Không ai biết một tháng ở Kinh Thành, Con Trời đã thấy gi, gặp gì, đã xảy ra chuyện gì. Việc đầu tiên sau khi Ngài về, là tự đóng mình lên cột giá chữ thập phủ rải kín hoa hồng. Để dự phòng bản thân chịu không nổi đau đớn rơi khỏi giá, Ngài còn trói mình trên giá chữ thập mấy vòng, sau đó lấy đinh dài đóng hai chân mình lên cột gỗ trước, lại dùng tay phải và ba đinh to đóng tay trái mình lên thanh gỗ ngang, Còn lại tay phải cuối cùng, khi không đóng được đinh lên tay phải, Ngài gắn trước cái đinh dài lên xà gỗ ngang bên phải, mũi đinh hướng ra ngoài, vung mạnh cánh tay và mu bàn tay phải về phía sau, bàn tay phải vừa vặn được ba cái đinh to đóng trên xà gỗ xuyên thấu .


            Ngài đã tự đóng đinh mình.


            Thế là xong việc.


            Như Chúa Giê su, Con Trời đã tự đóng đinh trên giá chữ thập phủ rải kín hoa hồng.


            Máu trên tay, cổ tay đều nhỏ xuống dưới theo cột gỗ giá chữ thập, như hoa xuân thắm đỏ trên gỗ trắng. Những giọt máu trên hoa như nước rơi trong biển lớn rỏ xuống đất như đất vàng hoà vào mặt đất. Nhưng mặt Con Trời không đau đớn và méo mó, rất bình thản như ý, môi mỉm cười thoả mãn, y như bông hoa hồng khổng lồ nở trên bầu trời, nở trên đỉnh giá chữ thập…


            Dưới giá chữ thập, trước hàng loạt hoa hồng ở phía nhìn về chính đông, xếp từng túi từng túi lương khô. Trên mỗi túi lương khô, lại còn gài một ngôi sao sắt màu đỏ như cái nhị hoa lung linh để từng người được tự do đi lại .


            Trong cả một vùng sáng đỏ, lan tỏa mùi đậu nành rang.


            Mọi người đều ngạc nhiên, đứng dưới giá chữ thập, cúi đầu nhìn hoa hồng, đậu nành rang, ngôi sao năm cánh. Khi ngẩng lên nhìn Con Trời trên giá chữ thập, máu đang từ trên giá chữ thập nhỏ giọt xuống. Ánh nắng trong suốt, sáng vàng toả bốn phía, máu từ trời giáng xuống như những hạt ngọc trai đỏ. Từng bầy chim sẻ, chim khách báo tin lành bay đến. Mây tím bay giữa không gian vắng vẻ hoang dã. Khi mầu tím, xanh trắng, mây tím hình như Thiên sứ từ xa xa bay trên bầu trời giá chữ thập, tất cả chim khách đậu trên tường, trên cửa sổ, trên mái nhà, trên sân khu doanh trại đều ngẩng lên nhún nhảy ríu rít hót lời ca mọi người như hiểu mà không hiểu.


            Giữa lúc này, Con Trời rút cuộc đã mở mắt, nói mấy câu cuối cùng:


            - Ta tự đóng ta lên giá này tại đây – Anh chị em đều về đi, mỗi người một túi lương khô và một ngôi sao đỏ, từ bên dưới ta các ngươi đi đi, muốn đi đâu thì đi.


            Nói đến đây, Con Trời lại ngắm nhìn hoa và người dưới giá chữ thập, như đếm số người,:


            - Anh chị em có bốn mươi tư người, nhưng ta chỉ có bốn mươi ba ngôi sao. Có một người, ông không thể dời khỏi nơi này, ta chỉ có bốn mươi ba ngôi sao.


            Con Trời dồn sức cuối cùng nói to:


            - Tất cả đi vào trong nhà ta. Anh chị em hãy đem theo tất cả những quyển sách có ích về. Đi khỏi ta, ta chỉ van xin anh chị em một việc. Đó là không một người nào được gỡ ta khỏi giá chữ thập, cứ để ánh mặt trời phơi nắng ta. Nhất định, nhất định phải ghi nhớ. Hãy ghi nhớ lời ta phải để nắng trời phơi nóng ta.


             


            Nói xong Con Trời hơi ngả đầu xuống, mái tóc cũng rủ xuống như cỏ bị gió thổi.


            Mây trắng và mây tím hình Thiên sứ đọng trên bầu trời đỉnh đầu Con Trời. Mây mầu tím gắn xung quanh mây Thiên Sứ chiếu trên cả vùng lớn đầy hoa hồng đỏ.


            Bầy chim khách báo tin lành đều vươn cổ đua nhau hót.


            Ai nấy đều vội vàng đổ xô đến dưới giá chữ thập, mỗi người tranh một túi lương khô và một ngôi sao đỏ còn thơm mùi sơn lên đường ra đi. Tuy tranh nhau,  nhưng ai cũng cẩn trọng không dẫm lên hoa, không làm bẩn làm rối hoa. Hoa vẫn đỏ thắm xếp ngay ngắn thành một khối lớn chỉnh tề, đỏ rực dưới giá chữ thập. Mọi người vẫn nối đuôi nhau đi vào trong nhà Con Trời từ dưới giá chữ thập bên hoa đỏ. Nhìn vết tích Con Trời cài cắm hoa và bằng khen trên tường, trên đầu giường, trên mái che trong nhà, giống như những cái hố cây bị đào bị chặt. Trên giường Con Trời, đang bày mấy chục quyển truyện tranh mà về sau này Con Trời thích xem nhất, phần lớn là tranh truyện liên hoàn kể truyện “Kinh Thánh”. Trong nhà, trên nền đất, có mạt cưa và vỏ gỗ Con Trời đẽo làm giá chữ thập, mùi thơm gỗ loang khắp nhà. Đi qua một cửa vào gian bên trong, kéo rèm che cửa sổ màu đen bằng vải dệt thủ công để ánh sáng ùa vào, đều nhìn thấy, trên giá sách lớn bằng gỗ thô mà chắc Con Trời tự đóng, bày kín hai hàng sách của mọi người, có quyển sau khi mất bìa, Con Trời đã dùng giấy xi măng bọc lại cẩn thận. Đứng dưới giá sách trong buồng sáng, ai cũng thấy rõ những quyển sách Con Trời xé làm mồi đốt lửa sưởi ấm mùa đông, trên giá đều có hai ba quyển trở lên được phục chế lại. Ai cũng ngắm nghía giá sách và im lặng. Trong nhà đầy bụi bẩn, riêng giá sách vẫn chỉnh tề không hề có bụi bậm, có dấu vết vừa mới được lau sạch, còn có mùi giấy ướt màu trắng xám nổi bật.


            Người nào cũng tìm thấy sách của mình trên giá khi mang nộp, đã tìm thấy sách mình luôn luôn muốn đọc không tìm thấy.


            Đến giữa trưa, khi nắng đã bắt đầu gay gắt, mọi người mang theo hành lý, sách và lương khô đi thành hàng một. Ngực anh chị em nào cũng gài một ngôi sao năm cánh, đi dưới giá chữ thập cạnh màu đỏ, ra khỏi khu doanh trại. Đến bây giờ ai cũng biết học giả không đi tranh ngôi sao. Khi mọi người tranh nhau, ông đứng thẳng nhìn anh chị em - những trí thức -  những người cùng cảnh ngộ. Học giả không chen vào trong nhà giằng sách. Ông luôn luôn đứng nhìn anh chị em trí thức cùng cảnh ngộ. Khi anh chị em vào nhà ôm sách, học giả đứng dưới giá chữ thập, thay Con Trời bày lại  tử tế số hoa hồng bị người khác tranh giành làm lộn xộn, lại còn treo mấy bông hoa bị rơi lên hai thanh dọc ngang của giá chữ thập. Ai cũng ôm bó sách từ trong nhà đi ra, học giả vẫn bình thản đứng tại chỗ. Mọi người sắp ra đi, học giả không có sao năm cánh. Ông đứng dưới nắng trời, dưới giá chữ thập, bên đống hoa, khi vẫy tay chào từ biệt anh chị em, tiễn đưa những trí thức cùng cảnh ngộ ra về ông nói;


            - Xin các bạn để lại cho tôi những quyển sách có liên quan đến Phật đến Thiền các bạn đang ôm, anh chị em đi nhé!


            Mọi người đứng lại để toàn bộ sách Thiền, sách Phật dưới ánh nắng, dưới giá chữ thập và trước mặt học giả bên cạnh bãi hoa. Khi mọi người đi qua dưới thân Con Trời, ai cũng ngẩng đầu, nhìn thấy mây tím màu tím đỏ và mây Thiên sứ màu trắng tuyết trên bầu trời. Còn vô vàn những con chim khách báo tin lành đã biến mất. So với ánh nắng nóng nực từ trên trời dọi xuống trước kia, thì máu trên tay, trên chân Con Trời và trên giá chữ thập, máu đã đọng thành màu đen sẫm. Còn  trên trán, trên mặt Con Trời,  đã ánh lên màu bóng mỡ, môi miệng Ngài khô nứt đã có vẩy cong lên.


            Học giả nhìn nhà văn dặn:


-           Nhất định phải dẫn anh chị em đi.


Nhà văn  gật đầu với học giả và giục


-           Tháo gỡ Con Trời xuống đi chứ!


Học giả suy nghĩ đáp:


            -  Các bạn cứ đi đi, mình sẽ ghi nhớ lời Con Trời, khi đến giờ tháo gỡ Chúa Giê su, mình sẽ tháo gỡ Ngài.


            Con Trời vẫn treo trên giá chữ thập. Trên giá chữ thập phủ kín hoa dưới ánh  nắng, từng người, từng người một, từ từ im lặng bước đi dưới thân Ngài, dưới giá chữ thập.


            Cứ để mặt trời phơi nóng Ngài.


            Một mình học giả ở lại với Ngài.


            Bước lên con đường cái rộng mở thông ra bên ngoài, dòng người cứ đi đi mãi, đi một cách quang minh chính đại, đi qua hết trạm kiểm tra yêu nước này đến trạm kiểm tra yêu nước khác. Khi hoàng hôn, họ gặp một ngã ba, từ đường cái họ đi ra khỏi bãi mênh mông sông Hoàng Hà, chợt trông thấy hàng ngàn hàng vạn dân thường không sao đếm xuể kẻ gánh người kéo xe ùn ùn từ ở ngoài đi vào bên trong. Bụi đường mù mịt, tiếng bước chân rậm rịch không ngớt. Mỗi gia đình,  trên xe bò, trên quang gánh đều có chăn nệm và nồi bát, còn có cả những ngôi sao sắt, ngôi sao giấy cắm hoặc dán trên biển.


            Gia đình đi trước tiên, chủ nhà khoảng ngoài ba mươi hoặc bốn mươi tuổi, dáng thanh gầy, thọt chân, oằn lưng cầm càng xe. Vợ, bố mẹ và xoong chảo bát đĩa chất cao ngất ngưởng trên xe. Một gia đình dẫn bà con từ một ngã ba khác đi vào trong khu dục tân bãi sông Hoàng Hà mênh mông. Trên xe anh ta kéo, cắm một biển gỗ, trên biển dán một hàng ngôi sao mờ nhoà đã phai mầu từ lâu. Người trên xe, cụ già trẻ con và đàn bà, trên ngực ai cũng gài ngôi sao. Họ đi vào bên trong bãi. Nét mệt mỏi do lặn lội đường dài và bụi bậm bám trên mặt họ như vải che. Nhà văn và đám đông quay lưng về phía mặt trời lặn đi ra ngoài, từ xa xa nhìn gia đình họ đi vào trong bãi theo hướng mặt trời lặn, gia đình này dẫn đám đông, đi vào trong, cũng từ xa xa quay lại nhìn họ, sau khi đi sát vai nhau ở ngã ba đã rất xa, nhà văn đột nhiên dừng lại, ngạc nhiên kêu:


            -Ơ kìa, anh chàng kia chính là cậu nhân viên thí nghiệm đã tìm ra cát đen trong phong trào luyện gang thép đại quy mô mùa đông năm ngoái, giành được năm ngôi sao đã được tự do về nhà!


            Tất cả đứng lại nhận ra con người vừa đi qua đúng là chàng nhân viên thí nghiệm, họ đều giơ tay làm loa che lên mồm gọi to họ tên của anh nhân viên thí nghiệm, hỏi anh ta tại sao từ ngoài vào trong này. Nhưng anh ta kéo cả gia đình cùng đồ đoàn đã đi xa về hướng mặt trời lặn. Cả gia đình anh ta đã hoà tan trong ráng chiều tối, giống như mấy cây cỏ khô mất hút trong hoang dã mùa thu, may mà những người đi theo đã bước đến trả lời:


            - Nghe đâu trong đấy đất rộng người thưa, mùa xuân vạn vật khai hoa, có thứ ăn không hết!


            Đám đông đi vào trong, nhà văn và đám anh chị em đi ra ngoài.


 


 


                               


Chương 16


THƯ CẢO (bản thảo sách)


 


                     THẦN THOẠI SI SY PHE MỚI


 


            (Về “Tội nhân lục” trong “TỨ THƯ” này, đã xuất bản làm tư liệu lịch sử của những năm tám mươi thế kỷ trước, còn quyển ký sự LỐI CŨ  gần năm trăm trang cho mãi đến năm 2002 mới xuất bản. Thời qua cảnh đổi, phản ảnh trở lại bình bình không tăm tiếng cho lắm. Nhưng cuốn sách CON TRỜI này, mấy năm trước tôi đã mua được ở một hiệu sách cũ, chỗ ghi tên tác giả đề hai chữ DẬT DANH (khuyết danh )do Nhà xuất bản Thần thoại điển tịch Trung Quốc xuất bản. Chỉ có quyển duy nhất không xuất bản là Bản thảo tuỳ bút triết học THẦN THOẠI MỚI SISYPHE  học giả suy nghĩ nhiều năm chưa viết xong. Cả cuốn sách có ba chương mười một tiết, mãi đến mấy chục năm gần đây, nghe đâu, vì học giả cuốn sách có tư tưởng lật đổ, lẫn lộn, lại tối nghĩa khó hiểu đối với sự sinh tồn và tinh thần của xã hội loài người, không hiểu tại sao nửa cuốn sách viết bằng thuốc tím mãi đến tận bây giờ vẫn chưa được xuất bản và ra mắt bạn đọc. Tôi nhìn thấy nửa cuốn sách này trong Sở nghiên cứu văn hiến triết học nhà nước. Trong bản thảo nửa cuốn sách này, lời nói đầu gồm mấy ngàn chữ thể khiến ta láng máng hiểu được ít nhiều).


            Sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đối với Sisyphe, quay vòng như Trời làm cho trái đất có bốn mùa xuân hạ thu đông. Thời gian cứ ngày lại ngày vận hành và tiến lên phía trước. Nhưng loài người cũng có kẻ cho rằng, không phải thời gian tiến lên phía trước, mà cứ ngày lại ngày vận hành và lùi lại đằng sau. Ngày mai, ngày kia đến chỉ là sự bày ra từ sau lên trước theo từng nấc đã định sẵn, giống như một quyển truyện tranh liên hoàn bắt đầu từ trang cuối cùng, lật từng trang về đầu. Cho nên chúng ta ghi nhớ cái qua đi, chúng ta chỉ không biết và dự đoán cái sẽ đến. Trong thời gian đảo ngược này, Sisyphe trở nên thư thái bình thường đối với sự trừng phạt. Chỉ có điều chúng ta đối mặt với  Sisyphe hết ngày nọ đến ngày kia lăn đá từ dưới núi lên đỉnh núi, khi ông chưa hết thở, hòn đá lại từ đỉnh núi lăn xuống chỗ cũ dưới chân núi. Cho nên sáng sớm hôm sau, ông lại thở hổn ha hổn hển gạt mồ hôi như tắm, lại lăn hòn đá lên đỉnh núi. Cứ thế lặp đi lặp lại mãi, không ngưng nghỉ, không bao giờ chấm dứt, như trái núi lớn đè lên nội tâm của những người bên cạnh chúng ta.


            Chúng ta coi Sisyphe là một người anh hùng. Loại anh hùng có thể chịu đựng sự hoang đường, khổ nạn và trừng phạt. Bi tráng cũng ở trong lòng chúng ta. coi sự chịu đựng của Sisyphe là thìa khoá và tinh thần giải thích thiện thực và chào đón hiện thực của loài người. Nhiều người không biết, đây là sự hiểu lầm và xuyên tạc của chúng ta đối với Sisyphe. Trong thời gian chảy ngược này, Sisyphe đã thích ứng tự nhiên thoải mái đối với thứ bị chúng ta coi là trừng phạt và cảm thấy đó là sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đối với tội ác của ông. Ông cũng đã từng bắt đầu bối rối không yên tương tự như thế. Nhưng sức mạnh của thời gian khiến ông thích ứng tất cả. Thích ứng đã trở thành kẻ thù và vũ khí của thời gian, tiến hành chống chọi và chiến đấu với thời gian. Sáng sớm bắt đầu đẩy hòn đá lên đỉnh núi. Khi mặt trời lặn lại nhìn tảng đá lớn từ đỉnh núi lăn xuống. Hôm sau bắt đầu cuộc đẩy lên rơi xuống mới. Quá trình vận hành tuần hoàn cứ lặp đi lặp lại này, Sisyphe đã coi là việc phải làm và trách nhiệm của mình. Mất đi cái vòng thời gian tuần hoàn trở đi trở lại này, trái lại đã làm cho Sisyphe cảm thấy ý nghĩa của mạng sống bị tiêu hao và mất mát.


            Cho dù thời gian lên trước hay lùi lại sau, tuổi tác già đi hay trẻ lại, Sisyphe không thay đổi hoàn toàn, chỉ thay đổi giữa mệt mỏi và nghỉ ngơi. Nhưng một hôm bị khinh suất bỏ qua, khi tảng đá từ trên núi lăn xuống, Sisyphe theo sau tảng đá, dẫm lên ánh nắng từ trên núi xuống, chuẩn bị công việc hôm sau, tình hình đã thay đổi.


            Ông gặp một cậu bé.


            Một cậu bé xuất hiện trên đường núi ông trở đi trở lại một cách tuần hoàn, cậu bé đứng ở cạnh đường xem tảng đá lăn xuống và  bước chân của Sisyphe, Cậu bé này non dại, trong sáng và ngây thơ, đầy lòng hiếu kỳ đối với danh dự và thế giới. Lần đầu tiên Sisyphe gặp cậu bé chỉ liếc nhìn em một cái. Lần thứ hai lăn tảng đá lên núi, cậu bé không ở cạnh đường. Nhưng đến hoàng hôn khi ông cùng tảng đá xuống núi, lại nhìn thấy cậu bé xuất hiện bên đường lưng núi, xem tảng đá lăn xuống và Sisyphe theo sau.


            Hôm nay, Sisyphe dừng bước gật đầu với em bé: “ Chào cậu”


            Trong im lặng vô tận của thời gian, lần đầu tiên Sisyphe nói hai chữ với một người.


            Về sau, ngày thứ ba, ngày thứ tư, mỗi buổi hoàng hôn, Sisyphe theo tảng đá từ trên núi lăn xuống đều nhìn thấy em bé đứng bên đường lưng núi trong lúc mặt trời lặn, ông cũng đều gật đầu nói mấy câu với cậu bé.


            Sisyphe đã đem lòng yêu cậu bé.


             Tình yêu và cảm tình giữa ông và cậu bé cũng đã trở thành thời gian kết hợp hai người lại, khiến Sisyphe đã phát hiện ý nghĩa mới và sự tồn tại trong lặp đi lặp lại của việc ông bị trừng phạt.Chỉ cần ngày nào ông cũng lăn tảng đá lên, khi tảng đá ấy lại lăn xuống núi lúc ông đang thở hổn hển liền có thể nhìn thấy cậu bé non dại, trong trắng, đầy lòng hiếu kỳ đối với thế giới và vinh dự đứng ở lưng núi. Cậu bé thường chờ Sisyphe ở chỗ đó, vào lúc đó. Sisyphe không quên được cặp mắt sáng long lanh của cậu bé. Chỉ cần ngày nào ông cũng lần lượt lăn tảng đá lên lại lăn tảng đá xuống đúng giờ, ông sẽ có thể gặp cậu bé ở lưng núi. Nếu không lăn lên và lăn xuống, ông sẽ không thể trông thấy cặp mắt sáng long lanh của cậu.


            Sở dĩ ông yêu cậu bé này, là bởi vì cậu bé đã đem lại cho Sisyphe ý nghĩa và sự tồn tại mới trong việc cứ lăn lên lăn xuống vô nghĩa của mình. Không lăn lên lăn xuống, ông không thể nhìn thấy cậu bé. Để gặp cậu bé, Sisyphe bắt đầu thấy mong nhớ và tràn đầy nhiệt tình đối với công việc lăn đá lên lăn đá xuống hàng ngày, không oán trách, không xem thường, chịu thương chịu khó, vui vẻ với công việc.Ông không có lúc sáng sủa ban ngày sau khi mặt trời mọc, nhưng ông có lúc hoàng hôn sau khi mặt trời lặn. Để hàng ngày theo tảng đá lăn xuống nói chuyện và trao đổi với cậu bé lúc hoàng hôn, nét mặt Sisyphe bắt đầu nở nụ cười ấm áp và rạng rỡ.


            Đức Chúa Trời đã phát hiện ra tất cả chuyện này.


            Đức Chúa Trời  không chấp nhận Sisyphe tìm ra sự thích hợp và ý nghĩa  trong trừng phạt đối với ông. Đức Chúa Trời không còn bắt Sisyphe từ bên này núi lăn đá lên núi. Đức Chúa Trời bắt ông từ bên kia núi - mặt sau núi - dốc hết sức lăn đá từ đỉnh núi xuống. Bên này núi, dùng sức lăn đá lên, tảng đá sẽ từ trên núi tự động lăn xuống trong phút chốc, nhưng ở mặt sau của trái núi thì ngược lại, Khi tảng đá từ trên lăn xuống, Sisyphe phải dùng sức cực lớn đẩy tảng đá lăn xuống núi. Nhưng sau khi tảng đá lăn xuống chân núi, nó sẽ tự động từ chân núi lăn lên đỉnh núi với tốc độ rất nhanh.


            Đây là một  thứ “hiệu ứng dốc quái”.


            Trong hiệu ứng dốc quái, Sisyphe gặp phải sự trừng phạt tinh thần và cấm đoán mới. Ông không còn được gặp cậu bé. Tình yêu và nỗi nhớ cũng trở thành sự trừng phạt cấm đoán đối với thể xác và tinh thần của Sisyphe. Ông đã có tội mới, tội này không chỉ là do ông có tình cảm yêu cậu bé, mà còn đòi hỏi ông phải thich hợp và có nhu cầu đối với lăn đá lên, lăn đá xuống. Một khi con người có sự đồng điệu và thích ứng đối với đau khổ, sự thay đổi, nỗi chán chường, sự hoang đường và chết chóc do kết quả của trừng phạt, thì trừng phạt mất đi ý nghĩa. Trừng phạt sẽ không còn là một thứ roi đòn và sức mạnh, còn thích ứng sẽ từ trong bất lực và bất đắc dĩ chuyển hoá thành vẻ đẹp và ý nghĩa. Đây vừa là tính ì và bất lực của sự phát triển trong quá trình tiến hoá của loài người, vừa là sự bất lực của tính ì lúc này cũng trở thành sự đối kháng và sức mạnh có ý nghĩa. Tính ì sinh ra sức mạnh hàm chứa thích ứng và thuận theo.


            Ở bên kia của  trái núi, Sisyphe là Sisyphe của đằng tây.


            Ở bên khác của  trái núi, Sisyphe là Sisyphe của đằng đông.


            Hàng ngày Sisyphe bắt đầu từ trên núi, vuốt mồ hôi như tắm, dùng sức đẩy tảng đá lớn từ đỉnh núi xuống chân núi. Khi ông chưa đứng vững chân, tảng đá ấy bị một quái lực lôi lại, rất nhanh chóng tự nhiên tự lăn lên đỉnh núi, Hôm sau, Sisyphe lại phaỉ từ trên núi đẩy mạnh xuống, tảng đá ấy lại tự động lăn lên núi vào lúc mặt trời lặn, Sisyphe sẽ phải phí sức leo lên đỉnh núi theo tảng đá. Ở trên đỉnh núi chờ hôm sau, khi đằng đông hửng đỏ, lại dốc sức lăn tảng đá xuống chân núi một lần nữa. Ngày lại ngày không được gặp cậu bé, mà còn phải mãi mãi không dừng dùng sức lăn từ trên xuống dưới. Ngày nào cũng làm cho Sisyphe hao hết sức lực, đã bất lực, lại không hiểu, mà Đức Chúa Trời luôn luôn nhìn từ xa, không nói không rằng. Trong cuộc trừng phạt ngược hướng lần này của Đức Chúa Trời đối với Sisyphe đích thân cảm thấy nỗi oán hận và giận lây của Đức Chúa Trời đối với mình. Trong thời gian rất dài, ông không sao thích ứng với sự trừng phạt và cấm đoán điên đảo này. Đây không chỉ là khi tảng đá trước kia lăn xuống ông xuống theo một cách nhẹ nhàng, mà hiện giờ, tảng đá lăn xuống ông còn phải ra sức đẩy, mà sau khi tảng đá tự động lăn lên, ông phải ra sức bám theo, dốc sức đẩy, mà lại còn phải một lần nữa phí sức leo lên núi, trả giá gấp đôi thể lực và tinh lực. Càng quan trong hơn là trước kia khi đẩy đá lên núi, ông phải khuỵu chân oằn  lưng, hễ ngẩng lên có thể trông thấy chấm sáng và Thiên đường trên trời. Từ dưới lăn lên, lấn nào cũng khiến ông cảm thấy lăn lên là tiếp cận và giao lưu với Trời và Đức Chúa Trời. Nhưng bây giờ, khi đẩy mạnh, ông không nhìn thấy điểm sáng và Thiên đường trên trời. Ông cảm thấy Đức Chúa Trời, Thiên đường và tinh thần đã quay lưng lại với ông. Trong sự lặp lại lăn lên đẩy xuống ở bên kia núi, ông lại đích thân cảm thấy sự trừng phạt và cấm đoán đối vớí ông là đòn roi và đốt cháy thể xác  linh hồn ông, mà lại không thể lý giải động cơ huyền bí và sức mạnh khiến tảng đá lớn biết tự động từ dưới lăn lên, còn từ trên lăn xuống thì phải tốn sức mới đẩy nổi. Đức Chúa Trời nói với ông:


            - Ngươi phải giải thích rõ với Đức Chúa Trời cái lý tồn tại của quái lực dốc quái này, giải thích không rõ, ngươi sẽ phải đẩy mãi mãi.


            Sisyphe không thể lý giải nổi lý lẽ hòn đá tảng từ trên lăn xuống dưới phải dùng sức, còn từ dưới lăn lên trên không phải dùng sức. Nhưng ngày nào, khi Sisyphe dùng sức đẩy tảng đá lớn từ trên lăn xuống, đều suy nghĩ đến quái lực và động cơ huyền bí này. Nhưng ông không biết, suy nghĩ vĩnh viến không trả lời nổỉ câu hỏi hóc búa này, cũng là sự trừng phạt và cấm đoán mới của Đức Chúa Trời đối với Sisyphe. Ngày nào Sisyphe cũng suy nghĩ đến mức đau đầu nhức óc. Nhưng khi suy nghĩ quanh năm suốt tháng không có kết quả, ông bắt đầu hối hận mình gặp cậu bé trên đường cạnh núi, hối hận mình đã yêu cậu bé, khi không thể chịu nổi dùng sức lăn hòn đá tảng từ trên núi xuống, phải trả giá bằng sức suy nghĩ như đẩy từ dưới núi lên, cứ thế ngày lại ngày, tuần hoàn trở đi trở lại, không ngưng nghỉ. Ông bắt đầu trở nên nôn nóng không yên, tràn đầy oán khí và say sưa rung động cần phải tìm Đức Chúa Trời hỏi cho ra nhẽ. Nhưng ông biết nếu ông tìm Đức Chúa Trời hỏi cho ra nhẽ, Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt và cấm đoán ông lớn hơn.


            Cứ thế trong sự bất an hàng ngày vào mỗi buổi sáng, khi Sisyphe dốc hết sức lực đẩy hòn đá tảng từ trên núi xuống, lúc hoàng hôn hòn đá tảng lớn lại tự động từ dưới núi lăn lên đỉnh. Cứ thế cứ thế, ngày nọ nối tiếp ngày kia, ông không còn suy nghĩ đến đau đầu nhức óc nữa. Lại một lần nữa ông quen và thích ứng với việc lặp đi lặp lại và tuần hoàn không ngưng nghỉ dùng sức đẩy hòn đá tảng từ trên núi xuống. Ông bắt đầu trở nên chăm chỉ, chịu thương chịu khó đối với sự trừng phạt ngược chiều này, làm cho sự trừng phạt cấm đoán trở nên bình thường và đồng điệu với thế xác và linh hồn ông. Sự thích ứng lẫn nhau đã thay đổi sức mạnh, sự lạnh lùng tàn khốc, sự hoang đường, thậm chí nỗi tuyệt vọng và lẻ loi cô đơn dầu cạn đèn tắt và cái chết giữa tội và phạt. Giống như gặp cậu bé bên đường lần trước, Si sy phe khi dùng sức đẩy hòn đá tảng từ trên đỉnh núi xuống, một hôm khi oằn lưng dùng sức đẩy, ánh mắt lướt qua đỉnh tảng đá, ông nhìn thấy cây cối nhà cửa, thôn bản, khói bếp và bọn trẻ con chơi đùa trước cổng nhà chùa dưới núi.


            Vượt qua sự trừng phạt của Đức Chúa Trời, ông đã nhìn thấy ngôi chùa và bức tranh khói bếp đời thường ở dưới núi.


            Sisyphe đã đem lòng yêu bức tranh khói bếp và nhà chùa đời thường này.


            Trong sự mệt mỏi của suy nghĩ, ông không còn tâm can suy nghĩ câu hỏi Đức Chúa Trời nêu ra cho mình,cũng không còn có nguyện vọng và khao khát  giải đáp quái đề nữa. Sự thích ứng mới đã cho ông lý do và sức mạnh mới. Thôi suy nghĩ đã làm cho ông trở nên yên hàn, thư thái và đồng điệu. Mỗi chiều tối, leo lên núi theo tảng đá tự động lăn từ trên xuống, chính là để hôm sau khi đằng đông hửng sáng, ra sức đẩy hòn đá tảng lăn xuống, khiến ông cách trên càng ngày càng xa, cách dưới càng ngày càng gần. Cuối cùng có thể nhìn thấy cây cối, nhà cửa, ruộng vườn, khói bếp, bò dê và trẻ nhỏ nô nghịch trước cồng nhà chùa. Khói bếp hiện thực đã cho Sisyphe sức thích ứng và ý nghĩa mới trong sự trừng phạt cấm đoán. Sau rất nhiểu rất nhiều năm tháng, ông đã không muốn lại đẩy tảng đá từ dưới lên, càng muốn đẩy từ trên xuống dưới. Vì thế ông đâm lo Đức Chúa Trời phát hiện ông không còn tiến hành suy nghĩ đối với quái lực mà có thích ứng mới,   thích ứng với trừng phạt mới, biến xử phạt thành sự cấn thiết của bản thân sự tồn tại và chỉ là sau khi triển khai thời gian mạng sống của con người, sẽ càng đổi mới cải biến con đường và phương hướng của ông dùng sức đẩy từ trên xuống dưới. Ví dụ không để ông đẩy tảng đá từ trên xuống dưới, cũng không để ông đẩy từ dưới lên, mà vẽ một đường ở lưng núi, biến hình tròn trịa của tảng đá thành không hình không quy tắc, bắt ông đẩy tảng đá không hình dáng, đã không tròn cũng không vuông, đã không hình tam giác, cũng không hình bầu dục, mỗi ngày đi một vòng theo đường com ba ở lưng núi, mặt khác không để tảng đá dời đường kẻ lưng núi một tấc, mà khi dời sẽ phạt nặng hơn, thì Sisyphe sẽ không thể tiếp tục sự trừng phạt mà ông đã thích ứng chịu đựng.


            Để ngày nào cũng nhìn thấy bức tranh khói bếp đời thường và nhà chùa trong hiện thực, không để Đức Chúa Trời thay đổi một lần nữa sự thích ứng và đồng điệu của ông, hàng ngày khi Sisyphe dùng sức đẩy tảng đá lớn từ đỉnh núi lăn xuống, trong ánh mắt đều không nhìn thấy ánh sáng của đời thường hiện thực, nét mặt bao giờ cũng tỏ ra đăm chiêu suy nghĩ về quái lực.


            Cuối cùng Đức Chúa Trời không phát hiện ra mọi chuyện này. Ở bên khác của trái núi, ngày nào Sisyphe cũng dùng sức đẩy tảng đá lớn từ trên xuống trong tư thế bình tĩnh, thích ứng và nhởn nhơ mà tự đắc.  


                                                                                   


HẾT


Nguồn: Tứ thư. Tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa. Vũ Công Hoan dịch.


Nhà văn Vũ Công Hoan gửi www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »