tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20517756
Tiểu thuyết
26.09.2012
Triệu Xuân
Đâu là lời phán xét cuối cùng

Ở thị trấn Hòa Bình, tiệm tạp hóa của vợ chồng ông Năm Thẹo là tiệm nổi tiếng nhất, phần vì nó lớn nhất chợ Hòa Bình, thứ gì cũng có, phần vì giá cả ở đây rẻ hẳn so với các tiệm khác. Vợ chồng Năm Thẹo chẳng phải xa lạ ở xứ này. Dường như cùng một lúc với việc ra đời đồn điền Hòa Bình năm một ngàn chín trăm mười bốn thì cũng ra đời chợ Hòa Bình. Người bán hàng xén đầu tiên ở chợ là bà Cả Ngỡi. Cả Ngỡi có chồng đăng lính, đi đánh nhau ở tận bên Tây(1) . Chồng chết, để lại cho bà chút ít vốn liếng và đứa con trai đặt tên là thằng Năm. Nghe nói ở Hòa Bình, Tây mới mở đồn điền, bà liền bỏ căn nhà bẹp ở Lai Khê lên đây mở quán. Năm lớn lên ở chợ, rồi theo nghiệp bố, lại đi lính, rồi lấy vợ. Năm một ngàn chín trăm năm mươi tư, Pháp thua Việt Minh, Năm giải ngũ về ở với mẹ và vợ tại chợ, lúc đó, chiến tranh để lại vết thẹo lớn trên cổ của y. Vết thẹo kéo dài từ mang tai đến gần tới bả vai. Từ ngày ấy người ta kêu y là Năm Thẹo, để khỏi nhầm lẫn với viên chi khu trưởng cảnh sát cũng tên là Năm. Năm Thẹo ở lì tại chợ được vài năm thì tự nhiên xây nhà lầu, căn nhà lớn nhất chợ Hòa Bình. Năm Thẹo nói với mọi người là y trúng số độc đắc, vé cặp hai mươi lận! Ai cũng tin thế. Rồi Mỹ chiếm đồn điền Hòa Bình làm căn cứ, lính Mỹ chà xát, cày nát cả vùng này, chỉ trừ nhà Năm Thẹo là chúng không đụng tới. Tầng trệt nhà Năm Thẹo biến thành snách ba phục vụ sư đoàn Anh Cả đỏ. Biết bao lần bom rồi pháo dội xuống Hòa Bình như mưa, nhà cửa, rừng cây thi nhau đổ sập, cháy rụi. Vậy mà thật lạ kỳ, căn nhà đúc của Năm Thẹo vẫn trơ trơ ra đó. Kỹ nghệ buôn bán, Năm Thẹo thích nói như thế về nghề của mình, từ sau giải phóng ngày càng phát đạt. Năm Thẹo có hai đứa con trai, một đứa bị bắt lính và chết trận. Đứa thứ hai thì xung vào lính đàng hoàng chứ không bị bắt lính. Năm Thẹo rất tự hào về đứa con thứ hai là trung úy dù. “Nó đã dọt đi Mỹ một ngày trước khi dinh Độc Lập phấp phới lá cờ đỏ trưa ngày ba mươi tháng Tư năm bảy mươi lăm. Cái thằng hay thiệt!”. Những lúc ngà ngà men rượu thuốc, Năm Thẹo thường rỉ vào tai khách hàng câu nói đầy tự hào ấy.


Từ ngày về làm giám đốc Hòa Bình, Tư Bình được Sáu Hà biếu rượu thuốc thường xuyên. Nhận đồ biếu là chuyện ông không thích. Ông hỏi Hà mua rượu ở đâu. Sáu Hà nói ở tiệm Năm Thẹo. Thế là, tiệm Năm Thẹo có thêm một khách hàng thường xuyên. Lúc đầu, ông Bình chỉ uống một ly trước khi đi ngủ. Càng về sau này, ông Bình uống nhiều hơn, uống trong bữa ăn, chứ không còn sử dụng vào việc đón giấc ngủ như trước. Có những chủ nhật, ông đóng cửa, nằm uống một mình hết ly này đến ly khác. Ông buồn!


Mùa khô đến, nhiệt độ có ngày tới ba mươi tám độ C. Nóng nực đến mức không thể nào nóng hơn được nữa. Mùa khô ở rừng cao su dễ làm người ta bực bội vì khí hậu khắc nghiệt quá. Nóng như đốt. Ngồi trong nhà mà da thịt cứ hâm hấp, rin rít mồ hôi. Nóng tới mức trai gái chơi bời cũng không dám nghĩ tới chuyện gần gũi nữa!


Ông Bình cảm thấy khó chịu vô cùng vì nóng nực một phần, nhưng chủ yếu, ông bực bội về chuyện sản xuất, chuyện đời sống công nhân, chuyện tình nghĩa bố con đổ vỡ. Con ông đã ra mặt chống ông. Nó nói thẳng là ông nên xin từ chức! Có người bố nào lại không mất bình tĩnh khi gặp cảnh ngộ này!


Hôm nay, ông lại nhờ bà Tư Lé đi mua cho một lít rượu. Cái món rượu thuốc bắc ngâm với tắc kè của Năm Thẹo quả là tuyệt vời. Ngồi bên dĩa đậu phộng chờ rượu về, ông thấy đầu óc trống rỗng, miệng đắng chát. Bà Tư Lé về cho ông hay: Tiệm Năm Thẹo đã đóng cửa. Ông hỏi vì sao vậy. Bà Tư trả lời:


- Ôi! Cải tạo chứ làm sao nữa? Bộ ông giám đốc không biết à? Cả chợ náo loạn cả lên mấy ngày nay! Vật giá leo thang! Năm Thẹo đóng cửa, không bán hàng nữa!


Miệng đắng ngắt, mắt hoa lên, ông Bình cảm thấy cái vị đắng cứ dâng lên, dâng lên nghẹn cả cổ. Ông quay vào lấy bình nước lọc. Không còn một giọt. Ông đổ bình thủy nước sôi vào. Nước nóng quá, mà ông thì quá khát. Ông vớ mấy viên đậu phộng da cá cho vào miệng nhai rau ráu. Đậu nghẹn lại nơi họng, không nuốt được. Ông chạy vô phòng tắm nhổ ra, rồi nằm vật xuống giường.


Đêm xuống lúc nào không hay. Ông Bình nằm sốt mê man. Ông đi vào một cơn mơ. Ông mơ thấy nấm mồ của vợ ông bị một con thú rừng xới tung lên….


Trong khi đó, ở căn hầm đào sâu dưới nền nhà kho chứa hàng của Năm Thẹo, có ba người đàn ông đang cắt tóc, cạo râu cho nhau. Năm Thẹo nói trong khi đang gói ghém đồ đạc vào ba cái ba lô của lính:


- Tình hình ngày một xấu cho tụi Cộng sản. Năm nay đúng là năm đại hạn của xứ này. Lụt lội ở miền Tây rất lớn và kéo dài. Lúa chết hết, cây ăn trái chết sạch, trâu bò heo gà không còn. Ở biên giới Tây Nam thì đánh nhau dữ hơn. Quân Khơ-me Đỏ được các đế quốc bên ngoài trợ giúp chắc chắn sẽ nuốt chửng Cộng sản Việt Nam. Các anh lo mà chuẩn bị để sau này khỏi hổ thẹn. Phải lập công càng sớm càng tốt! Hiểu chớ!


- Dạ thưa sư huynh, hãy tin ở đàn em mà! - Một tên vừa chụp cái nón bê-rê lên đầu vừa ngấu nghiến nhai đùi gà, nói.


- Phải cẩn trọng! Đây là lương ăn cho bảy ngày. Bảy ngày sau sẽ có tiếp tế ở lô mười tám, ở ngay nấm mồ thằng bí thư Hải, khỏi phải về đây. Công an Cộng sản không phải là con nít đâu. Lính của thằng Hai Hùng đó! Mỹ Anh Cả đỏ còn ngán nữa là… Thôi, khuya rồi, đi đi! Đêm nay mà hoàn thành trách nhiệm thì tuần tới các anh có thưởng.


- Dạ, chào anh Năm!


- Chào sư huynh!


 Năm Thẹo nắm hai bàn tay giơ lên ngang mặt. Ba bóng đen thoắt biến vào đêm đen mịt mùng. Đến lô cao su số mười, thuộc sự quản lý của đội Bốn, đội làm ăn bê bối nhất, chúng dừng lại. Tên đội bê-rê đi quanh khu mộ của năm liệt sĩ hy sinh từ năm một chín năm sáu như tìm kiếm gì, rồi la nho nhỏ:


- Đây rồi! Đây là mộ con Nghĩa! Chính nó giết ba tao khi ổng là cảnh sát trưởng ở thị trấn này!


- Thì mày gài vô đó năm sáu trái cho rồi!


- Đúng! Cho nó chết thêm lần nữa đi!


Sau khi khoét sâu vào lòng đất ngay dưới tấm mộ chí, tên đội mũ bê-rê nhét vào đó một trái mìn bấm giờ. Rồi nó bắt đầu rải bột xăng khô. Cả ba thằng thay nhau kéo cái ba lô chứa bột xăng đã mở nắp sẵn ở dưới. Chúng đi như chạy, bột xăng rắc suốt theo chiều dài lô cao su đang sung sức. Tới bờ sông, cũng là hết phạm vi của lô cao su số mười, bọn chúng qua sông bằng chiếc xuồng giấu kín trong lùm cây. Tới bên kia sông, chúng nhấn chìm xuồng, xóa dấu vết rồi nhắm theo thượng nguồn đi tới.


Tiếng gà gáy canh ba réo rắt như mọi ngày, nhưng Hai Gan chợt tung mền chồm dậy. Trong tiếng gà gáy có lẫn tiếng nổ. Đúng là mìn! Nhưng không phải là mìn ở chốt Lìa đời tức lô cao su số mười ba. Lỗ tai của một chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm chiến trường như Gan đã không đánh lừa anh. Anh chạy bổ về hướng lô cao su số mười. Nhưng không kịp nữa rồi! Cả một trăm héc ta cao su đang bốc cháy. Bọn phá hoại đã tính kỹ. Chúng nó rải bột xăng theo chiều gió. Lửa bén vào lá cao su khô, vào cỏ Mỹ, cháy dọc theo chiều dài của lô, được gió thổi đi như cái chổi lửa khổng lồ. Có trời mà cứu được!


Hai Gan đứng sững như trời trồng. Anh tiếc đến đứt ruột vì lô cao su trẻ của Hòa Bình, bấy lâu nay anh đòi giám đốc giao cho anh quản lý mà không được. Lô mười thuộc đội sản xuất số Bốn giáp với lô cao su số tám của đội Hai Gan. Do không được chăm sóc chu đáo, lô cao su số mười gần như bị hoang hóa, giờ đây đã bị đốt cháy. “Trời không dung, đất không tha tụi bay, bọn phản động!”. Gan gào lên, tay ôm chặt lấy đầu, răng nghiến ken két!


*


*    *


Như một vị tướng thất trận sống sót lang thang giữa bãi chiến trường chưa tan khói lửa để xót xa nhìn lại những đồng đội của mình vĩnh viễn qua đời, ông Định đã đi như thế trong lô cao su số mười suốt ngày này qua ngày khác. Đêm, ông vẫn ở đó. Kỹ sư Hiếu phải năn nỉ mãi ông mới chịu về nhà.


Người cha nào bị mất con, không, người mẹ nào cùng một lúc bị mất hết những đứa con của mình thì mới hiểu được tâm trạng của ông Định lúc này. Ông khóc cây như người mẹ khóc những đứa con. Ông già Mười Kèn ở làng Bốn cũng ra lô, cũng giàn giụa nước mắt. Hai người già gặp nhau, một người mắt còn sáng, một người mắt bị lòa, không ai chào hỏi ai nhưng dường như họ hiểu thấu nỗi lòng của nhau. Cùng chạm tay vào nhau, vào cây cao su cháy đen, họ đứng lặng như thế cả tiếng đồng hồ. Họ giữ sự lặng im của rừng cây vừa hóa kiếp sang một kiếp khác. Họ cứ đứng như thế như để mặc niệm vĩnh viễn, mặc niệm mãi mãi, họ muốn theo cây cao su mà đi…


Từ trong lòng đất đỏ, dòng đời tủi cực tưởng đã trôi đi tự thuở nào, giờ lại sống dậy, nhói đau tim ông Định. Đây là lô cao su thứ mười hai do chính tay ông ươm cây, tháp cây và đưa ra trồng. Vào năm năm mươi, ông đã được chủ Tây trọng đãi, cho ông từ su lên sếp làng. Nhờ giống tốt, lai tháp công phu và trồng đúng cách, chăm sóc kỹ, lô cao su số mười sau năm năm đã được mở miệng cạo đầu tiên. Sau năm năm nữa, sản lượng của nó vượt lên cao nhất đồn điền Hòa Bình: một tấn rưỡi mủ khô một năm. Thuở ấy, đi tới đâu chủ Tây cũng nêu lô số mười và ông Định ra để ca ngợi, động viên mọi người lấy đó làm gương.


Khi trồng được lô cao su số mười, ông Định đã yên tâm, thật sự yên tâm về nghề nghiệp của mình. Mới chỉ mười một năm trước đó, tên sếp làng ông đã chửi ông “ngu như bò”, rồi đánh đập ông như con chó hoang. Ông cưới vợ, một cô gái đẹp nhất vùng, nó cướp vợ ông, cưỡng hiếp ngay dưới gốc cao su. Vợ ông tự vẫn mà chết… Ôi đau xót biết nhường nào! Ông đã giết sếp làng, giết chủ Tây rồi bỏ trốn lên đây, lên Hòa Bình này để miệt mài học thành tài, học để không bị chửi là “ngu như bò”, học để thấu đáo cuộc đời để không còn bị khinh rẻ nữa.


Thuở ấy, ở xứ cao su người ta chưa biết đến chụp hình chụp ảnh. Vợ ông chưa đến tuổi để làm căn cước nên đâu có hình ảnh gì để lại. Chỉ có ảnh hình khắc sâu trong trái tim, khối óc của ông là không thể phai mờ. Thời gian, năm tháng chỉ càng khắc sâu thêm mối tình đầu, mối tình duy nhất của đời ông.


Ông Định ngửa mặt nhìn trời. Bầu trời xanh ngằn ngặt. Không còn những tán lá cao su xanh che mát đất rừng. Không còn những con chim nhỏ chuyền cành líu ríu. Không còn gì cả. Chỉ còn những cành cao su đen đúa như những cánh tay khẳng khiu chĩa lên trời mà thốt lên tiếng than: Sao tôi lại bị hành hạ thế này? Tôi có tội gì? Một cơn gió lốc, thứ gió thường thấy ở trong rừng, cuốn bụi bay mịt mù. Ông Định không buồn nhắm mắt tránh bụi nữa. Ông đứng đó, mở mắt trừng trừng nhìn gió cuốn đi da thịt của cây bị cháy… Bỗng nhiên, từ những cột bụi than đen ngòm ấy có một người bước ra, dáng đi thanh thoát mà gương mặt nghiêm khắc, đôi mắt lá răm đen láy ánh lên vẻ thông minh linh lợi. Đôi mắt ấy nhìn ông, thiết tha nhưng rất nghiêm khắc:


- Sao anh đứng đây? - Giọng nói thân thương của vợ ông cất lên, ngọt ngào như thuở nào. Ông mới hưởng hạnh phúc bên người vợ trẻ vừa đúng sáu ngày, đó là sáu ngày kỳ diệu nhất. Bây giờ, vợ ông lại về bên ông đây. Vẫn như xưa, da rám nắng, môi mọng đỏ, hàm răng trắng đều như bắp, và mái tóc dài… Ôi mái tóc mà ông thường vuốt ve, thường vùi đầu vào trong đó.


- Sao anh lại đứng đây? - Vợ ông hỏi lần nữa.


- Ôi, trời ơi! Nhẫn!


- Dạ, em về với anh đây. Em thương anh quá! Anh có biết là tuy ở cõi âm nhưng lúc nào em cũng dõi theo anh hay không?


- Có. Vì anh cũng vậy. Tuy sống trên trần nhưng lúc nào anh cũng nghĩ rằng anh sống với em… - Ông đến bên vợ, hai tay mơn man trên mặt vợ, dừng lại ở hai bờ vai tròn lẳn của Nhẫn - Em biết không, anh đã giết chết tên sếp, tên su và cả lão chủ Tây gian ác để trả thù cho em.


- Em biết. Anh giỏi lắm! Anh đúng là người mà em mong ước. Chỉ tiếc là em… - Nhẫn khóc nấc lên! Em không được sống với mình!…


Nước mắt của hai người hòa chan.


Rồi Nhẫn nín khóc, cô nhìn rừng cây cao su bị thiêu cháy, giọng nghiêm khắc hỏi ông Định:


- Vì sao anh lại để ra nông nỗi này? Còn Tây còn Mỹ nữa đâu mà đốt? Bây giờ rừng cây của người mình rồi mà!


- Phải. Anh… Anh có lỗi với em! Những người sống có tội với những người đã chết! Phải! Đúng như thế. Em tha thứ cho anh! Ôi, vợ yêu của tôi!


… Ông Định giật thót nhìn xuống hai bàn tay mình, chỉ thấy hai nắm tro đen, tàn của những lá cao su bị cháy. Không thấy vợ đâu nữa. Ông loạng choạng dựa lưng vào thân cây. Mặt ông giàn giụa nước mắt. Từ phía bờ sông vọng lại như từ một nơi sâu thẳm nào trong lòng đất tiếng kèn đám ma của ông Mười Kèn. Cứ dứt một nhịp kèn, ông Mười lại cất giọng não nề hát:


Hôm nay ta khóc cho đời


Mai sau không biết ai người… khóc ta?!


Tiếng lòng của một người đau đời khóc lên rền rĩ lan tỏa trong rừng cao su âm u trong nắng chiều…


*


*    *


Lê Phúc được Tổng cục điều về làm giám đốc nông trường Hòa Bình bảy ngày sau vụ cháy rừng làm náo động cả ngành cao su. Là một sĩ quan công binh còn trẻ, anh bị thương khi phá mìn của giặc gài lại trên cây cầu lớn ở quốc lộ Một nhằm chặn bước tiến của quân giải phóng. Mìn gỡ được, cầu giữ được nguyên vẹn, nhưng anh trúng đạn của quân thù, rớt xuống sông. Đồng đội đã kịp cứu anh. Ra viện, Lê Phúc với quân hàm đại úy chuyển qua làm kinh tế. Cũng giống như nhiều người, ra đi từ  đất đỏ cao su, Lê Phúc mong muốn được trở về nơi đã gắn bó gia đình, dòng họ anh từ những năm ba lăm, ba sáu đến nay. Anh được toại nguyện. Cuối năm bảy mươi lăm, Lê Phúc được cử làm phó giám đốc một nông trường thuộc lãnh địa cũ của công ty Síp(1) . Đó là một đồn điền còn nhiều lô cao su nguyên vẹn, nhưng đầy mìn của giặc gài lại. Trong những ngày cuối cùng của quân đội Sài Gòn, nhằm chặn bước tiến của quân giải phóng, giặc không từ một thủ đoạn nào kể cả việc ném bom CBU gây chết người hàng loạt. Hàng ngàn héc ta cao su bị bom thù cày xới. Những lô cao su kề đường giao thông hoặc gần khu quân sự không hủy diệt bằng bom được thì chúng gài mìn. Đủ các loại mìn hiện đại nhất. Nông trường cao su Đất Đỏ do Lê Phúc làm phó giám đốc có tới hơn một ngàn héc ta cao su đầy mìn.


Trong vòng một năm trời, Lê Phúc đã hướng dẫn cho công nhân nông trường ngày đêm gỡ mìn giải phóng cao su. Họ đã vật lộn với hàng chục ngàn trái mìn đủ cỡ, đủ loại, và đã giải phóng được toàn bộ rừng cao su của nông trường. Sáu công nhân hy sinh khi đang gỡ mìn. Lê Phúc lại bị thương hai lần nữa. Rất lạ là anh không bị trọng thương bao giờ. Thân hình to lớn như lực sĩ của anh dường như có phép lạ, không mảnh bom mìn nào dám găm vào sâu trong đó. Thành tích phá mìn, đưa toàn bộ diện tích cao su vào khai thác của Lê Phúc được toàn ngành khâm phục, coi là tấm gương để học tập. Hai năm liền, nông trường Đất Đỏ vượt chỉ tiêu sản lượng mủ cao su mà Tổng cục giao cho. Ở nông trường Đất Đỏ, anh em công nhân rất quý trọng người phó giám đốc mới ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, chẳng hề nghĩ tới chuyện vợ con, tối ngày lo công việc nông trường. Hầu như không lúc nào Lê Phúc nghỉ ngơi. Anh là người của công việc. Phúc rất ít nói. Chỉ nói khi không đừng được. Hay lam hay làm bao nhiêu thì Phúc ít nói bấy nhiêu. Người ta bảo anh chậm đường vợ con là phải, vì anh ít nói quá. Ngôn ngữ của anh là việc làm, là hành động. Mà con gái thì thường ưa những lời lẽ ngọt ngào.


Tổng cục trưởng quyết định cử Lê Phúc về thay Tư Bình. Ông hỏi Phúc có ý kiến gì không, Phúc chỉ cười và nói gọn một câu:


- Không! Tôi chấp hành!


Ngay ngày hôm sau, Phúc bàn giao công việc, rời Đất Đỏ đến Hòa Bình. Người ta không kịp liên hoan đưa tiễn anh. Xe anh chạy được một lát thì bị chặn lại. Có một tốp công nhân biết tin anh đi nhận công tác mới đã ra chặn xe, trách móc anh đủ điều. Họ nói anh vô tình với họ. Rồi nhiều người khóc. Người ta nhớ anh, như nhớ một người thân nhất của gia đình. Phúc chẳng nói chẳng rằng, đi bắt tay từng người một và anh nhìn họ. Mắt anh đỏ lên. Anh lên xe, đóng cửa xe thật mạnh và nổ máy. Nghĩ một lúc, anh thò cổ qua cửa xe, la át cả tiếng máy:


- Ráng làm cho ngon, bà con! Tôi vẫn ở bên bà con đó! Nào! Né sang một bên cho tôi đi. Ở Hòa Bình đang cần tôi. Tôi sẽ làm việc tốt để rước bà con, anh em đến coi! Thôi, tôi đi à!


Đó là câu nói dài nhất mà Phúc nói được từ khi về Đất Đỏ đến hôm nay.


Xe chạy đến phần đất của nông trường Hòa Bình lúc hai giờ chiều. Đang mùa khô nóng kinh khủng. Phúc dừng xe xuống suối múc nước đổ vào két nước xe. Anh cúi đầu xuống cho nước ngập tới gần tai, gội đầu, rửa mặt rồi uống cho đã khát. Nước suối trong và mát như nước đá. Anh nhìn qua bờ đối diện. Một tấm bảng nhỏ: “Lô cao su 13 - Có mìn. Nguy hiểm chết người!”.


Chà! Vậy là phải bắt tay vào việc ngay thôi! Lạ nhỉ, cái ông Bình này! Ba năm rồi mà chưa gỡ hết mìn à?


Phúc nghĩ vậy, rồi anh đi bộ ngược theo dòng suối. Đến ngã ba rẽ vào một dòng suối lớn hơn, Phúc lại thấy một tấm bảng đã hoen rỉ, anh cố đoán ra dòng chữ: “Chốt Lìa đời – đầy mìn. Nguy hiểm chết người!”.


Chà! Chà! Chốt Lìa đời kia à!


Phúc thốt ra câu ấy, tay chống nạnh đứng nhìn lô cao su đều tăm tắp đang trút lá. Thân cây hình trụ, thẳng và to bằng nhau. Phúc biết, rừng này chỉ mười tuổi là cùng. Uổng quá! Ba năm, mỗi năm bỏ mất cả trăm tấn mủ!


Anh lên xe với con tính nhẩm về sự thiệt hại. Xe chạy tới lô cao su bị cháy, lô số mười. Phúc tắt máy nhảy ào xuống. Anh kinh ngạc trước cảnh tượng đau lòng. Cả một lô cao su trẻ cháy trụi. Mùi khét lẹt, cay nồng của rừng cháy còn vương lại khiến Phúc nhảy mũi liền mấy cái. Anh đi dọc theo đường lô, đờ đẫn nhìn. Bất giác anh nhìn thấy một bóng người, trông quen quá! Một ông già đang ngồi bệt xuống đất, chân thu lại, hai tay để trên đầu gối như đang thiền. Phúc đến gần, người già cũng không hề hay biết. Anh lên tiếng:


- Ông… ông ngồi đây làm chi?


- ...


- Ông là ai?


Vẫn không có tiếng trả lời. Phúc ngồi xuống, nhìn trân trân vào mặt ông già. Mãi một lúc lâu, anh mới la lên:


- Trời! Chú Ba! Chú Ba Định phải không?


Ông già từ từ ngước lên nhìn Phúc. Ông nói như đánh rơi từng tiếng:


- Chú là ai? Sao lại biết tôi?


- Cháu là Chín Phúc đây mà! Chú quên rồi sao!


- Phúc à? Phúc nào?


- Trời ơi! Chín Phúc con ông Bảy Hồ ở Đất Đỏ nè!


- À! - Vẻ linh động trở về trên gương mặt ông Định. Ông nắm lấy cánh tay Phúc -  À! Cháu đấy à? Lâu lắm rồi. Làm sao ta nhớ liền được!


Năm Nhâm Thìn, tháng tám, tức tháng chín năm một ngàn chín trăm năm mươi hai, miền Đông Nam Bộ bị thiên tai. Bão lụt lớn đến mức cây cối, nhà cửa đổ sập, ngập chìm cả trong nước. Rừng cao su gãy đổ xác xơ. Nạn đói ập đến. Ngày nào cũng có người chết. Giặc Pháp ác độc nhân dịp này đem bom ném xuống vùng chiến khu D, xuống những đỉnh đồi còn chưa ngập nước. Chúng biết chắc đó là nơi ẩn náu của Việt Minh. Mặt khác, chúng cho quân đi ruồng bố, càn quét trong các làng cao su. Ai mang lương thực thực phẩm đi về hướng chiến khu D là bị bắn chết tại chỗ. Tuy vậy, bất chấp tất cả, công nhân các làng cao su miền Đông Nam Bộ vẫn hướng về căn cứ địa cách mạng. Ông Bảy Hồ dẫn thằng con trai thứ chín liều mạng cắt rừng mà đi tiếp tế. Ông đi nhiều chuyến trót lọt. Nhưng đến lần ấy, trên đường trở về nhà, cùng đi với ông Định và mấy người nữa, họ bị máy bay Pháp phát hiện. Bom đạn mù trời mù đất. Bảy Hồ bị mảnh bom phạt ngang ngực. Trong vòng tay ông Định, Bảy Hồ trăn trối:


- Anh Ba đưa cháu Phúc về giúp tôi. Nhà tôi sanh mười bận, chết tám, còn có hai đứa. Thằng lớn đang ở bộ đội miền. Thằng cháu Phúc ở nhà với tôi. Má nó cũng chết vì thương hàn hai năm rồi. Anh Ba ráng nuôi cháu…


Bảy Hồ chỉ kịp nói đến đó…


Ba Định dắt Chín Phúc về nhà nuôi được hai năm thì có Hiệp định đình chiến. Hoành là anh ruột về đón Phúc đi tập kết. Nhưng, cả hai anh em sau đó được phân công ở lại. Hoành là đại đội trưởng, Phúc liên lạc cho anh. Bốn năm sau, Hoành bị giặc bắt trên đường công tác. Anh cắn chốt lựu đạn diệt sáu tên giặc và anh cũng hy sinh. Phúc trở thành chiến sĩ của công binh miền Đông, năm ấy anh mới mười bảy tuổi.


Trong giây lát, ông Định nhớ lại tất cả. Ông nhớ lại hình ảnh chú bé mới mười lăm tuổi mà cao lớn, gánh nổi bốn thùng mủ chạy băng băng, nói rất ít, nhưng sáng dạ. Những việc về cao su, ông chỉ nói sơ qua là Phúc hiểu ra. Ông Định đứng lên:


- A à! Thì ra là anh! Hôm qua, ông Văn mới cho tôi hay. Tôi đâu có dè, giám đốc mới là anh! Vậy là tốt rồi đó.


- Dạ, chú Ba nói cái gì tốt?


- Anh về đây, tôi thấy là tốt! - Ông Định như sôi nổi hẳn.


- Nhưng con mới về, có gì, chú Ba chỉ giùm con! Con biết Hòa Bình đang rất khó khăn, sản xuất không lên được, đời sống công nhân quá tệ, và bọn phá hoại thì gần như ngang nhiên lộng hành. Đêm nào chúng cũng chặt phá cao su…


- Được mà! Được mà! Yên chí lớn đi! - Chợt vẻ bồng bột lắng xuống, ông nhìn Phúc rồi nhìn rừng cây đang chết lặng.


(còn tiếp)


Nguồn: Đâu là lời phán xét cuối cùng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB. Hội Nhà văn. Tái bản lần thứ hai, 2002.


www.trieuxuan.info








(1) Chiến tranh Thế giới thứ nhất, thực dân Pháp mộ lính ở các nước thuộc địa đưa qua đánh nhau trong trận chiến Pháp – Đức.




(1) Phát âm bốn chữ viết tắt SIPH (Société Indochinoise des Plantations d’ Hévéas), tức Công ty đồn điền cao su Đông Dương do Suzana xây dựng từ năm 1906. Đây là Công ty lớn nhất ở Đông Dương với diện tích 18.000 ha cao su.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
xem thêm »