tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20017813
Tiểu thuyết
18.03.2013
Ngọc Giao
Cầu sương

Phần thứ Ba. I. Trời vừa hẩng sau mấy ngày mưa xuân. Mây bạc sà cừ sáng dịu sau đỉnh núi loang sắc tím, điểm những màu hoa dại. Ở một khe đá sau thung lũng, đàn quạ đen rỉa thịt một xác súc vật kêu vang cả một khu rừng. Gió rừng nồng ấm một mùi hương bát ngát quyện vào nắng dịu sương lam.


Trong bóng chiều chưa ngả, Hạnh đứng vun xới những gốc cây mởn cành tơ nõn nhờ mưa xuân.


Bày chim câu trắng màu bạch tuyết bay tới tấp như hoa mận rụng quanh mình nàng. Rải thóc đỗ vào chiếc nia, nàng ngắm đàn chim quay tròn lòng nia hẹp, đẹp như vòng hoa sen trắng.


Cái Oanh đi lại trên sân rộng phơi những tấm áo màu của nàng lên cây sào nứa bắc từ cành cây này sang cành cây khác. Những tà áo lụa phơ phất động đổ bóng xuống sân tráng nắng vàng.


Ả mèo đen thu tròn mình dưới gốc trúc đào, vờn bóng lá, nghếch đôi mắt xanh ngọc bích dõi một cánh chim từ nẻo núi bên kia thung lũng vút sang, rồi vươn mình nhảy đến dưới sào phơi, vung móng sắc cào xé bóng tà áo nàng.


Thốt nhiên, nàng có cảm tưởng thịt da mình đau buốt vì móng vuốt mèo đen. Bàn tay cứng dại buông rơi chiếc cào làm cỏ, cán tre đập trúng bàn chân nàng. Nàng nghẹn uất kêu không ra tiếng: “Sao lại có thể quái gở đến thế này?”.


Cơn gió mạnh tự ruột rừng già thốc xuống trại, thổi xoáy vào bờ rào cánh sẻ vọng lên một thanh âm kỳ ảo của cái thứ hơi gió miệng thổi qua hàng răng lược ở bàn tay đứa trẻ thơ. Chiếc áo trắng màu trinh bạch tung lên rồi rớt xuống mặt cỏ xanh như một người bị ngã. Con mèo quái ác cong mình phi dữ dội, cuốn tròn tấm áo vào nanh móng như mèo ủ rắn bụi cây vườn.


Người tớ gái đứng trơ trơ nhìn mèo đen quấn áo. Và ả giật mình khi nữ chủ thét một tiếng kinh hoàng.


Nàng ngã ngồi xuống gốc trúc đào, tay ôm bụng mang thai vừa lên cơn nhói tức. Cái Oanh vội chạy đến gỡ tấm áo chịu nhục hình. Rồi đó nó xốc mình nữ chủ, dìu vào chiếc ghế bành mây cũ lúc nào cũng đặt sẵn trên thềm nàng vẫn quen ngồi. Tấm áo thoát khỏi móng mèo, bụng nàng thôi đau tức khắc. Tuy nhiên, trạng thái loạn thần còn dìm đắm tâm trí nàng vào những ý nghĩ mơ hồ.


Một đám mây bồng bềnh như tảng băng sơn ở bên kia chòm núi trôi giạt đến, rải bóng xuống sân trại rộng. Trong mây, một chiếc diều hâu ác độc nhào đầu xà xuống, toan vồ đàn gà non hoảng hốt rúc vào bụng mẹ. Mèo vút lên thềm, nhảy qua chân nàng, biến vào phòng ngủ, thoảng như giống hồ ly vừa tác quái biến vào nghĩa chủng một đêm trăng dị ảo.


Nàng ngả đầu vào lưng ghế, nhìn nắng trời mây sáng mà ngỡ rằng bóng âm phủ kín quanh mình.


Vó ngựa khua dưới đường đồi. Một lát, ngựa thồ già đã đứng sững giữa sân làm kinh động đàn vịt ngỗng. Con chó vàng dự một cuộc săn về, mình đầy đất cát, nhảy rít lên chân nàng lại chạy cỡn quanh sân khoe chiến công với loài gia súc. Bởi vì ông Lâm đang tháo một xâu sơn cầm buộc dưới bờm “tuấn mã”. Tay mang nỏ cứng, lưng đeo dóng trúc đựng tên, ông bạn già vô tư lự cười oang oang bước lên thềm, coi bộ một sơn nhân thời cổ người ta thường trông thấy ở những bức tranh bồi, nét mặt chấm phá trên nền lụa ngả mầu thời gian.


- Chà, cuộc săn bữa nay thú quá. Con Tôm này quả là giống chó săn có biệt tài, không kém gì chó Đức trên bãi chiến giỏi đánh hơi xác chết vùi dưới tuyết.


Ngó xâu chim bết máu, nàng ghê sợ ngoảnh đi:


- Mùa xuân, sao chẳng để loài chim sống mà ca hát. Giết chúng làm gì, hả ông?


Ông Lâm ngửa mặt cả cười:


- Mùa xuân, sao chẳng để bọn tội nhân dưới trại giam địa ngục trần gian kia sống mà ca hát nốt bài ca lịch sử. Giết họ làm gì? Bà khá hỏi Trời, hỏi những bàn tay độc tài đỏ máu ở quanh chúng ta kia. Bao giờ người thôi giết hại người, loài chim sẽ được tự do với mây cao núi cả. Nếu còn trái lại, thì mặt đất tội lỗi này làm gì có mùa xuân. Do thế máu người máu vật còn phải đổ.


Ông ta ngồi bệt xuống thềm, nhồi thuốc vào lòng tẩu.


Nàng sượng sùng, khẽ hỏi:


- Ông bạn già ạ, có điều tôi rất lạ: sao lại có cây trúc đào ở vườn này?


Giọng nàng trở nên yếu đuối, lạc lõng tựa từ cõi mộng, nói để mình nghe:


- Cây trúc đào! Cái cây quái dị ấy đã ám chướng chồng mình, báo hại mình ở khu vườn gớm ghiếc đất thủ đô. Nay, cây đó lại mọc lên trước mặt, lẽo đẽo như ma trêu quỷ oán suốt một kiếp sống âm thầm. Biết đến bao giờ, dây oan nghiệt kia mới cởi cho!


Ông bạn già không lưu ý lời thở than của nàng. Ông ta còn mắc chạy ra đuổi ngựa xuống đồi cho nó khỏi dẫm nát những luống đất mềm vừa gieo hạt.


Người tớ gái đứng sau lưng chủ tự lúc nào, cất tiếng lạnh:


- Thưa bà, bà còn nhớ những ngày tạm trú nhà ông Chánh bến sông, ông nhà ta thường đứng vườn chanh, tần ngần với hoa máu đỏ của cây trúc đào cổ thụ?


Hạnh lắc đầu, ảo não:


- À, một buổi chiều giông bão, chị đã buông câu chuyện ấy nửa vời. Định tâm hỏi lại, thế mà tôi quên mất. Hôm nay, nhân nói về cây quái đản kia, chị mới cho tôi biết thêm về cái lưới oan gia mỗi ngày một thêm trùm lấy số mệnh tôi ở bất cứ nơi nào. Thực thê thảm quá!


Nước mắt chảy từ từ xuống cặp má tái xanh, nàng ngồi lặng lẽ nhìn mây vàng trôi. Cái Oanh cúi đầu lướt qua sân, nhẹ như cánh bướm bay.


Chiều sơn cước tím mênh mang, nhuộm héo da mặt nàng. Vừa lúc đó Cung ở bệnh viện về, qua rặng trúc đào, dừng gót nhìn một chút, bước lên thềm, không lưu ý đến gương mặt ốm đau của nàng.


- Mình đã về.


Như thường lệ, Hạnh quen miệng thốt ra câu nói ấy. Đáp lại người chồng chỉ khẽ gật đầu, rồi im lặng bỏ mũ, cởi áo, bỏ giầy, ra hiên rửa mặt, và im lặng đọc lướt qua vài tờ báo trước khi ăn.


- Coi bộ mình động thai rồi đó. Vào đây tôi nghe lại xem nào.


Nàng ngoan ngoãn như một bệnh nhân, vào giường nằm. Cung đặt ống nghe lên bụng vợ. Nàng nhắm mắt, không dám nhìn mặt chồng, song nàng cũng biết rằng môi chồng đang mím lại, mắt sáng ánh giận hờn.


Anh lạnh lùng bỏ ống nghe, đi lại mấy bước, đăm chiêu. Nàng ngượng ngùng gài khuy áo, ngồi lên. Một lát anh mới nói:


- Thai yếu, lại cần tiêm. Mình cứ nằm mà nghỉ.


Đoạn anh sửa soạn ống tiêm, làm công việc người thầy thuốc. Ánh chiều lách qua nan tấm mành nhỏ treo trong cửa sổ thay kính vỡ, rạch những nét hung bạo lên bộ mặt u trầm khắc khổ của anh. Nàng hé mắt nhìn mặt chồng, nghĩ ngay đến những nét vằn đen dữ tợn trên mặt hổ, nàng khẽ rùng mình.


Tiêm xong, Cung bước ra sân, lừ lừ xuống dưới đồi, và lùi lũi đi về phía Bắc. Một mình trên đường núi hẹp, sỏi vụn và đá sắc kêu rào rạo dưới gót giầy nện mạnh biểu lộ một tâm trạng giông bão, Cung đi mãi. Qua đồi này sang đồi khác, xuống thung lũng lại lên đèo, sau cùng, người chồng cuồng hận, bám sườn núi mà vượt lên tận đỉnh cao chót vót. Sương lam quyện vào chướng khí man mác dâng từ vực thẳm mịt mờ …


- Coi kìa trời ơi, ông Đốc đến xẩy chân rơi xuống núi mất!


Người tớ gái đứng trên sân trại thu áo chủ phơi nắng, chợt kêu thảm thiết khi nhìn lên ngọn hắc sơn thấy một bóng người bồng mái tóc, đứng trơ trơ trong mây khói lướt ngang trời. Cái Oanh nhận ra ngay bóng người đăng sơn đó đích thị chủ nhân mình.


Nghe tiếng kêu, nàng vội khoác áo xỏ guốc ra sân, nhìn theo ngón tay người tớ gái. Trên đỉnh non vời vợi, hình thể Cung thu nhỏ, đen như tảng đá mọc ngàn đời. Trong mây gió lướt nhẹ qua bóng người cô độc, vài con chim lớn vươn rộng cánh vút về xuôi. Nàng tựa vào cái Oanh, thở dội lên một tiếng, chẳng nói năng chi hết.


Ông Lâm vừa tắm ở giếng lên. Cái Oanh lặng lẽ trỏ sang ngọn núi bên kia, ra hiệu bảo ông nhìn. Cặp mắt vượn quắc dọi, nhận ra Cung, liền lẩm bẩm nói mình nghe:


- Thực là quái đản! Trong nhà này mỗi người mỗi vật sống riêng một tâm trạng lạ, kể từ người tớ gái đến con mèo. Trước kia, con bé cháu Trâm đã là một hiện trạng bí ẩn rồi, nay đến vợ chồng nhà này nữa, lại càng lạ lắm. Mình đứng bên ngoài mà cũng thấy mệt lây vì họ.


Rồi đó, chẳng chờ ai lên tiếng, ông ta nhảy ba bước xuống bãi cỏ đồi, đưa ngón tay vào miệng nổi hiệu còi riêng. Ngựa già ở bụi hiện ra. Ông nhảy lên yên, nắm bờm, thúc phi nước kiệu, tiến đến dặng núi cao, trên đó người chồng cuồng hận vẫn còn trơ gan thi với đá.


Ngựa dừng vó dưới chân núi um tùm cỏ gai. Ông bạn già bám đá, leo nhanh như vượn. Đến lưng chừng vách núi, bỗng một cơn gió lạnh vèo qua làm ông choáng váng, mắt lóe sao và rời rụng cả chân tay. Ông soài mình bám chặt vào một túm cây leo, chân đạp chơi vơi mỏm đá.


Cơn gió độc đã khiến người bạn già trung hậu, can trường ấy mất hết tinh thần sức lực, hai bàn tay bám lùm cây yếu đã dần dần nới lỏng. Người ông ta treo như con mối tụt xuống, từ từ tuột xuống. Một tay đã rời hẳn bụi cây bật tung rễ, một tay chới với trời cao. Thân hình ông đu đưa, vơ vất trong gió rít vang ngàn. Mẩu đá dưới chân người khốn nạn lìa khỏi vách núi rêu trơn reo xầm xuống vực. Cơ thể ông Lâm rớt theo đà tảng đá rơi, lăn cùng đá vụn, nhào xuống chân núi sâu thăm thẳm.


Ở sân trại bên kia xa tít, Hạnh và người tớ gái từ ban nãy cùng níu vào nhau nín thở nhìn cảnh trạng thê thảm đó, lúc này thốt rú lên.


Bày chim viễn xứ vừa về thu mình tổ kín, chợt hoảng kinh vì tiếng động, bay ra xáo xác kêu.


Im lặng, rồi đó, lại lắng vào cô tịch của lâm tuyền.


 


II. Thai nghén làm cho Hạnh mệt mỏi, xanh xao, dẫu hàng ngày Cung vẫn đầy đủ phận sự người thầy thuốc, hy vọng nàng sức khỏe bình thường. Nhưng nàng càng nhược suy hơn nữa vì nghĩ ngợi nhiều về cái tai nạn xảy trên sườn núi từ bốn tháng nay.


Nhờ trời, ông Lâm không táng mạng. Và nhờ bác sĩ Cung, ông bạn chí thành được cứu sống trong quân y viện. Ngày nay, ở thời kỳ dưỡng bệnh, ông Lâm mang mấy vết sẹo lớn ở đầu, ở mặt, còng một cánh tay và gãy đùi bên trái.


Ông Lâm đã rời bệnh viện về nhà uống thuốc Mường bổ dưỡng thêm, ngoài thuốc Cung tiêm hàng ngày nữa. Người vợ áo tràm khăn trắng tận tụy hầu chồng như một người hiền phụ. Ông bạn già chưa đi chơi được, nên cứ cách một ngày Hạnh lại rủ chồng đến thăm ông ta ở ngôi nhà bên suối. Hôm nào chồng bận, nàng lại rủ người tớ gái đi cùng. Đến lần đầu, nàng ngạc nhiên vì quang cảnh buồn tênh tẻ ngắt của gia đình ông già hoạt động yêu sống ấy. Gian nhà nhỏ tối tăm, tấm ổ cỏ bồng đặt ngay giữa, cạnh đó là bếp củi. Quanh nhà không có bờ rào, không có bóng mèo tiếng chó. Người vợ sơn thôn sống lặng lẽ như một thân cây khô, vào ra rón rén, vẻ mặt bình thản, âm thầm.


Hạnh có cảm tưởng vợ chồng ông Lâm sống với nhau trong nghĩa bạn, dễ thường lạnh cả bốn mùa chăn gối như vợ chồng mình. Nàng lại nhận thấy rằng ông Lâm ở nhà với vợ thì chẳng hé răng mà hễ ra ngoài thì nói cười ầm ỹ, chiếm cảm tình của hết thảy anh em dưới trại giam và hầu hết người dân các bản. Ông ta thực nhác việc nhà để đi sả thân cày bừa, rào dậu, tổ chức một trang trại lớn, một tay ông Lâm làm tất cả công việc đó với mục đích gây hạnh phúc gia đình cho đôi vợ chồng oan nghiệt mà khiếu nhận xét sâu sắc tế nhị của ông đã thấy rằng nếu ông chẳng dự vào thì đôi bạn kia đến chết mòn vì oán thảm.


Vợ chồng Cung thầm nhận rõ lòng đôn hậu của bạn già càng cảm động, bởi thế càng thương yêu ông Lâm gấp bội sau tai nạn bi đát ấy. Những phút trầm ngâm trước chén trà điếu thuốc sau bữa cơm tẻ ngắt hàng ngày, vợ chồng Cung bị cái tai nạn khủng khiếp ám ảnh, day dứt đến nỗi khiến cả hai cùng hối tiếc vì mình mà người bạn thủy chung cả một đời tàn phế.


Chiều nay Hạnh sắp sửa cùng cái Oanh vào suối thăm ông Lâm thì chợt nghe tiếng vó ngựa quen thuộc gõ đường đồi từ xa vọng lại. Hạnh nhìn ra, bất giác reo như trẻ:


- Ông Lâm đã đến với chúng mình kia, chị Oanh ơi!


Người tớ gái chưa từng thấy chủ vui đến thế, cũng lây vui mà cùng Hạnh rảo chân ra cổng dậu đón ông Lâm. Bạn già chưa gò ngựa đã cười to như mọi bận làm căng dãn mấy vết sẹo rạch nát khuôn mặt còn hốc hác. Ông chậm chạp tháo đôi nạng tre gài bên sườn ngựa, quàng một cẳng qua yên nhảy xuống. Chân ông chưa chạm cỏ, đôi nạng chống liền xuống đất. Cái thân hình nhỏ bé treo giữa nạng đu đưa tựa chiếc chuông đồng, ông cười khanh khách và đi vào.


- Bà Đốc coi, tôi vẫn lành mạnh trên yên ngựa như tất cả anh hùng hiệp sĩ. Bà bạn cứ lo tôi chết, nhưng trời chỉ nỡ đoản thọ tôi khi nào cả dặng hoành sơn kia sụt xuống biến thành bể rộng.


Rồi ông giơ nạng gõ đầu bày ngỗng đang inh ỏi chào mừng:


- Nếu tôi tử nạn rồi thì các tiên sinh này đã đọc điếu văn rất hùng hồn. Các chị bồ câu nõn nuột kia đã rắc hoa rừng như mưa tuyết xuống quan tài. Còn khóc to hơn hết là cặp vợ chồng lợn ỷ; kể lể dài dòng là các chị vịt bến vịt bầu; thút thít hơn tất cả là các nàng gà mái, chú di; và ấp mồ tôi đủ ba đông là Tôm đại tướng. Có phải vậy không, thưa bà chủ trại?


Vẻ mặt trào phúng, dí dỏm kia khiến Hạnh cười ròn rã. Mấy tháng nay cái trại này tẻ ngắt lặng tờ, bữa nay mới lại có sinh khí vì tiếng cười giọng nói của ông Lâm.


- Bà cười nữa đi. Tôi đã khó nhọc lắm mới làm cho bà cười được đấy.


Đầu nạng gõ trên sân nhạt nắng, ông bạn già đi thăm các chuồng gia súc, ra giếng tự múc một gầu nước uống cho mát ruột, ông ta sung sướng như người chủ gia đình lâu ngày xa vắng mới hồi hương. Nàng bước đi bên cạnh đỡ cánh tay ông bạn khi bước qua chỗ gồ ghề, lồi lõm.


- Tôi có cảm tình đặc biệt với mảnh đất này. Rồi sẽ có một ngày mai trời long đất lở hay thái bình trở lại với mọi người, ông bà tất bỏ miền Bắc Mục, khi đó tôi sẽ sống thác một mình ở đây chăng!


Nghe ông Lâm nói, nàng âm thầm tự nhủ:


- Sẽ có một ngày mai...


Cái Oanh đi làm cơm đãi khách. Ngoài bờ giếng, bàn tay người tớ gái sát gạo vào nan rá, rì rào. Ông Lâm và Hạnh đã ngồi ở ghế thềm. Ông già nghiêng nghé cái đầu nhìn lên mái cao bảo nàng:


- Có đàn ong mật đang dựng tổ ở chỗ kèo rui mục nát kia. Khi không có chúa ong vào nhà là một điềm lành. Ngày mai tôi sẽ lấy một đoạn cây đục rỗng đem treo ở chỗ hiên này cho ong chui vào sinh sản. Bà ngồi đây ngắm xem cách sinh hoạt của xã hội ong cũng là một cách giải sầu thú vị ở đường rừng.


Ông ta chú mục nhìn mặt nàng:


- Bà bỏ lỗi, nếu chẳng lầm thì tôi xem chừng đã đến ngày giờ bà nằm cữ. Bà đang thấy chuyển mình đó phải không, sắc mặt bà sao nhợt nhạt?


Từ lúc ra đón ông Lâm, nàng bước mạnh cười nhiều, nên bây giờ thấy bụng thai đau nhói. Nàng bíu chặt tay ghế, nhăn mặt nói:


- Có lẽ đã đến lúc đứa bé ra đời. Mà nhà tôi buổi sớm thăm thai đã biết rằng chiều nay tôi đẻ, vậy mà chẳng thấy về giúp tôi một chút! Trời ơi, tính nết nhà tôi!


Ông bạn già vùng đứng dậy, quên rằng mình chỉ còn có một chân nên lao đao suýt ngã xuống thềm. Ông chống nạng xuống sân, gọi ngựa. Ông níu bờm phốc lên yên, phi về nẻo rừng.


Nàng càng nổi cơn đau dữ. Cái Oanh ôm mình nữ chủ, lo lắng đợi hồi âm. Nàng càng đau hơn nữa, ngồi chẳng được, cố đứng lên men tường đi mấy bước, rồi đứng lại, gục vào tường, tay chống ngang lưng, mặt nhợt, răng nghiến chặt không hề kêu rên một tiếng.


Cái Oanh nhanh nhẹn sắp sẵn bông, băng, lót, nước nóng pha thuốc tím, kéo buộc, bếp cồn. Làm việc đó, nó thành thạo như một cô khán hộ đã lâu năm chuyên nghiệp. Đoạn, Oanh đến góc tường đỡ nàng đang oằn oại suýt soa, nhăn nhó.


Răng nàng càng nghiến lại, mồ hôi toát mãi ra. Bao nhiêu bóng hình ma chướng chập chờn, nhào quay trước mắt; căn gác cửa sổ xanh rèm trắng ở một phố vắng đô thành…, vẻ mặt trâng tráo trai lơ của Hải.., chiếc nhà sàn đêm trăng.., ánh đèn pin trong sương.., tấm mùi soa lụa của Cung.., bóng người chồng trên đỉnh núi…, và bây giờ, cái hoang thai…


Người sản phụ tội nghiệp mệt lả, khụy xuống dần. Cái Oanh vòng cánh tay đỡ mái tóc nàng buông chấm đất. Mắt người tớ gái vụt quắc lên, nhưng cái ánh mắt dữ tợn, hung quái ấy tắt đi ngay, vài ngấn lệ rỏ xuống vầng trán chủ nhân.


Con mèo đen từ phòng ngủ nhảy vút ra, vờn mái tóc nàng rã rợi trên cánh tay nữ bộc. Nàng thốt kêu một tiếng: “Trời ơi, ai cứu tôi không!”.


Ngoài kia, bày ngỗng kêu ầm ĩ, bởi con ngựa gầy đã ghé sát bậc thềm. Cung với ông Lâm, chung lưng ngựa, cùng nhảy xuống.


 


Bé gái đã ra đời, đỏ như quả gấc nằm gọn trong lót trắng. Cái Oanh hớn hở, thỏa lòng mong đợi có em bé để ẵm bồng. Đã xong mọi việc cần cho sản phụ, Cung lặng lẽ như từ lúc nghe tiếng khóc hài nhi, lừ lừ đi ra giếng. Đứng sững trên bờ giếng giờ lâu, tay buông lỏng đầu giây trão buộc gầu nan, anh đăm chiêu nhìn bóng mình in mặt nước. Một con nhái bén xanh ở hốc gạch sườn giếng nhảy tõm xuống nước trong làm gợn mấy vòng sóng nhỏ, xóa nhòa bóng anh đi, để lộ ra đôi mắt người vợ đắm đuối kề bên cặp kính gọng vàng của hắn.


Gió rừng thổi bùng lửa hận đang bốc cháy. Bàn tay nắm chặt, buông thõng xuống, tưởng chừng con quỷ nhập tràng kia sắp lừ lừ bước xuống giếng sâu như đã từng bước xuống cầu thang gác nhà ma. “Ai cứu tôi không!” tiếng kêu người sản phụ lúc này lại rộn tâm não người chồng uất hận và đập vào lương tâm người thày thuốc. - Người chồng thày thuốc đã làm tròn phận sự. Nhưng người chồng uất hận càng thêm đau thẹn với hạt máu ngờ rằng chẳng phải của mình.


Từ sáng sớm làm việc trong bệnh viện, Cung vẫn đinh ninh nhớ giờ phút vợ lâm bồn. Và xem đồng hồ túi, đúng giờ vợ chịu nhục hình, người chồng đau khổ đã cố quên bằng cách đi băng bó, săn sóc các bệnh nhân. “Hạnh phải chịu tử hình. Hạnh phải chịu cho tội lỗi xé hồn xé xác. Ta cam đành nhìn thi thể Hạnh lạnh cứng trong chăn gối”.


Suốt nửa ngày tội ác xung đột với thiên lương, để rồi sau hết, người chồng, người cha, người thày thuốc ấy đã rời bệnh viện, ra về. Trên đường hẹp xuyên rừng tắt núi, Cung có lúc đi như chạy, có lúc chậm lại, đầu gục xuống. Gió cây ngàn khi thì thầm, khi gào thét xoáy mãi vào tâm giác: “Có nên giết Hạnh? Có nên trừ bỏ ngay giọt máu kia? Tôi có thể phạm tội giết vợ giết con giữa giây phút hệ trọng, cấp bách này không hả trời?”


“- Ông mau về, bà ở nhà đang trở dạ. Mau mau, cần kíp lắm!” Người bạn trung thành vừa kịp quay đầu ngựa trên đường hẹp, nhích mình nhường chỗ cho Cung nhảy lên yên… Tới thềm sân trại, Cung xuống ngựa, nhưng ông bạn già đang ốm yếu, mệt không còn sức, ông ta lê nạng, lăn mình xuống ghế, thở mạnh hơn cả lúc cày nương, đào giếng, dãy đất vườn.


Người tớ gái bưng chậu áo xuống lạch sâu giặt giũ. Qua giếng, cái Oanh sững sờ thấy chủ đang đứng nhìn lòng giếng. Ả lắc đầu xót thương và kinh hãi như chiều nọ nhìn cái hình thù ấy đứng trên ngọn núi.


- Thưa ông…


Người tớ gái toan nói song lại ngập ngừng, rồi đi xuống lạch. Cung định thần, kéo gầu nước đày lên khỏi giếng. Con nhái bén xanh nhảy qua tay, biến vào bụi cỏ.


Ông già Lâm nghe trẻ khóc, chống nạng bước vào nhà, ái ngại nhìn Hạnh nằm rời rã một bên giường. Đứa trẻ nằm bên. Ông cúi hôn trán ấu nhi, âu yếm nựng nó.


Ông ngửa râu cười, quay nạng bước ra.


Nàng khẽ mỉm cười nhìn theo cái lưng còm cõi bạn già, lòng se lại. Rồi khẽ vuốt đầu con, nàng băn khoăn nghĩ: “Nó có giống chồng mình không, hay đã mang những nét kiêu căng của Hải? Nếu vậy thì…” Con tắc kè kêu ngoài cửa sổ, nhắc nàng nhớ ngay đến loài chim xanh đỏ mỏ kêu một ngày nọ.


Đứa trẻ cựa quậy trong lót trắng, o oe khóc. Tiếng khóc sơ sinh xé nát lòng. Hạnh trào nước mắt. Nắng đọng lá cây lọt qua khung kính vỡ rọi vào nhảy nhót trên nền chăn khiến cho nàng thèm khát một niềm vui trong trẻo, một cuộc đời tươi sáng của đôi vợ chồng trẻ khi vừa có đứa con chờ đợi nằm trong cánh tay mình.


Mắt nàng lim dim, soi bàn tay xanh mềm vào đốm nắng trên chăn tựa hồ muốn vớt giữ một cái gì. Nước mắt ứa ra, nhỏ từng giọt xuống làn má hóp.


Con mèo đen nhảy lên giường, nhe nanh, giơ vuốt vờn đầu lót bọc hở bàn chân đỏ. Nàng rú lên, đập tay xuống nan giường. Con vật quái ác nhẩy vút qua mình đứa trẻ, leo lên cửa sổ, chui qua khung kính vỡ thoát ra ngoài.


 


III. Bé Hoa Nhi lớn mau như nụ nấm hương mọc bên bờ suối.


Nhưng lòng người mẹ chẳng tươi nở vì con. Nàng hững hờ, không vồ vập, nâng niu đứa trẻ, nàng chỉ thấy thoang thoảng chút tình thương xót mà không thấm thía niềm yêu của người hiền mẫu sống vì con, chết cũng vì con.


Hoa Nhi mẫm mạp, trắng hồng, tập lẫy, tập bò, trước con mắt thờ ơ của mẹ và sau lưng người bố. Duy cái Oanh, ngày ẵm bế Hoa Nhi, đêm thức cả năm canh tận tình trông nom nó. Oanh trở nên một nhũ mẫu nuôi con rất khéo, chỉ thiếu bầu sữa ngọt. Đêm đêm, tiếng cái Oanh ru em buồn thấm thịt thấm xương càng làm cho nàng tủi hổ khi chồng cố ý tránh ngủ nhà.


Nắng đầu hạ oi ả. Hạnh rủ ông Lâm xuống trại giam từ sáng, chửa thấy về. Người tớ gái ẵm Hoa Nhi ra thềm đứng ngóng, ru khe khẽ. Đứa trẻ ra đời ba tháng, bữa nay mới được thấy trời xanh thẳm và núi điệp trùng dựng bên kia thung lũng vàng hoe.


Mắt trẻ đen trong hau háu nhìn chim bay, mây cuốn, nó cho ngón tay bụ bẫm vào miệng mút, hai chân cựa đạp luôn. Hoa Nhi ú ớ reo, chân tay càng vùng vẫy. Sân nắng râm dịu hẳn. Cái Oanh bước xuống thềm, ẵm ngửa em bé trên tay, khẽ đu đưa. Mắt Hoa Nhi càng hau háu, chân tay càng giẫy đạp. Qua cây trúc đào, cái Oanh dừng lại. Mặt người tớ gái bỗng u ám bóng hình xưa, nó áp má lạnh vào vầng trán trẻ thơ, thầm thì như hơi gió:


- Quái lạ, sao cái Hoa Nhi càng lớn càng thêm giống Trúc Đào! Chị Đào của tôi! Bây giờ đã là ma!


Nước mắt ứa ra, cái Oanh ôm ghì Hoa Nhi vào ngực, hôn hít điên cuồng, nói nhỏ, sau khi đôi mắt sắc đảo quanh cả bốn bề sân trại:


- Cháu ơi, cháu tội nghiệp của dì ơi!


Bày ngỗng inh ỏi nhại nhắc câu nói ấy và những tiếng cánh vỗ tung bốc bụi. Giật mình, người tớ gái cúi nhặt hòn gạch vụn ném xua bày ngỗng tò mò mách lẻo kia. Bày ngỗng càng kêu ầm ỹ. Hoa Nhi hau háu mắt, chân đạp mạnh và đưa bàn tay ra bám lấy cành lá trúc đào lả ngọn sà đúng mặt. Cành lá rung rinh như reo múa. Người tớ gái rợn mình, ẵm vội Hoa Nhi chạy lên thềm, nói nậng:


- Gió trời độc lắm, chớ đùa ngoài sân nữa. Chị đặt em bé vào nôi nhá! Nằm trong nôi mà nhìn mây xanh cũng thích lắm rồi.


Nó vào đẩy chiếc nôi ra thềm, đặt cách xa cái tổ ong mật treo ở cột hàng hiên. Rồi để bé Hoa nằm trong nôi, nó đu mấy cái cho chiếc nôi tròng trành, êm ả.


- Bé Hoa Nhi nằm chơi đây nhá! Chị ra le đàn vịt vào sân, kẻo ở dưới lạch chẳng ai trông, có thằng kẻ trộm mò vào bắt hết, bé Hoa không có trứng mà ăn nhỉ!


Nói rồi bước xuống sân, ra lạch.


Nhưng không có thằng kẻ trộm nào mò vào… mà là một con rắn độc thuộc loại hổ mang xù. Con rắn to như một thân tre, vằn mốc tựa da trăn gió, đang ở lỗ hổng cửa buồng Hạnh, trườn khúc nhoài ra, nhoài ra mãi. Cái mình nhày nhụa bóng cuồn cuộn như cơn sóng thủy triều tiến ra thềm. Đầu con rắn ngóc cao trên những khúc giấu kín đuôi, mắt đen, miệng há, bần bật đầu lửa nọc.


Bé Hoa Nhi mắt trong tựa ngọc huyền châu ngước nhìn trời, ngón tay nụ hồng đưa lên miệng ngậm, ú ớ reo, chân mẫm ngó sen quãy đạp.


Rắn độc đã cuộn tròn như một cái nia ở chân nôi. Đầu nọc đưa lên như tia lửa mờ xanh và những khúc đã nới dần để trườn cao nửa mình trên lên vành nôi đang rung động vì đôi chân mẫm ngó sen đạp quẫy lẫn tiếng reo ú ớ của một tâm hồn nguyên thủy mới biết có trời xanh, mà chưa biết rằng còn có đất, dưới đó, nọc rắn sắp sửa phun. Tội ác đã hiện hình trong muôn vàn tội ác! Đầu rắn đã vượt trên vành nôi nghiêng trĩu dưới nửa mình nhầy nhụa, sắp rúc vào chỗ rốn quấn vải băng của bé Hoa. Bé vẫn hau háu mắt nhìn trời xanh, chân đạp, tay múa suýt chạm vào miệng độc sà, thân dưới đang ngoe nguẩy trên mặt đất.


Cái Oanh lùa vịt lên sàn, nó thong thả xua bày ngỗng đang phá rào tre, rúc vào những luống ngô đỗ mơn mởn tốt. Rồi nó mới lững thững bước lên thềm. Người tớ gái thét rung trời một tiếng, ngã ngửa mình lăn xuống đất. Mãi tới khi mở mắt ra, cái Oanh bàng hoàng hoảng hốt chạy lên thềm, vồ lấy chiếc nôi. Em bé Hoa Nhi vẫn ú ớ reo với ngón tay nõn, giữa hai làn môi tươi mát, đôi mắt thơ ngây vẫn nhìn lên cao xanh thăm thẳm. Và hai bàn chân mập mạp vẫn duỗi co, đạp quẫy trong nôi lót tã trắng tựa đuôi cá vàng ve vẩy trong bể nước. Cái Oanh mừng ngây ngất, ôm Hoa Nhi lên ghì vào ngực căng hơi thở nghẹn.


Giữa lúc ấy, con chó Tôm lăn lộn ở cuối thềm, vừa kêu rống, vừa liếm máu ở lông rỉ ròng ròng mặt cỏ. Trên đất sân mềm, những vết xoáy tròn ngang dọc và ngoằn nghèo rẽ ra phía giếng, còn khắc hằn sâu xuống. Đó là bãi chiến trường của Tôm và ác xà ban nãy. Chó vàng đã cứu Hoa Nhi, kịp xồ lên ngoạm ngang cổ rắn quật xuống thềm. Rắn cuộn mình thắt chặt Tôm vào giữa. Tôm hăng sức cầm cự đến cùng, ba lần bị thít vòng vây, ba lần cắn nát thịt kẻ thù. Sau hết, rắn đã buông Tôm, nhoài nhanh ra đường giếng, thoát vào cỏ rậm. Bây giờ Tôm bị nọc ngấm vào gan ruột, giãy trên sàn, hồng hộc thở và liếm máu.


Ông Lâm và Hạnh đã về. Nghĩa khuyển nghe tiếng nạng, ngóc đầu lên, sủa mấy tiếng như chó sói hú đồi trăng, thảm thiết. Ông Lâm kinh ngạc nhìn vết máu và đôi mắt đỏ ngầu của Tôm, rồi quay lại nhìn người tớ gái lúc ấy hãy còn ôm chặt bé Hoa, mặt ả xanh xao, bối rối. Nó kể lại câu chuyện rắn vào nôi. Hạnh kêu thất thanh chạy lên thềm ẵm Hoa Nhi, nước mắt tủi mừng lã chã. Người mẹ lần đầu thấy lòng đau ruột thắt vì con. Nàng khóc nức nở, khóc như nửa kiếp đời bây giờ mới thực sự được khóc.


Tôm quằn quại một lúc lâu, ngước nhìn ông Lâm thảm thiết kêu mấy tiếng cuối cùng rồi gục xuống, mắt còn trừng trừng mở nhìn vũng máu của nó.


Ông Lâm lau mồ hôi trán, khẽ thở dài giữa tiếng khóc và tiếng reo hồn nhiên trong trẻo của Hoa Nhi.


 


IV. Trời sao vằng vặc. Mây trắng nhẹ nhàng trôi đây đó như những giải khăn tiên nữ còn vương trên bãi cát vàng sông Ngân.


Gà rừng gáy điểm canh mà Cung vẫn chếnh choáng say men rượu lao đao tiến về đường trại. Anh không nhìn sao trên đầu, cũng không cần biết vực thẳm dưới gót giầy liều lĩnh. Đã lâu rồi, kể từ ngày cưới Hạnh, tối nay anh mới uống say đến mậc chẳng còn biết có trời đất nữa. Anh say ở nhà một người bạn cũ tình cờ gặp nhau tại miền này mới ít ngày nay. Người bạn đó ở cùng nhà với một hào trưởng người Mường trong sơn thôn phía tây nam. Người bạn đến tận bệnh viện đón anh qua chơi dùng chén rượu sâm với mấy món ăn mà tửu đồ ấy đã tự tay làm lấy: đó là món cày hương và rắn.


“Bữa nay cố nhân nếm món tam xà đại hội này, ắt phải nhớ đến tửu tân phố Hàng Buồm Hà Nội và, tại miền này, nếu bác còn thuyên chuyển đi đâu, sẽ phải nhớ đời đến tiểu đệ. Lại món cày hương này nữa, thật là một món chân truyền từ thuở xưa, ăn vào sẽ có sức đi ngàn dậm, không mỏi mệt”.


Một ông bạn Thổ của chủ tiệc, giỏi tiếng đường kinh, vỗ đùi cười lớn mà rằng:


- Đi ngàn dậm không mỏi mệt, thế thì đến dẻo chân đi thẳng xuống vực.


Một ông bạn khẽ gật gù:


- Thưa ông Đốc, lũ tửu quỷ chúng tôi độ này sinh ra lẩm cẩm, chỉ muốn trốn vào rừng sâu này mà uống rượu.


Cả bọn cùng cười ngất trong men nồng. Duy Cung vẫn điềm đạm uống cầm chừng. Rượu lên tăm cả nước, luôn luôn được tửu chủ nâng hũ lớn đổ chuyền vào chiếc bát mà Cung ngờ là cái sọ loài hầu lớn, đặt chính giữa lòng mâm. Cạn chén này người ta múc rượu đổ vào đày chén khác để rồi những câu chuyện ba hoa đó thưa tắt dần dần ở những cây thịt ướp chín men nồng.


Chim rừng thao thức kêu quanh lớp nhà chòi im ngủ trong tiếng thác đổ hồi đêm quạnh. Ánh sao không lọt được xuống nền lá lim cổ thụ giao kết vào nhau thành một bức trần cao bát ngát. Mấy đĩa đèn dầu trẩu trơ xác muỗi rừng dưới bấc lụn. Giữa mâm chỉ còn trơ mấy bầu rượu và bừa bãi xương cày, xương rắn.


Cung vẫn ngồi trơ trơ bên những cây thịt ngấm men đổ xuống. Chợt định thần dụi mắt, Cung đứng dậy, xỏ giầy, lần túi tìm chiếc đèn pin, mặc gia chủ ngủ ghếch đầu lên đùi bạn, lặng lẽ rọi đèn lần mò qua hai con suối, ra khỏi cửa rừng, và đã thấy trước mắt con đường quen thuộc hiện mờ mờ dưới ánh trời sao.


Tiếng giầy khách dạ hành say nghiêng ngả nhiều lần làm kinh động côn trùng trong cỏ. Vấp đá, thụt chân, anh chúi đầu suýt ngã xuống vực. Nhưng một năm nay công tác nhiều miền sơn cước, anh đã có thể đạp xe đạp một mình qua đồi, qua thung lũng tiến vào các thôn xóm mịt mù, đêm nay đi vài dặm dưới ánh sao thì có hề gì.


Một giống chim gì đó thốt nhiên rỏ vào rừng khuya quạnh một tiếng kêu the thé như loài ác điểu. Tiếng chim lắng vào hoang tịch ngàn trùng.


Con rắn độc đang cuộn mình trong bụi kín uống lá sương trên đoạn đường dốc xuống trại, nghe động đã nhoài ra, vắt ngang mình qua hai bờ cỏ ướt.


Cung từ xa bước tới, đầu chĩu nặng, chân tay xương thịt mỏi rã rời. Xuống dốc đồi, anh vẫn chửa thấy nhà, tưởng còn bay trên mây gió cõi tiên nào ngoài trái đất. Con rắn vẫn không cựa khúc mình như cành cây to vừa đổ xuống. Anh dẫm vào màu da trơn nhầy nhẫy, chưa kịp co lên thì năm bảy vòng giây trão khổng lồ đã thít chặt bắp đùi người bất hạnh. Anh ngã xuống, không kêu, không cựa, tưởng vấp phải cây khô, chẳng biết mình đã nằm ôm lấy chính con rắn độc ban chiều chưa kịp hại Hoa Nhi trên trại. Cung nằm trên đất, máu đen ở bụng anh rỉ mãi ra. Cứ như vậy cho tới khi trời hửng sáng, cái Oanh ra giếng, nhận thấy xác chủ nhân gục bên bờ cỏ dưới đường đồi mới quăng vất chậu áo lót của Hoa Nhi, chạy xuống nâng đầu anh kêu thảm thiết.


Hạnh choàng thức giấc, chạy theo lối gió đưa tiếng cái Oanh lên. Xuống đến nơi, nàng rụng rời quỵ xuống, ôm chặt mình chồng mà khóc. Da mặt người chồng bất hạnh đã ngả màu chì, vành môi tím sùi bọt rớt, tuy vậy anh còn cố hé mắt nhìn mặt vợ.


- Mình ơi, có còn cách nào cứu được mình không? Ai hại mình, mình bảo mau cho em biết.


Cung cố nói, nhưng lưỡi đã cứng rồi, chỉ còn đưa con mắt lờ đờ nhìn vết rắn bò mặt đất.


- Mình ơi, em không ngờ mình chết thảm thế này. Em lạy van mình. Em có lỗi với mình. Em khổ sở lắm, mình hãy tha thứ cho em…


Bàn tay Cung cố giơ lên nhưng chỉ khẽ động, lại rơi xuống đất. Nàng kêu thảng thốt:


- Trời ơi, có ai cứu chồng tôi không? Có ai ở đây không?


Nhưng cả khu rừng như choàng xô gai trắng, chỉ có chim nhại tiếng và rừng sâu trả lại âm thanh. Hạnh gục xuống xác chồng vừa lạnh cứng trên cánh tay gày run rẩy.


- Mình ơi, mình bỏ em ở nơi rừng thiêng nước độc này. Mình không tha thứ cho em ư?...


Người tớ gái ôm lấy chân chủ nhân nghẹn nấc. Vừa lúc đó, ngoài rừng có mấy bóng tội nhân hò “Rô ta”, đẩy gỗ xuống ngàn. Cái Oanh chạy lên vừa khóc, vừa gọi. Họ vội quăng gỗ, chạy ùa cả xuống rồi cùng im lặng bên thi hài người thày thuốc ân nhân, người thày thuốc hiền từ đã bao nhiêu ngày tháng săn sóc, yêu thương họ với tình bạn hữu.


Hạnh lau nước mắt, nhờ các bạn tù khiêng thi thể Cung lên trại. Bày gia súc trong sân kêu xao xác. Đến đầu thềm, giọt máu đọng dưới lưng Cung rỏ xuống khoảng đất còn in vết mình rắn độc và móng chân Tôm tử chiến chiều hôm trước.


Sương mai tan loãng, mặt trời lên quá ngọn sào ông Lâm mới đến chơi theo thường lệ, huýt sáo vang từ dưới giếng.


Ghé ngựa cạnh thềm cao, vừa đu mình giữa đôi nạng gỗ, lọc cọc bước ngoài hiên ông đã ngửi thấy mùi hương, nhìn vào thấy xác bạn nằm duỗi thẳng, dưới chân giường Hạnh đang ôm mặt khóc.


Ông Lâm đứng lịm giây lâu mới khẽ chống nạng tiến vào, lật tấm lụa đậy mặt Cung, khóc rống lên. Tiếng khóc của người bạn thân yêu tàn tật gợi thêm niềm đau sót. Nàng khóc tưởng chừng tuôn máu mắt. Cái Oanh ẵm Hoa Nhi lánh xuống bếp cuối vườn cũng nấc nở thêm, càng làm ướt mái tóc thơ đứa trẻ.


 


Cây thánh giá đẽo bằng gỗ trắng đã trồng trước mộ Cung, bên mộ Tuấn.


Một buổi chiều nàng với người tớ gái ẵm Hoa Nhi đi thăm mộ. Nàng đặt bó hoa hái vườn nhà, thắp hương cắm lên hai mộ rồi sụp lạy. Chiều hiu hắt gió, chim chóc về rừng, nàng nhìn con côi, thương mình phận góa càng khóc than thê thảm mãi.


Cái Oanh gạt lệ nâng chủ dậy:


- Sương chiều xuống độc, xin bà trở về cho, kẻo ở đây nặng nề âm khí… Bà nên nghĩ đến em Hoa…


Nàng nghe lời khuyên giải, vừa đứng lên đã thấy ông Lâm dắt ngựa đứng sau lưng tự lúc nào. Trước mặt bạn hiền, nước mắt người quả phụ lại trào ra, thổn thức:


- Tôi không ngờ nhà tôi chết nhanh như vậy, thực là một cơn ác mộng.


- Đó là định mệnh. Con rắn ấy chưa kịp cắn cháu Hoa Nhi thì bị con Tôm đánh bị thương. Người ta thường nói, loài rắn thù dai lắm. Buổi chiều bị đau nó bò ra nằm lẩn trong bụi cỏ, có lẽ để tối lần vào trả hận. Giữa đêm ông nhà trở về qua bụi cỏ, bất ngờ bị nó ám hại liền. Nọc rắn vào mạch máu, chẳng ai qua được hăm bốn tiếng.


Ông ngừng lời, lau mồ hôi trán hói như thói quen mỗi lần ông cảm xúc.


Nàng bảo cái Oanh ẵm Hoa Nhi về trại trước. Oanh bế em đi khỏi, nàng rủ bạn già lên ngọn núi cao.


Đến đỉnh núi, nàng ngồi xuống tảng đá nhẵn xanh, mệt thở. Ông Lâm đứng không nhúc nhích: Tóc lơ thơ, râu phơ phất, trong sương chiều nhuộm nắng đào bàng bạc ông có vẻ một đạo sĩ ở cái thời học đạo tầm tiên. Lúc lâu, ông hướng về phía đông nam chậm rãi:


- Mấy ngày nay, tôi nghĩ về cảnh ngộ bà nhiều lắm. Nếu tôi nhớ không sai thì một lần bà cho tôi được biết ông nhà đã khuyên bà nên rời bỏ đất này, vì đây không phải nơi nghỉ mát cho đàn bà con trẻ, đây là tử địa, nơi trút hồn vùi xác của những con người chiến bại, hay vô phúc. Nay chính là lúc bà nên nhớ đến lời ông ngỏ lúc sinh thời. Mẹ góa con côi gửi mãi thân vào nước độc, rồi đây sẽ ra sao. Ông bạn tôi đã đi rồi, bà nên trở về đô thị. Sau đó, tôi cũng vượt biên giới sang bên kia quan ải, làm một cuộc giang hồ nữa, thịt xương già sẽ gởi khắp phương trời. Lời tâm sự chân thành mà cũng là lời vĩnh biệt, bà bạn xấu số của tôi nên nghĩ kỹ, để rồi sửa soạn lên đường. Đà đận lưu luyến trên đất chết, không phải là thái độ của người biết tính toán trước những biến cố ở ngày mai.


- Cách đây mấy tháng, nhà tôi thường nhắc nhủ tôi về việc chia ly ấy. Nhưng không dám cách biệt chồng, tôi nằn nì xin ở lại. Thế mà tôi chửa kịp đi, nhà tôi đã vội đi rồi. Thực tình, tôi cũng vừa nghĩ đến sự trở về. Chỉ còn nỗi thương nấm mồ vô chủ, nên chưa nỡ dứt tình. Nhưng suy nghĩ kỹ, dù sao tôi cũng phải cho cháu về xuôi. Rồi đây tứ cố vô thân, ông bạn sẽ tha hương đất khách, tôi biết trông cậy vào ai ở cõi thế gian này.


Nàng tủi lòng gục vào bàn tay.


Sương càng đổ mịt mùng, rừng cây bóng núi bồng bềnh như hải đảo. Nàng ngồi gục xuống, đôi vai gày rung động. Rồi đó, hai người về trại. Đưa nàng qua chỗ còn vết máu, đến bên giếng đầu đường dốc, ông Lâm quay ngựa trở về rừng. Gà gáy sớm hôm sau, ông Lâm đèo hai hũ rượu mới đào bên suối, đem đến trại, gượng cười như mọi bận, nhưng miệng cười méo xệch đi, và cặp mắt tinh nghịch hấp him kia đã hoe hoe ướt.


- Tôi lại nghĩ thêm suốt đêm qua nữa. Và tôi nhất định đến sớm để bàn với bà: Trưa nay chúng ta sẽ đãi anh em dưới trại giam một tiệc rượu say túy lúy. Lợn, gà, vịt, ngỗng, xin cho mổ làm đại tiệc. Còn thừa bao nhiêu, sẽ gửi xuống trại làm quà cho anh em nào không được phép ra ngoài hay đau ốm. Rồi sáng ngày mai, bà sẽ có đủ giấy tờ cần thiết dọc đường để bà hạ sơn. Mai ít nhất cũng có hơn ba mươi bạn tiễn bà về xuôi. Ngay tự trưa nay, bà cho phép tôi khai hội nhá!


Ông Lâm lại gượng cười to, song mắt ông long lanh ướt. Nàng bùi ngùi, nắm bàn tay gân guốc bạn hiền:


- Tôi cảm động và sung sướng khi được cùng anh em nhắp ly bôi. Tôi sẽ cầu chúc anh em ở lại được bình yên, và mỗi lần qua mộ nhà tôi, anh em ném cho hòn đất nhỏ khỏi tủi một linh hồn vơ vất…


Tiếng nấc nghẹn lời tâm huyết, Hạnh gục xuống mặt bàn, đúng chỗ chồng nàng vẫn quen đặt bàn tay những buổi tối ngồi đọc báo.


Ông Lâm ra hiên thổi bốn tiếng còi. Tức thì một bọn năm sáu anh em chính trị phạm đứng sẵn ở sau nhà bước vào sân, đồng thanh chào nàng.


Những thanh niên ấy, ai nấy đều mắt sáng, cằm vuông, khí phách ngang tàng đã khiến người quả phụ yên lòng và cảm mến. Họ bước lên thềm. Hạnh ra tiếp đón. Ông Lâm giới thiệu từng người. Nàng càng cảm kích, vì một vài tên và khuôn mặt nữa, Hạnh đã có lần thấy đăng lên báo chí với những thành tích tranh đấu cho lý tưởng, tự do.


Ông Lâm bảo:


- Những bạn đây đại diện một số lớn anh em dưới trại đến sớm mài gươm tráng sĩ không giết ai mà chỉ làm nhiệm vụ người đồ tể. Vậy xin bà hạ lệnh cho các hảo hán anh hùng ra đánh giặc, để rồi đánh tiết canh và đánh chén. Tôi đã điều đình cùng giám thị trại giam. Đúng ngọ, anh em đi ngả gỗ về sẽ lên thẳng đây dự tiệc tiễn hành.


Nàng cũng gượng vui tươi đáp:


- Các gia súc xin chư vị cứ sát sinh, duy có đàn bồ câu kia thì xin thả lên trời cho chúng tản mát đi tám hướng. Biết đâu chúng chẳng theo tôi làm mây che nắng, làm bạn dẫn đường, như người ngày xưa ấy…


Bạn già cười và ho khù khụ.


Đúng ngọ, tiếng cồng vẳng xa rừng vắng, ông Lâm là người bảo đảm cho ba mươi nhân mạng với lão già giám thị, cỡi ngựa đi đầu, dẫn quân xuống núi. Ông vung nạng lên trời, vỗ đầu ngựa hát. Ba mươi người xếp hàng đôi, cũng đồng ca. Qua mộ Cung, mộ Tuấn trên sườn đồi, họ cúi đầu im lặng bước. Ông Lâm làm dấu Chúa, tuy ông chưa từng đọc kinh Chúa hay kinh Phật, nhưng biết rằng Cung theo Gia tô giáo. Cũng như ông, Cung không hề đi dự lễ, bảo rằng con người ai cũng sẵn có một giáo đường, hay một cây bồ đề ở thiện tâm, hà tất phải tụng niệm. Qua khỏi hai ngôi mộ, ông Lâm lại múa cao nạng hát, làm như người lính múa kèn trước khi tấu nhạc quân hành. Nhưng tiếng hát của ông dẫm lệ, nghẹn tắt giữa khúc đồng ca. Đoàn người đã ồ ạt lên sơn trại, nữ trại chủ áo chế khăn tang, bước ra sân, nghiêng mình kính cẩn nghe ông bạn già giới thiệu các anh em.


Chiếu trải xuống hàng hiên, rượu bày la liệt như một buổi xuất chinh, ba quân xuống núi. Ba mươi tân khách vào lễ bài vị Cung, có người ngảnh đầu giấu lệ, có người mím môi nén tiếng thở dài. Hạnh theo cổ tục sụp xuống mà đáp lễ. Hoa Nhi nằm trên tay nhũ mẫu, vẫn dương mắt ngọc thao láo nhìn ngọn nến sáng cạnh bình trầm, ngón tay mẫm đưa lên miệng và đôi chân đạp quẫy.


“Đưa người ta không đưa qua sông


Sao có tiếng sóng ở trong lòng


Bóng chiều không thắm không vàng vọt


Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”.


Men lên sầu lắng hồ trường, đã có người lên giọng ngâm đoạn thơ “Tống biệt hành” của một thi sĩ đương thời.


Có người xoa đầu trọc, vỗ đùi rồi gõ đũa nhịp lời thơ:


“Có ai bạo chúa vung trường kiếm?


Chém vạn đầu rơi ngập gót hài.


Có ai dũng tướng xô trời đất?


Nuốt chửng Ngân hà thỏa chí trai”.


Và cũng có người từ đầu tiệc chẳng nói một câu, chỉ rót chén này cạn liền chén khác, xoay xoay cái chai hồ cạn nhìn ra bóng núi mà sang sảng giọng ngâm trọn bài thơ buổi Đông du:


“Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường


Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha hương


Trời Nam nghìn dậm thẳm,


Non nước một màu sương.


Học không thành danh chẳng lập.


Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc,


Trăm năm thân thế bóng tà dương!


Vỗ gươm mà hát nghiêng bàn mà hỏi:


“Trời đất mang mang ai người tri kỷ


Lại đây cùng ta cạn một hồ trường


Hồ trường, hồ trường! Ta biết rót về đâu?


Rót về Đông phương, nước biển đông chảy xiết sinh cuồng loạn


Rót về Tây phương, mưa Tây Sơn từng trận chứa chan


Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá dương.


Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.


Nào ai tỉnh nào ai say?


Trí ta ta biết, lòng ta hay.


Nam nhi, sự nghiệp ở hồ thỉ.


Hà tất cùng sầu với cỏ cây!”.


Lời hay, ý hậu, phổ vào cái giọng chuyển theo cảm xúc có khi sảng khoái, có lúc bùi ngùi, kẻ thư sinh bất đắc chí trên chiếu rượu và giữa trận đời kia đã làm cho nữ trại chủ ở phòng bên phải ngậm ngùi, chua xót. Và cái con người râu tóc đỏ, mặt vàng nước độc, mình gày bé mà có tiếng khỏe, lúc này cảm khái, gật gù vuốt mấy sợi tóc cò hương, rên rỉ láy lại rằng:


“Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc,


Trăm năm thân thế bóng tà dương!”


Rồi anh cạn chén, thở phì như trăn mốc:


- Chao ôi, buồn lắm, buồn lắm! Tôi không thể nào chịu nổi.


Và anh cao chén thét:


- Uống nữa đi, các anh em! Thơ của vị anh hùng nào mà đôn hậu thế? Chẳng hay còn sống hay đã chết, để ta vượt ngục đi tìm kiếm, nói chuyện và uống rượu chơi, rồi lại về ngục với các anh.


Đáp lại, một tiếng cười ngạo nghễ bốc qua năm chiếu rượu:


- Ấy thế mà tác giả áng danh văn ấy đã đổi hồ trường lấy túi vàng đầy, làm cái thứ Hồ Tôn Hiến đời Gia Tĩnh để đi chiêu du và bán bao nhiêu đầu bạc đầu xanh!


Kẻ đạo sĩ, tóc vàng chỉ còn quát lên một tiếng:


- Chó đến thế kia à?


Đoạn, anh ta khoanh tay ôm lấy gối, gục đầu, không nói gì và cũng thôi luôn cả rượu.


Tiệc đã tàn.


Ba mươi tân khách trụi đầu, đeo áo số, cùng ông Lâm đứng dậy. Họ cử đại biểu cảm tạ và chúc Hạnh cùng Hoa Nhi và cái Oanh lên đường gặp an lành. Ngậm ngùi, nàng ân cần chúc lại anh em. Bên rừng vọng tiếng còi giám thị. Đoàn người áo số đều ngậm miệng, vái chào vĩnh biệt, rồi lặng lẽ xếp hàng đôi xuống đồi. Nàng ẵm Hoa Nhi, nhìn theo họ cho tới khi bóng người cuối cùng đã khuất hẳn. Sân trại lặng tờ như bãi tha ma. Hoa vườn khi không ủ rũ, tàn rơi xuống cỏ. Cây trúc đào tự nhiên héo ngọn lả cành. Không còn vang tiếng ngỗng, vịt, gà gáy rộn. Trên ngọn cây chỉ còn mấy con chim câu chưa nỡ rời đất cũ, ngơ ngác rỉa lông cánh.


 


Sớm hôm sau, sương còn mờ mịt, ông Lâm đã rong cỗ xe ngựa nhỏ xọc xạch lên sân trại. Ông nói oang oang:


- Bà đã xong hành trang rồi chứ! Xin mang cả ra đây, chất lên xe.


Hạnh đang mặc thêm áo và đi giầy, đội mũ cho Hoa Nhi, nghe tiếng bạn già vội ẵm con ra thềm, kinh ngạc nói:


- Ông có phép tiên hay sao mà lại có xe độc mã giữa nơi đèo heo hút gió này?


Ông bạn già cười lớn. Hạnh hiểu rằng ông đang cố trấn tĩnh cho khỏi rơi nước mắt biệt ly.


Ông ngồi trên xe làm xà ích. Con ngựa già mọi khi vẫn cỡi bây giờ biến thành một thứ ngựa thồ, đóng hàm thiếc, buộc dây cương, ép giữa đôi càng nhỏ như cỗ xe xinh xắn đủ sức chở ba người, và có thể lọt các đường núi hẹp. Cái Oanh chất mấy bọc hành lý lên xe. Hạnh đã ẵm Hoa Nhi bước xuống sân, còn lẩm nhẩm khấn vong hồn chồng độ cho mẹ con mình gặp điều lành ở dọc đường ngàn dặm. Nàng lên xe ngựa, lệ chan hòa rơi đẫm má, ôm Hoa Nhi ủ vào lòng. Ông Lâm vòng xe ngựa quanh sân, môi chíp chíp, vút nhẹ đầu roi vào mông ngựa. Bánh xe nghiến đá vụn trên sân sào sạo, sát vào cây trúc đào ở góc vườn. Môi cái Oanh mím chặt nhợt tái. Nó giơ tay kịp bứt một mẩu cành non, bỏ vội vào túi áo. Con mèo đen chạy vút ra phía sau nhà. Xe xuống khỏi trại, quặt sang con đường khác, không qua đồi mộ ở xa kia. Hạnh với trông về mộ phần chồng, kéo vạt áo tang đen che mặt khóc. Ông bạn già lặng lẽ ngồi rong cương ngựa, chiếc xe xuống dốc, vượt đèo gập ghềnh, nghiêng ngả. Hạnh ẵm chặt Hoa Nhi, sát vào mình người tớ gái, bị lay động theo vó ngựa và nhịp bánh xe cuốn bụi đường rừng. Đến quãng đường rộng rãi, ông Lâm lỏng dây cương, châm tẩu thuốc, thả khói quyện vào sương sớm, giọng đều đều không vui cũng chẳng buồn:


- Bà Hạnh ạ, nghĩ thật lạ đời. Tôi nhớ mùa này năm ngoái cái thân già đã lẽo đẽo theo tiễn cháu Trâm, ồ, cái con bé cháu dâu bạc mệnh. Rồi năm nay, thế nào mà thân già cô độc lại làm cái việc đưa khách nữa.


Ông bạn già còn nói nhiều, nhưng rồi tiếng ông cứ nhỏ dần, tắt vào vó ngựa khua đều…


- Tối nay ngủ đỗ, ngày mai, vào khoảng giờ dậu, đến bến sông Tương. Bà sẽ xuống thuyền xuôi đường thủy. Xuôi mãi tới ngành sông ngược nẻo Châu Giang, bà sẽ rời thuyền lên bến Kim Mã thượng, rồi từ đó…


Ông Lâm chặc lưỡi, quất mạnh đầu roi vào trong nắng.


Nàng buồn rầu thầm nhủ: “Rồi thì thân gái dậm trường, còn biết bao nhiêu đường xa, quán lạ, còn bao nhiêu bến bờ mưa nắng nữa? Cung ơi, vong hồn anh có biết mẹ con em phiêu giạt nẻo trời nào không?”. Hoa Nhi từ nãy nằm trên tay mẹ lăng lắng nghe tiếng động vó câu. Rồi tiếng gió ru êm, cặp mắt thơ khép lại. Hoa Nhi đôi lúc giật mình. Nàng ấp chặt con, kéo tà áo đen che khuôn mặt đứa bé.


Xe ngựa xuyên vào đường rừng hẹp. Người bạn già phải khó nhọc và giỏi cương lắm mới lái xe tránh vấp những rễ cây mọc chắn đường cản lối ngoằn ngoèo như vệt rắn bò. Chợt đâu đây có tiếng vượn hú buồn tênh. Hạnh kinh sợ tưởng chừng ma quỷ khóc.


Ông Lâm cười bảo:


- Vượn hú ru con gọi chồng về đấy. Loài vượn mỗi lần đẻ con xong, cứ nằm suốt ngày đêm ở trên cành cho con bú mớm, không dám rời con nửa bước sợ ác thú ăn thịt mất. Còn anh chồng thì lang thang đi các rừng xa kiếm thức ăn về cho vợ ăn nhiều lấy sữa cho con bú. Chắc hẳn anh chồng chưa về kịp hay rơi vào móng vuốt kẻ thù rồi, nên chị ả nhớ mong gào khóc đó!


Câu chuyện vui ông bạn già vừa kể đã vô tình khiến nàng tủi sầu thêm về số kiếp mình mai đây trở về thành thị nào chắc gì hơn con vượn lạc loài. Mấy con khỉ nhỏ chuyền cành ném sim chín nẫu xuống đúng cái trán sọ dừa trụi tóc, ông Lâm vuốt đầu lau trán, la inh ỏi. Bày khỉ cũng rít cười theo. Xe vượt cửa rừng. Ông Lâm thở hơi dài, nhẹ nhõm. Trên những sườn núi gan gà nhuộm nắng, đã thấy thưa thớt vài túp nhà cỏ mới. Một hai bóng áo tràm theo trâu gày đeo mõ, ngẩn ngơ nhìn bụi cuốn sau xe ngựa đang rong ruổi về cuối sơn thôn xa tắp. Mệt mỏi, ông Lâm huýt sáo và khẽ hát, biết rằng ở đằng sau lưng Hạnh đang thức. Khói ở nhà tranh bám chặt vào vách núi bên rừng quạnh, vơ vất vương vào nắng tháng ba, nhè nhẹ theo đợt gió. Bâng khuâng, nàng nhìn vào nắng, mơ hồ thấy hiện ra cây thánh giá trước mồ chồng ở bên đường… Mắt lệ từ từ khép lại, nàng bỗng thốt ra câu gì không rõ.


Bạn già lại vút đầu roi vào không khí, không quay lại, hỏi to:


- Bà nói gì đấy ạ?


Nàng mỉm cười héo hắt:


- Tôi vừa trông thấy con bướm vàng bay trong nắng, lượn ngang qua mặt. Mình đưa tay ra bắt. Nhưng bướm bay đi mất, chỉ còn lưu chút phấn.


Ông Lâm chợt gò cương ngựa. Một ngôi quán nhỏ, dân quanh vùng vẫn quen gọi quán Cháo Lú hiện dưới dặng thông già reo vi vu. Ông với đôi nạng, đu mình nhảy xuống:


- Hãy xuống đây nghỉ đã, thử húp bát cháo lú, xem có quên đôi chút sự đời…




KẾT TỪ
Trở về câu chuyện trúc đào


 


Hạnh đã trở về Hà Nội, với nỗi buồn thường day dứt. Vẫn ngôi nhà ma bên giáo đường Cửa Bắc. Cảnh vẫn như xưa, tường mốc sân rêu, vườn hoang cỏ mọc tiêu điều.


Một buổi chiều mùa hạ. Trời mây nặng trĩu, không khí oi nồng, sắp nổi cơn giông bão. Thấp thoáng bàn tay cái Oanh mở rộng những cánh cửa sổ từ trên gác xuống dưới nhà. Có tiếng Hoa Nhi, khi reo khi khóc ở gian phòng nào đó.


HẠNH. (mặc toàn màu đen, giải khăn tang buông thõng đường lưng gày thon. Người quả phụ lại như ngày xưa, đứng lặng lẽ nhìn cảnh mờ xa ở Tây hồ. Đôi cánh bướm ấy díu vào nhau. Người quả phụ khẽ buông rèm lụa xuống, thì thầm mình nói với mình):


Một giấc chiêm bao. Mình có ngờ đâu còn sống để trở lại tòa nhà lạnh lẽo này, đau lòng vì bao nhiêu hình bóng cũ. Cung đã nằm yên dưới nấm mộ rừng Việt Bắc, mình trở về đây, thân cô độc lại hoàn toàn cô độc.


(Quả chuông đồng ở ngoài vườn kêu mấy tiếng, một lúc, cánh cửa sắt rít lên, tiếng giày nhẹ bước.)


TRÂM (nhan sắc vẫn nhuần nhị như xưa, nhưng ai nhìn kỹ sẽ thấy gương mặt người đàn bà này héo úa hơn đôi chút và giọng nói thì vẫn chậm rãi, đều đều, chứa đựng một niềm đau xót, chán chường). - Tôi vào đột ngột quá, bà Đốc bỏ lỗi cho.


HẠNH - Cảm ơn bà. Sao bà biết tôi về?


TRÂM - Thưa bà, ở đời còn có chuyện gì bí mật, cho dẫu là chuyện Từ Hi thái hậu tư tình cả với lũ lái trâu tự ngày xửa ngày xưa mà ngày nay người ta cũng viết báo viết sách thêu dệt ra bao nhiêu cái lạ, nữa là… (trầm ngâm một lát). Cái tin ông đốc nhà thất lộc khiến chúng tôi rất đau lòng. Thôi cũng là số mệnh. Sống nhũn nhặn bao nhiêu, ông chết càng vinh dự bấy nhiêu. Bà nên cố nguôi sầu tủi. Độ này, bà gày xanh lắm đấy.


HẠNH - (thở dài) - Cảm ơn bà.


TRÂM (đứng dậy đi quanh mấy bước) - Ngày khởi chiến, tôi vướng lũ cháu còn thơ dại, cá chuối đắm đuối vì con, thành ra mắc nghẽn ở trong thành, may mà toàn vẹn, ngôi nhà ở không sao. Còn tòa nhà này thì…


HẠNH … thì sao ạ?


TRÂM - Lúc thành phố đã im tiếng súng, tôi đánh liều lần mò lên đây xem sao. Nhưng nhờ trời, nhà vẫn còn nguyên. Tôi nghĩ rằng một ngày kia ông bà sẽ trở về, nên đã bảo người nhà đến giữ.


HẠNH (cảm động) - Loạn lạc tơi bời như vậy mà bà nghĩ đến chúng tôi chu đáo quá. Ơn bà, tôi xin ghi tạc. Nhưng bữa về đây, tôi thấy nhà hoang vườn vắng. Lạ một điều là cửa trong cửa ngoài đều khóa cả, sau đó độ năm mười phút, có một cậu bé nhỏ cầm chùm chìa khóa đến đưa tôi, rồi chẳng nói năng gì, cậu ta cắm đầu chạy mất.


TRÂM -Thưa bà, đó là thằng cháu lớn, tôi sai đem chìa khóa đến gửi bà. Còn người ở giữ nhà thì tôi đã bảo rút đi từ hôm trước. Bà ở miền thượng sinh hoạt ra sao, đã làm gì, và đến cả bây giờ về Hà Nội, tôi đều biết hết.


HẠNH (biến sắc) - Bà nói rỡn, chứ xa cách nghìn trùng, biết làm sao ạ?


TRÂM (cười nhạt) - Tôi đã nói ở đời có cái gì bí mật đâu, sớm muộn người ta đều biết cả. (Ra cửa sổ). Ồ, rặng trúc đào cứ tươi tốt mãi thế kia, bà Hạnh nhỉ. Có điều đặc biệt là trải qua bao đạn nổ bom reo mà cây kia vẫn đỏ hoa xanh lá cả bốn mùa. (Nhìn lên gác) Cái cầu thang sao mà càng trông càng dốc ngược lên như vách núi chùa Hương ấy! (giọng xa xôi) Ôi chao, cái cầu thang này ngày xưa kia đã có những giọt máu hồng nhan…


HẠNH (kinh hãi) Bà Trâm! Bà Trâm!


TRÂM …và ở từng gác ba kia, trên tường còn in vết máu người mệnh bạc…


HẠNH (níu cánh tay Trâm) Bà Trâm, mời bà ngồi xuống đây. Tôi nhớ ngày nọ, bà có đến chơi vào một buổi chiều nổi cơn giông. Bà đã nói tới câu chuyện rặng trúc đào dưới vườn kia và vết tay máu trên gác thượng. Thế rồi, câu chuyện bỏ nửa chừng, bà kiếu ra về, hứa khi nào thuận tiện sẽ trở lại đây kể tôi nghe nốt về vụ tự sát của cô gái thất tình. Vậy đã qua bao nhiêu ngày tháng, hôm nay bà có lòng thương đến chia buồn, nhân tiện xin bà cho tôi rõ nốt câu chuyện bi thảm đó.


TRÂM - Tôi đến thăm bà bữa nay chính là có ý nói nốt câu chuyện ấy. Chuyện cũng chẳng có gì lạ lắm, mà chỉ buồn cho người nghe, người kể mà thôi. Ngày xưa, ồ, nói thế cho thành cổ tích, chứ thực thì mới xảy ra chừng quá mười năm. Vâng,… ngày ấy chủ nhân tòa nhà này là vợ chồng ông phủ Nguyễn. Ông bà chủ có cô gái út xinh đẹp, tên gọi… Nguyễn Thị Trúc Đào. Cô trộm yêu một sinh viên trường thuốc trọ học nhà cô, tên là.., nhưng chẳng vội, lát nữa tôi sẽ nói tên anh chàng học trò nghèo trọ học ở gia đình trưởng giả này.


HẠNH - Thế rồi ông bà Phủ chê anh hàn sĩ, không cho đôi trẻ thành duyên, đến nỗi người con gái - hồi đó phong trào lãng mạn, tự do đang bồng bột - phải quyên sinh cho vẹn lời thề thốt…


TRÂM - Chính thế, mà hình như ngày nọ tôi đã nói gần đến đoạn này rồi. Bây giờ chỉ còn có đoạn kết nữa mà thôi. Cô Trúc Đào đã nặng lời thề thốt với người yêu, sau bị cưỡng ép lấy một ông tham tá, cô ta lẻn lên tầng gác cao kia đập óc vào tường trước tối tân hôn…


HẠNH - Trời ơi, thê thảm quá!


TRÂM - Đập đầu không chết, nhân hăng máu, cô Đào trèo lên cửa sổ gieo mình xuống dưới vườn. Câu chuyện chỉ có thế thôi, nhưng mà… (bỗng gục xuống thành ghế, khẽ nấc lên).


HẠNH - Kìa, bà Trâm, thực là thê thảm! Tôi vì tò mò muốn nghe câu chuyện tình não nuột mà khiến bà phải đau lòng xúc cảm.


TRÂM (ngẩng lên, lau nước mắt) - Sau đó, bà Hạnh ạ, người học trò nghèo xin phép ông phủ Nguyễn trồng cây trúc đào vào đúng chỗ đất người yêu đã tuẫn tiết. Cây oan nghiệt đó có lẽ được bón bằng máu và nước mắt của khối u tình thảm thiết nên mọc rất nhanh, hoa lá rực thắm cả góc vườn và đêm đêm nghe tiếng sóng hồ Tây vọng lại, tưởng như tiếng khóc hờn văng vẳng…


HẠNH - Thưa bà, tên người hàn sĩ đó là gì ạ?


TRÂM (nghẹn ngào) - Tên người ấy là… Cung.


HẠNH (sửng sốt) - Là Cung?


TRÂM - Vâng, Đỗ Xuân Cung.


HẠNH (cảm động) - Đỗ Xuân Cung, chính nhà tôi?


TRÂM - Chính ông nhà. Còn Trúc Đào thì chính là em ruột tôi đó, thưa bà.


HẠNH - Có ai ngờ đến thế!


TRÂM - Chúng tôi đã lớn lên ở nhà này, đã cùng đùa nghịch và học tập cũng ở gian phòng chúng ta đang ngồi đây. Cho nên hai lần đến thăm bà, thực đã hai lần tôi đau khổ nước mắt chảy từ ngoài cửa, đầu nhức mắt hoa, tưởng như oan hồn em Đào tôi còn lẩn khuất ở đâu đây, nhất là cây trúc đào kia nữa…


HẠNH (thở dài) - Thảo nào, bây giờ tôi mới hiểu tại sao nhà tôi đứng lặng hàng giờ trong bóng tối ở tầng gác thượng để nhìn vết máu và cây Trúc Đào tình sử!


TRÂM - Thời gian đã qua đi… Cha mẹ tôi đều đã mất. Tôi thì đi lấy chồng (thở dài) để cả một đời cay đắng vì chồng. Nhà tôi, bà biết đấy, thực là con người hư hỏng, văng mạng nữa. Ai đời, bom đạn mù trời, ông ấy còn say rượu suốt đêm, rồi thì dông dài đây đó. Tôi nhờ người dò xét, biết rõ hành tung lang bạc của nhà tôi ở miền ngoài, thôi thì đủ trò ma quỷ… Thế rồi, đột nhiên một sáng nhà tôi trở về thành, để lại như thời không loạn, ngựa quen đường cũ, bê tha cờ bạc, rượu trà. Đã hết đâu, lại còn thích trò cờ mở trống rong, ăn nhiều, nói lắm. Tôi nghiến răng chịu đựng cho mãn kiếp. Thế mà thiên hạ đã hiểu lầm tôi, đồn đại tôi là một kẻ đàn bà kiêu hãnh a dua theo những cái nhố nhăng, bất chính của chồng.


HẠNH - Dư luận thiên hạ sá kể gì. Trời Phật chứng lòng mà.


TRÂM (mệt mỏi đứng lên) - Xin bà cho phép tôi về. Đầu tôi lại nhức buốt rồi đây. (lắng nghe) Đấy, tầu điện đã lên, xin bà cho tôi về kịp, kẻo các cháu chờ cơm tối.


HẠNH - Để tôi tìm viên thuốc bà uống đã, kẻo ra đường ngay gió máy…


TRÂM - Thôi, chẳng dám phiền bà mãi. Lần nào đến cũng quấy quả bà. Mà bà thì đang buồn khổ, nào có vui vẻ gì. À, nhà tôi hình như đã biết tin bà về Hà Nội, thể nào chẳng đến chia buồn và vấn an bà. Không chừng, chốc nữa…


HẠNH (chau mày khó chịu) - Tôi cảm ơn bà về câu chuyện cổ tích bà vừa kể, và cảm ơn ông nhà ta trước về sự phân ưu và vấn an kia. Bà làm ơn thưa với ông nhà rằng tôi đang mệt mỏi và cảnh tóc tang không cho phép tôi tiếp bạn bè nhiều. Xin ông đừng đến.


(Trâm ra cửa, Hạnh tiễn theo chân khách)


TRÂM (ngẩng nhìn mây trời vần vụ, gió nổi ào ào làm nghiêng ngả mấy khóm cây vườn) - Lại mưa gió lớn rồi đây. U uất mãi, chẳng giông bão thì cũng mưa rào một lát cho dễ thở. Lạy bà ạ, tôi về.


(Trâm ra, có bóng người thoáng ngoài cửa sổ, như kẻ rình nghe chuyện, vút qua và lẩn mất. Nhưng hai người không lưu ý).


HẠNH (chán ngán ngồi xuống, ngả đầu ra ghế, trầm ngâm) - Cung ơi, mình chung tình với một oan hồn, mình lại còn chung tình - dẫu rằng mang hận - với một kẻ phụ bạc mình hiện đang thoi thóp sống để đền tội lỗi.


Giữa lúc đó, nửa mình cái Oanh hiện rõ ngoài cửa sổ, rồi người tớ gái nhẹ nhàng bước vào phòng).­


CÁI OANH - (cầm phất trần quét bụi cửa kính và đồ đạc) Thưa bà, bà khách lần trước đến chơi chuyện phiếm đã ngồi lâu, lần này đến chia buồn cũng lại ngồi dai chẳng kém. Người đâu mà đa bệnh, lúc nào cũng nhức đầu, mà cũng lại đa cảm nữa, động nói là nước mắt chảy như mưa. Con đứng ngoài nghe thoáng vài câu, nhìn bà khách khóc, lòng con cứ ngậm ngùi làm sao ấy.


HẠNH - Chuyện chị này! Rõ thực là khéo dư nước mắt! Mặc người ta…


CÁI OANH - (lẩm bẩm một mình) Mặc người ta! Vâng, mặc người ta! (bỗng dừng chổi phất trần, nhìn tấm gương tủ áo) Thưa bà, kể thì cũng lạ. Chạy loạn ngót hai năm, trở về nhà cửa đồ đạc còn nguyên vẹn. Có người ở coi nhà giúp, thế mà sao tranh ảnh, bàn ghế, mọi thứ bày từ gác thượng xuống dưới nhà đều y nguyên chỗ cũ, tuyệt nhiên không xê xích, mà cũng không có ai mó chạm vào. Đây này, con nhớ rằng có một hôm ông con sớm dậy đứng chải đầu, đã in cả bàn tay vào gương kính tủ. Vết bàn tay ấy, bà coi, vẫn hiện rành rành như vừa mới in lúc nãy, trong khi bà khách nói chuyện với bà về câu chuyện tình sử trúc đào kia.


HẠNH - (rợn đôi vai, đứng dậy đến trước gương xem, thốt nhiên, Hạnh thét to mấy tiếng, lúc trở lại, ôm lấy mặt. Bàn tay… y như bàn tay máu in tường gác thượng. (Hạnh lại rú to tiếng nữa) Ông nhà! Oanh ơi, kia đích thực ông… (Hạnh vừa nói vừa nhìn vào gương, thân hình co rúm lại).


CÁI OANH - (đỡ mình nữ chủ và điềm tĩnh) Bà mê hoảng mất rồi. Đó là bức ảnh ông con treo ở tường phản bóng vào gương, đúng chỗ có vết tay hoen ố. Xin bà định tâm, kẻo sức tự kỷ ám thị làm cho bà điên dại thì nguy hiểm lắm. (dìu Hạnh về ngồi ghế)


HẠNH - Tự kỷ ám thị ư? Chị nói thế nào?


CÁI OANH - Thưa bà, cứ nghĩ mãi rằng nhà có quỷ có ma thì sẽ thấy ma hiển hiện. Nhưng làm gì có ma ở cõi trần. Cũng như chẳng có Thượng Đế, Giê Su, Phật Tổ. Đó chỉ là những hình bóng do loài người tạo tác ra để tự chế ngự lòng tà dục và tội ác. (Mở ngăn kéo tủ, lấy ra chiếc hộp) A này, chiếc hộp kỷ niệm của bà, may quá, ngày ở ngoài kia bà thường nhắc nhở, cứ lo ai lấy mất…


HẠNH (đón chiếc hộp khảm, mở ra, giọng ngậm ngùi) - Kỷ vật của mẹ mình để lại đây (cầm lên tay đôi giầy nhung bé síu của trẻ con) Đôi giầy mẹ mua cho thời ấu trĩ. Mình lớn lên trong cánh tay hiền mẫu, cho đến khi đi lấy chồng, ngày cưới, bà cụ còn nhớ để đôi giầy kỷ niệm này vào hộp lót đáy hòm. (lấy ra những đồ chơi khác, búp bê, cành hoa, chiếc lược, nói với cái Oanh): Còn đây nữa, toàn kỷ niệm thuở ấu nhi. Bà cụ chắt chiu gìn giữ, bỏ cả vào hộp trầu cau (cúi đầu thấp giọng, nói một mình) Thế mà lòng trong trắng của con gái mẹ xưa kia ngày nay đã chất đầy tội lỗi, sống trong rác rưởi bùn lầy… Mẹ ơi, con tủi nhục với anh linh mẹ!


CÁI OANH (lúi húi mở ngăn tủ khác, giơ cuốn album bìa gấm đỏ, reo lên) - Thưa bà, đây cũng là kỷ vật bà thường lo mất. Chỉ tơ ngũ sắc đóng ngoài bìa bị gián nhấm đứt chút ít thôi, còn nối được.


HẠNH (nâng niu cuốn album) - Còn nối lại làm gì, mà nối làm sao được nữa!


CÁI OANH (bỗng nhìn ra cửa sổ) - Thưa bà, trời nổi gió, bà trông, đôi cánh buồm trắng ngoài hồ xa kia dang díu vào nhau, ngược gió tìm vào bến lạ.


HẠNH - Chị khép cửa vào, kẻo tôi sợ gió. Oi nồng quá, ngoài thì thấy nóng mà trong lòng tưởng chừng băng tuyết làm sao! (giở từng trang ảnh) Đây là ảnh bà cụ cùng mình ngày ấy tóc còn buông, đi lễ Phật chùa Hương. Hôm ấy mẹ cầu cho con sung sướng về đường tình duyên, sau này sẽ được an nhàn, hạnh phúc. Thế mà ngày nay, nửa đời xuân tang tóc, sẽ chết mòn trong cõi phù sinh. Con chỉ còn có thể sống với hình ảnh mẹ, nấm mồ Cung ở rừng xanh mà thôi!...


Trời nổi cơn giông bão. Cánh cửa bị gió đánh bật vào tường vỡ một vài ô kính. Tiếng Hoa Nhi giật mình khóc ở phòng bên. Tiếp theo sấm sét và mưa lớn. Hoa Nhi càng khóc dữ. Cái Oanh chạy sang ẵm Hoa, trở lại gần chỗ Hạnh ngồi. Hoa Nhi càng khóc lặng.


CÁI OANH - (ấp bé Hoa vào ngực, dỗ) Nín đi, nín đi! Sấm sét đánh ngoài trời, can chi mà sợ hãi. Khổ, cháu tôi, cháu quý của tôi!


HẠNH - (ra cửa đón, nhìn cái Oanh kinh ngạc) Thế nào, chị Oanh…, chị vừa nói?...


CÁI OANH - Không ạ, con nói gì đâu.


HẠNH - Tôi nghe rõ. Trời ơi, đây lại là một ẩn tình, lại là một trang bí sử của ngôi nhà quái đản này. Chị Oanh đừng giấu nữa… Hoa Nhi… thế nào… Có thể là câu chuyện thuộc về huyết thống?... Chị nói mau đi…


CÁI OANH - Không ạ, thưa bà, có chuyện gì đâu. Con chỉ là kẻ nô tì thân tín và chung thủy hầu bà…


HẠNH - Tôi cảm thấy một chuyện gì lạ lắm. Chị nói ngay đi… Tôi khổ nhiều về cái không khí âm u bí mật của nhà này đã lâu, tức thở lắm rồi, không thể nào chịu hơn được nữa…


CÁI OANH - (dỗ Hoa Nhi đã nín, đưa Hạnh bế, rồi cúi đầu, đứng bên cửa sổ. Trời tối rất mau. Sấm sét và chớp loáng tưởng chừng làm rung chuyển cả tường nhà và nước mưa tưới long lanh mặt kính hắt vào mặt người tớ gái một ánh sáng dị kỳ. Một lát, cái Oanh mới nói, giọng chìm vào tiếng mưa dào dạt ở ngoài trời). Thưa bà, câu chuyện có gì lạ lắm đâu. Nếu có điều đáng lạ là sự tủi sầu câm nín của tôi ở cái nhà họ Nguyễn rồi họ Đỗ này. Thôi thì nói xa xôi mãi làm chi, cần nói ngay rằng tôi là em chị Trâm và chị Đào, nghĩa là con ông Phủ Nguyễn, nhưng lại là cái thứ con riêng của cha tôi. Tôi ở với mẹ tôi tại ngoại ô, nhờ cha tôi cấp dưỡng, nên cũng được học tập ít nhiều ở trường trung học.


HẠNH - Tôi thực không ngờ!


CÁI OANH - Thế rồi, trước ngày chị Đào tôi tự sát vì không thể sống vẹn tình với ông Cung, chị Đào đã tìm tôi than thở, vì câu chuyện tâm tình mà chị Đào không dám ngỏ với chị Trâm, có lẽ bởi không hợp ý. Sau cùng, chị Đào tôi trích máu cổ tay viết bức thư vĩnh biệt ông Cung, dặn tôi đưa giúp, vì chị Đào sắp cưới nên người học trò nghèo trọ học kia đã xách va li đi nơi khác. Máu cổ tay ra nhiều quá, chị tôi dúng bàn tay vào máu in xuống lá huyết thư, thay chữ ký. Rồi thì ngay đêm ấy...


HẠNH (thở dài) - Thật là thê thảm! Bức huyết thư kia, chị đưa cho nhà tôi tự ngày nào?


CÁI OANH - Thưa bà, tôi chưa tiện đưa ông, mà cũng chẳng nỡ để ông nhìn thấy máu người bạc mệnh. Cho nên tôi còn giữ ở trong mình. Giấy thư bợt rách, máu thì khô tím…


HẠNH - Không biết tôi có được phép nhìn qua thư ấy…


CÁI OANH - Chả nên bà ạ. Mà bức thư tình nào chẳng giống nhau. Thư chị tôi chỉ có lời ký thác rằng: duyên chị chẳng lành thì tình em chắp nối. Nghĩa là, chị tôi ước mong ở suối vàng tôi sẽ thay thế chị tôi, cùng ông Cung kết ngãi.


HẠNH (cúi đầu vuốt tóc Hoa Nhi) - Thế rồi… Ồ, sao sự đời lại đến thế này!


CÁI OANH - Nhưng có lẽ vì lòng tự ái mà tôi không thể làm theo ý chị tôi. Không khi nào tôi xin ông Cung lòng thương ấy. Cho nên, bức thư kia vẫn giấu kỹ trong mình với lưỡi dao oan nghiệt. Là vì chị tôi căn dặn: không thể nào để một người đàn bà khác làm vợ ông Cung ngoài tôi ở cõi trần và ngoài chị Đào tôi, ở cõi u minh lạnh lẽo.


Sấm vang trời. Tia chớp vút ngang cửa kính mưa sa, làm ngời ánh mắt và làn da nhợt tái của người tớ gái.


HẠNH (rợn mình, ủ chặt Hoa Nhi vào ngực) - Chao ôi, đến thế kia ư! Tôi còn biết nói thế nào một khi đời tôi đã mang một bản án địa ngục trần gian đó. Tôi sẵn sàng chờ đợi lưỡi dao kia.., chị Oanh.., chị Oanh.., tôi chờ đợi…


CÁI OANH - Thú thực rằng, ngày ở ngoài kia, nhất là ở trại đồi, tôi đã đôi lần có ý nghĩ mài dao vào đá. Nhưng…


HẠNH - Bây giờ chưa muộn… (ủ rũ như người chịu tử hình).


CÁI OANH (lạnh lẽo) - Tôi đã chôn vùi con dao đó dưới gốc trúc đào rồi. Mà tôi đâu nỡ. Tôi chưa có hân hạnh làm tình địch của bà, trước nay vẫn chỉ là một kẻ tôi đòi cam phận. Không vẹn lời ủy thác của vong hồn chị, tôi ân hận lắm. Chuộc một phần tội lỗi với người mệnh bạc, tôi đành xa mẹ, cải trang, xin vào ngôi nhà này làm tớ gái để dõi theo cuộc ái ân hạnh phúc của ông Cung, bà Hạnh. Nhưng rồi…


HẠNH - Chị đã thấy cả rồi đấy chứ? Hỡi ơi ân ái hạnh phúc của chúng tôi!


CÁI OANH - (cho tay vào túi áo lót mình, lấy ra lá huyết thư, đánh diêm châm, nhìn lửa cháy) Hết rồi! Hết cả rồi! Thưa bà, hoàng hôn ở miền sơn cước, tôi đã mấy lần nghe chim từ qui kêu cái tiếng kêu giải thoát kia như một lời kinh Phật, trên mộ ông nhà. Vậy thì, hết cả rồi, chẳng đốt đi để giải lời nguyền thảm khốc và cho tiêu tan ma chướng, còn giữ làm chi mãi.


Gió lạnh lùa tiếp theo tiếng sét đánh nổ tung cửa kính. Nước mưa cuốn vào mặt Hạnh. Và gió cuốn những mảnh giấy tro tàn bốc cao lên bay ra ngoài trời. Người quả phụ ẵm Hoa Nhi đứng lánh vào góc phòng tránh gió mưa lùa hắt. Một tiếng sét xé trời. Đèn tắt, phòng tối như vực thẳm. Tiếng cây reo đổ ngoài vườn.


HẠNH - (nép mãi vào xó tối, ghì chặt Hoa Nhi, gọi thất thanh): Chị Oanh! Chị Oanh, mau đóng cửa, tìm nến thắp lên cho sáng.


Tiếng người tớ gái rú ở ngoài trời giông bão vọng vào phòng, ghê rợn xa xôi như tiếng oan hồn bốc lên từ địa ngục:


- Sét đánh cháy rặng trúc đào rồi! Sét đánh!...


Tiếng kêu dần tắt, chìm vào gió giật mưa cuồng. Hoa Nhi khóc thét to. Hạnh kéo áo phủ kín con, chạy ra gài cánh cửa đang đập mạnh vào tường, kêu gọi):


- Chị Oanh! Chị Oanh! Sao lại kì dị thế? Bao nhiêu chuyện đã âm thầm, dồn dập xảy ra trên mảnh đất gớm ghê này! Mẹ ơi, con sợ lắm. (nức nở) Anh Cung ơi, hãy tha thứ cho em, che chở mẹ con em…


Mạnh Thu Nhâm Thìn, 1952


Nguồn: Cầu sương. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Thế giới. Hà Nội,1953. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info



 



 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »