tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19717272
Tiểu thuyết
28.12.2015
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Chiếc tam bản của đội Lượm và Thảo. Bây giờ Thảo chèo thay cho đội Lượm nghỉ tay một chút. Gió biển về đêm thổi lành lạnh. – “Độ còn bao lâu nữa tới Lình Quỳnh hả anh?” – Thảo hỏi. – “Còn độ một nghỉnh nữa thôi” – đội Lượm vừa nói, vừa moi thuốc rê trong túi ra vấn một điếu lớn bằng ngón tay cái, châm diêm hút. Từ chập tối đến giờ hắn chịu nhịn thuốc để ra biển cho an toàn. Giờ thì làn khói thuốc đầu tiên làm cho hắn tỉnh ngủ. Hắn nhìn theo Thảo nhún nhẩy theo nhịp chèo với vóc dáng thon thả, hắn cảm thấy cô gái sao đẹp lạ. Tự nhiên hắn thấy thèm khát vô cùng. Nhưng một ý nghĩ khác chợt đến: hắn đang chạy trốn quân khởi nghĩa. Chỉ cần một chút sơ hở thì hắn phải trả bằng mạng sống của chính hắn. Hắn hỏi Thảo: – “Em có mang tiền bạc theo không? Qua chỉ chạy thoát lúc đó nên không mang theo được thứ gì”. – “Thì còn mấy lượng vàng anh cho chưa xài hết. Phụ nữ mà anh, đi đường xa bao giờ cũng lo cụ bị ít nhứt cũng tạm ổn cuộc sống được mươi bữa, nửa tháng, không như đàn ông các anh “tới đâu hay tới đó”, có khi đói nhăn răng như chơi!” – Thảo lại cười một cách vô tư. Đi được một quãng, vừa hút tàn điếu thuốc, trông thấy mờ mờ con rạch trong đất liền chảy ra, đội Lượm kêu lên: – “Tới rồi, em quẹo vô rồi cặp vô bờ rạch, có bến trống trống không có cây đó”. Thảo ra mái chèo cho chiếc tam bản quẹo vô theo chỉ dẫn của đội Lượm. Khi chiếc tam bản vừa cặp vô mé rạch trống như bến nước đội Lượm nhảy lên cầm sợi dây buộc tạm chiếc tam bản rồi đưa tay dắt Thảo bước lên. Tay kia Thảo xách một túi nhỏ. Thấy có bãi cỏ trống, đội Lượm nói: – “Ta ngồi nghỉ ở đây một chút đi em. Từ đây lội vô nhà thằng quen anh chỉ độ một nghỉnh thôi. Trời còn tối mà”. Lấy cái khăn trải ra, đội Lượm kéo cô gái xuống nằm với mình rồi hôn tới tấp vào mặt, vào cổ, vào ngực… một tay kia hắn thò vào mở lưng quần cô gái, khiến Thảo giẫy lên: – “Làm gì dữ vậy anh? Từ từ có được không!”. – “Tự nãy giờ nhìn em chèo, thấy thân hình hấp dẫn quá, anh nhịn muốn chết rồi”. Hắn vật cô gái lăn lộn trên bãi cỏ…


 


 


            Thuyền chở Tèo, Thắm, Sáu Nhỏ và Út Hết đã đến Hòn Chông, cặp vào bến nước của một gia đình làm nghề biển. Nghe buộc dây lạch cạch dưới bến, có tiếng trên nhà hỏi: – “Ai đó?”. – “Dạ cháu, Tèo con bà Năm đây, bác Bảy” – Tèo vội trả lời. Trong nhà có người xách bó đuốc dầu chai ra. Ông già Bảy kêu lên vui vẻ: – “Ờ cháu Tèo. Đi đâu khuya khoắt thế này mà ghé đây?”. – “Dạ, cháu ở chợ Rạch Giá về. Bác vẫn mạnh giỏi chớ bác Bảy?” – Tèo cười nói. – “Nhờ ơn Trời Phật nên cũng ăn cơm uống rượu được với bà con. Vô đây! Mời tất cả vô nhà uống nước”. Rồi ông Bảy xách đuốc đi trước. Tèo, Thắm, Sáu Nhỏ, Út hết theo sau trong tâm trạng thoải mái như vừa về đến nhà.


 


 


            Trở lại chỗ bãi cỏ đội Lượm với Thảo. Cuộc ân ái cuồng loạn vừa xong. Thảo đang mặc lại áo thì bất ngờ đội Lượm ôm vòng tay siết cổ Thảo thật chặt. Cô gái giẫy giụa không kêu lên được một tiếng. Nhưng càng giẫy giụa thì tay đội Lượm càng siết mạnh cho đến khi Thảo gần nhũn ra lịm đi, không giẫy giụa nữa. Cô gái đã chết trong vòng tay kẻ trước đây một giờ còn âu yếm làm tình cuồng nhiệt với cô. Có thể cô không hiểu vì sao mình bị giết, nhưng tên Lượm rất hiểu. Cần phải bịt đầu mối người biết hắn trốn ở đây để đề phòng hậu họa. Hắn lôi xác Thảo xuống chiếc tam bản, lấy khăn đấp mặt, sau khi lấy cái túi nhỏ đựng mấy lượng vàng cô gái mang theo, rồi tháo dây buộc, xô mạnh chiếc tam bản trôi theo dòng nước đang chảy ra biển. Sau khi thấy chiếc tam bản trôi xa, hắn biến vào hàng cây rậm bên bờ rạch đậm đặc bóng tối…


 


 


            Trực họp với các chỉ huy nghĩa quân trong thành Sơn Đá. Giọng anh nói sang sảng rành rọt: – “Bọn giặc Tây dương sẽ không cam chịu thất bại để chúng ta làm chủ Rạch Giá đâu. Để chống chúng tái chiếm Rạch Giá, chúng ta phải ngăn chặn con đường kinh Rạch Giá – Long Xuyên bằng cách đắp đập ở Lục Dục và Tà Keo. Tôi sẽ đưa quân của anh Tư Hội lên cùng với dân chúng vùng đó đắp đập và chặn đánh chúng tại hai trận địa trên. Đây là mặt trận chủ yếu của địch. Còn anh Ky, anh quản Cầu và các anh Búp, anh Tư, anh Ngàn thì ở lại phòng thủ giữ gìn trật tự trị an cho dân chúng thị xã này, đề phòng địch đổ bộ đường biển. Tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của anh Ba Ky. Còn đường bộ từ Hà Tiên đến Rạch Giá, việc chặn địch ở đây tôi giao cho anh Hai Nhượng lo mặt trận này – Trực ngưng lại nhìn mọi người – Tôi phân như vậy, các anh có gì nói thêm hay không?”. – “Tôi thấy anh Hai cắt đặt công việc chống giặc như vậy là hợp lý rồi – Hai Nhượng nói – Nhưng xin hỏi anh Hai, số súng đạn ta lấy được ở thành Sơn Đá này, anh Hai tính sao?”. – “Sẽ chia đều cho các cánh quân, – Trực nói – nhưng cái khó là thiếu đạn. Cho nên nếu không còn đạn sử dụng nữa thì chôn súng, làm dấu để sau này có điều kiện sẽ đào lên dùng, không kịp chôn thì phá hủy, quyết không để lọt vào tay giặc. Anh em nhớ điều này xem như quân lệnh đó nghe!”. – “Dạ, xin tuân lệnh anh Hai” – Các chỉ huy gần như nói lên cùng lúc. – “Coi như việc đã xong. Các anh về chuẩn bị để có thể hành quân ngay. Không được chậm trễ! Riêng anh Ba Ky ở lại, tôi còn bàn thêm chút chuyện với anh”. Trực gật đầu đáp lễ các chỉ huy chào anh. Họ lục tục rời phòng họp với nét mặt vui vẻ phấn khởi, bởi vì đã lâu họ không được đánh giặc và việc chiến thắng thành Sơn Đá vừa rồi như tiếp thêm sức mạnh cho họ trước khi lao vào cuộc chiến sắp tới.


            Bây giờ trong phòng họp chỉ còn lại hai người. – “Anh Ba à – Trực nhìn ông Ky với ánh mắt trìu mến – Từ khi tôi về dưới này được anh và các anh tận tình giúp đỡ và tình cảm giữa chúng ta coi như anh em ruột thịt. Có thể nói chiến thắng vừa rồi có công đóng góp rất lớn của anh và các anh Tư Ngàn, Búp, Miên cũng như bà con ở Tà Niên, Rạch Giá. Nhưng bọn Phú-lang-sa sẽ không để chúng ta yên, bởi vì nếu không chiếm lại được Rạch Giá chúng sẽ bị dân chúng Nam Kỳ lục tỉnh nổi lên chống lại, chiến thắng của chúng ta sẽ kích động lòng yêu nước khắp nơi. Vì vậy, bằng bất cứ giá nào chúng cũng phải chiếm lại vị trí có tính chiến lược này, đó là điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng phải nghĩ tới”. Ông Ky gật đầu: – “Anh Hai nói đúng. Vậy anh tính đối phó bằng cách nào?”. – “Như tôi đã nói khi nãy, tôi sẽ đi với anh em cùng dân chúng đắp cản ngăn tàu giặc hướng Long Xuyên xuống. Còn toàn bộ công việc phòng thủ Rạch Giá, tôi giao lại cho anh. Điều cần quan tâm của anh trước hết là phải bảo vệ dân chúng an toàn, hạn chế thiệt hại nhân mạng ở mức thấp nhứt, vì khi địch đổ bộ Rạch Giá, chúng sẽ trả thù sự thất thủ thành Sơn Đá, mà dân chúng là người đầu tiên chịu sự trả thù hèn hạ đó. Anh Ba nhớ cho điều này: còn dân là chúng ta còn, mất dân là chúng ta mất hết. Ngoài ra, là người chỉ huy, anh tùy cơ ứng biến, không để cho địch muốn làm gì thì làm. Anh hiểu ý tôi chớ?”. Ông Ky rất xúc động trước những lời dặn dò của Trực, người anh hùng mà ông may mắn được gặp và chiến đấu chung, tuy chỉ có thời gian ngắn nhưng đã chiếm trọn vẹn tình cảm và lòng ngưỡng mộ của ông. – “Tôi hứa với anh Hai sẽ thực hiện những lời anh chỉ dạy. Anh Hai cứ việc yên tâm. Ky tôi còn sống ngày nào thì thề không đội trời chung với lũ Tây dương ngày đó”. – “Tôi hiểu tấm lòng của anh ngay từ lần gặp đầu tiên – Trực nhìn ông Ky với ánh mắt tin tưởng – Tôi tin anh, hết sức tin tưởng anh trong cuộc chiến ác liệt với kẻ thù sắp tới. “Vận nước có lúc thịnh lúc suy nhưng hào kiệt thời nào cũng có!”, cụ Nguyễn Trãi đã từng nói như vậy. Anh chính là hào kiệt của đất Kiên Giang này đó!”. Trực cười, khiến ông Ky hết sức lúng túng đỏ bừng mặt: – “Anh Hai nói quá lời rồi. Ky tôi đâu có được như vậy”. – “Rồi anh xem coi tôi nói có quá lời không – Trực cười lớn – Từ lúc bọn Tây dương sang cướp nước ta, đã nổi lên không biết bao nhiêu bậc nghĩa hiệp dám xả thân vì nghĩa lớn khiến kẻ thù cũng phải nể sợ. Tổ quốc Việt Nam luôn tự hào có những người con trung liệt như vậy”. Ngừng một lúc, Trực nói tiếp: – “Tôi chỉ dặn dò anh một chút vậy thôi. Thời gian bây giờ gấp lắm rồi. Tôi phải đi với anh em lên Lục Dục, chuẩn bị cho trận chiến sắp tới đây. Anh chuyển lời tôi chào bác và gia đình, mong bác cảm thông cho tôi vì việc nước tôi không đến chào bác được”. – “Cám ơn anh Hai!”. Ông Ky xúc động nắm chặt tay Trực hồi lâu. Không ngờ đây là lần chia tay cuối cùng của họ – hai người anh hùng làm vẻ vang cho lịch sử đất Kiên Giang.


 


 


            Sáng nay, nhà cụ Huỳnh Mẫn Đạt có khách sớm. Đó là ông thầy thuốc Dương Công Thuyên, người bạn vong niên của cụ Huỳnh. Bên cạnh ấm trà nghi ngút khói toả ra thơm ngát của hương sen, câu chuyện của ông Thuyên và cụ Huỳnh tỏ ra rất tâm đắc giữa những người trí thức yêu nước ở vùng đất cuối cùng Tây Nam Tổ quốc. – “Tôi cũng vừa gặp ông Trực xong. – ông Thuyên mỉm cười nói – Đúng như cụ đã nói trước đây, ông Trực đã đánh cho bọn Phú-lang-sa một đòn đau nhớ đời. Ổng cũng gởi lời kính thăm cụ, tiếc rằng vì bận việc quân nên không đến chào cụ được”. – “Tôi hiểu, tôi hiểu – cụ Huỳnh vui vẻ nói – và rất thông cảm cho hoàn cảnh của ổng hiện nay. Sau một trận đánh lớn còn biết bao việc phải làm của một người chỉ huy nghĩa quân như ổng, tôi đâu dám trách, vậy mà ổng chu đáo quá!”. – “Thưa cụ – ông Thuyên nói với nét mặt không vui – tôi có hỏi ông Trực về tình hình Rạch Giá sẽ ra sao, sau khi ta hạ thành Sơn Đá… thì ổng nói rằng địch sẽ chiếm lại Rạch Giá bằng bất cứ giá nào, bởi đây là vị trí quan trọng không phải về kinh tế trù phú về lúa gạo, thủy hải sản, mà đây chính là vị trí chiến lược khống chế cả vùng biển phía Tây Tổ quốc ta. Ai chiếm được Rạch Giá sẽ làm chủ cả khu vực này đó”. Ông Thuyên nhấp ngụm trà rồi nói tiếp: – “Địch sẽ huy động lực lượng quân sự mạnh nhất để tái chiếm Rạch Giá”. – “Ổng nói đúng – cụ Huỳnh gật đầu xác nhận – Bọn Phú-lang-sa đâu có bỏ đất này được, triều đình qua đại diện là quan Kinh lược sứ họ Phan đã biếu không cho họ, không tốn viên đạn nào mà làm chủ cả mảnh đất phì nhiêu thì đến kẻ nằm mơ cũng không thấy được – cụ Huỳnh nhìn ông Thuyên – Ông có nghe ổng nói sẽ đối phó như thế nào khi địch chiếm lại Rạch Giá không?”. – “Thưa cụ, – ông Thuyên nói giọng không vui – ổng có nói sẽ rất khó giữ Rạch Giá vì quân khởi nghĩa lực lượng mỏng mà phải chia ra đối phó hai mặt phía Long Xuyên đánh xuống, phía ngoài biển đổ bộ vào… mà thế mạnh của bọn Phú-lang-sa là hải quân. Tôi có hỏi thái độ triều đình thì ổng cũng nói như cụ, coi như không có trách nhiệm vì đã giao đất cho địch rồi, họ muốn làm gì thì làm với quân khởi nghĩa. Cho nên phải làm sao hết sức hạn chế thiệt hại cho người dân vì bọn địch hèn hạ sẽ trả thù họ khi đồn Sơn Đá bị diệt”. – “Đó là vận nước đang hồi bĩ cực – cụ Huỳnh thở dài – khiến cho trăm họ phải chịu lầm than, người tài như ông Trực làm trụ đá ngăn cơn đê vỡ nhưng liệu ổng giữ đươc bao lâu? Đời ông với hai chiến tích lừng lẫy: đốt tàu giặc ở vàm Nhựt Tảo – Tân An và tiêu diệt thành Sơn Đá – Kiên Giang đã đủ cho lịch sử ghi nhớ đời đời người anh hùng dân chài đất phương Nam dám tay không một mình đương đầu với lũ giặc và đã oanh liệt đánh thắng nó, trong khi triều đình khiếp nhược dâng đất đầu hàng…”. – “Thưa cụ, – ông Thuyên nói – ông Trực cũng đề nghị chúng ta nên có kế hoạch hạn chế những khó khăn thiệt hại do địch gây ra khi nó tái chiếm Rạch Giá. Cụ đã có tính đến chuyện này chưa?”. – “Nước mất nhà tan, người xưa đã nói như vậy rồi! – cụ Huỳnh thở dài – Ta đành chấp nhận… số phận. Hay nói âu cũng là số trời. Chỉ mong sau này con cháu khôi phục lại giang san Nam Kỳ lục tỉnh, sẽ hiểu hơn, thông cảm hơn nỗi đau và nỗi nhục mà lớp ông cha ngày trước phải chịu đựng. Mà lẽ ra không phải chịu đựng nếu chúng ta có một minh quân như đời Lý, đời Trần dám đánh và đánh thắng giặc khi chúng bắt đầu đặt chân tới xâm lược nước ta!”. Hai ông ngồi im lặng rất lâu. Không khí nặng nề. Một lúc sau, ông Thuyên đứng lên: – “Xin phép cụ tôi về, vì còn hẹn bệnh nhân đến tái khám”. – “Ờ, ông về”. – cụ Huỳnh đứng lên tiễn bạn ra cổng – “Có chuyện gì ông cho bầy trẻ xuống báo cho tôi hay”. Cụ Huỳnh nhìn ông Thuyên dặn dò. – “Thưa vâng – ông Thuyên mỉm cười gật đầu – Có việc gì tôi xin báo ngay cho cụ. Mong rằng chỉ báo điềm lành”. – “Được vậy thì quá tốt”. Cụ Huỳnh vui vẻ nói và nhìn theo đến khi ông Thuyên đi khuất mới lững thững trở vô nhà.


 


 


            Ở Lục Dục.


            Hàng trăm người gồm có nghĩa quân và nhân dân cùng nhau đốn cây rừng, đào đất chở trên ghe, xuồng, tam bản đến để đắp cản Lục Dục dưới sự chỉ huy của Tư Hội. Anh cũng cởi trần ra lao động bê đất, khiêng cây đắp đập như mọi người. Không khí lao động sôi nổi hết ngày rồi tới đêm. Phụ nữ thì nấu cơm vắt để trong thúng với bánh trái gánh ra chỗ đắp đập cho mọi người ăn uống rồi làm tiếp không kể giờ giấc. Ban đêm những ngọn đuốc được đốt sáng soi rõ những khuôn mặt, những tấm lưng cởi trần nâu bóng ướt đẫm những giọt mồ hôi vẫn hăng say lao động đóng cọc, thả chà, đổ đất… để hoàn thành đắp cản ngăn tàu giặc. Tiếng cười nói, đùa giỡn với nhau của lớp nghĩa quân trai trẻ với dân làng vang cả khúc kênh rộng. Phía trên bờ của đập cản, một số nghĩa quân đắp ụ bố trí súng thần công.


            Ở phía dưới Lục Dục là Tà Keo cũng diễn ra không khí lao động sôi nổi của lớp nghĩa quân cùng nhân dân địa phương thi nhau đắp đập ngăn tàu giặc, bất kể ngày đêm. Lòng con kênh hẹp dần…


 


            Một đoàn tàu chiến quân Pháp từ Long Xuyên tiến theo kênh Long Xuyên hướng về phía Rạch Giá.


            Thiếu tá Ansart đứng trên mũi chiếc tàu đi đầu. Bên cạnh có Trần Bá Lộc và Tổng đốc Phương. Đây là hai tên Việt gian theo Pháp nổi tiếng thời đó. Tên Ansart phóng tầm mắt quan sát. Cả cánh đồng hoang vu xanh đến tận chân trời. Hắn nói với Trần Bá Lộc:


            – “Tôi cũng đã đi nhiều nơi trên đất Phi châu, nhất là những nơi chịu nhận nền bảo hộ và cai trị của nước Pháp, nhưng chưa bao giờ tôi thấy nơi nào giàu đẹp như đất nước Nam Kỳ của các ông – hắn khoát tay một vòng rộng – Ôi, một màu xanh đến tận chân trời. Nếu biết khai thác, vùng này sẽ trở thành là một vùng có trữ lượng lúa gạo thuộc vào hàng cao nhất thế giới”. – “Thiếu tá nói đúng – Trần Bá Lộc gật đầu – Các giáo sĩ truyền đạo mà tôi có dịp tiếp xúc trước đây, họ cũng đều nói như vậy”. – “Nhưng về mặt khai thác – Đỗ Hữu Phương nói chen vào – Cái khó nhất của triều đình Huế không thực hiện được chính là do thiếu dân. Dân chúng người Việt thì thưa thớt quá, còn người Miên thì lại càng ít hơn rất nhiều. Nhìn chung sự khai thác của dân chúng vùng này còn lạc hậu như thời trung cổ”. – “Vậy mà mỗi mùa lúa thu hoạch được – tên Trần Bá Lộc nói – mà dân ở đây chỉ làm một mùa thôi đó, đã nuôi dân ăn không hết, mà còn dư xuất khẩu qua cảng Sài Gòn – Chợ Lớn”. – “Tôi biết. Tôi biết. – tên thiếu tá Ansart gật đầu xác nhận – Chính vì lẽ đó mà người Pháp có mặt ở xứ sở này của các ông để thực thi sứ mạng truyền bá văn minh, nâng cao trình độ dân trí để khai thác tài nguyên một cách có hiệu quả nhất. Vậy mà – tên Ansart trầm ngâm nói – có người không hiểu thiện ý đó của nước Pháp, cố ra sức chống lại dù trong tay họ chỉ có những vũ khí được làm từ thời trung cổ. Họ chết đã đành, nhưng của đáng tội, những người đi theo họ cũng nhận lấy cái chết. Chỉ có những người trí thức như cụ Kinh lược sứ họ Phan và các ông đã sớm nhận ra sức mạnh của nước Pháp tự nguyện cộng tác với chúng tôi để bình định xứ sở này và để phát triển cho xứng đáng với tiềm năng lớn lao về mọi mặt của nó. Tôi nói vậy có đúng không các ông?”. – “Rất đúng, thưa thiếu tá – tên Trần Bá Lộc mỉm nụ cười có vẻ xu nịnh nói – Ví như tên Nguyễn Trung Trực vốn xuất thân là dân chài lưới, làm sao có cái nhìn như chúng tôi – cho nên dầu anh ta rất có tài đánh nhau – nhưng rốt cục anh ta chỉ là “người hùng cô đơn”, bởi triều đình Huế cố tình bỏ rơi anh ta, để giữ hoà khí với nước Pháp, thì liệu anh ta một mình có “bẻ nạng chống trời” được không?”. – “Trước đây – Đỗ Hữu Phương nói – hai con quan Kinh lược sứ họ Phan là Phan Tôn, Phan Liêm đã không nghe lời cha, nổi lên chống lại nhà nước Phú-lang-sa, nhưng khi gặp tôi – được ủy quyền của đô đốc La Grandière – phân tích cho họ rõ việc chống lại nhà nước Phú-lang-sa là một công việc điên rồ hy sinh vô ích, họ đã nghe ra và vui vẻ chấp nhận cộng tác với nhà nước Phú-lang-sa. Đó là thái độ thức thời của đám sĩ phu trong thời nước nhà ly loạn, chọn ngay cho mình một chỗ đứng để khỏi phải thiệt thân vô ích”. – “Nhưng dù sao cũng phải công nhận Nguyễn Trung Trực là một tướng giặc hết sức nguy hiểm – thiếu tá Ansart mỉm cười nói – Nghe nói ông ta xuất thân từ nghề chài lưới, không học qua một trường quân sự chánh quy nào, nhưng cách đánh của ông ta rõ ràng là cách đánh của một nhà chỉ huy quân sự có kinh nghiệm trận mạc, giành thắng lợi trọn vẹn với mức thiệt hại lực lượng rất ít, như trận đốt tàu Espérance bảy năm trước và nay là trận hạ thành Sơn Đá của Rạch Giá chỉ trong một đêm đã tiêu diệt hoàn toàn lực lượng phòng thủ, thu toàn bộ vũ khí. Đó là một chiến công không phải nhà chỉ huy quân sự Nam triều nào cũng làm được, dầu họ được đào tạo chánh quy có bài bản. Tôi cũng được đô đốc Ohier dặn dò là cố bắt sống được tướng Trực, chiêu dụ ông ta về cộng tác với nước Pháp. Đó là biện pháp tốt nhất như câu châm ngôn: “Cái biện pháp tốt nhất để tiêu diệt một kẻ thù là biến họ thành người bạn tốt của mình”. Còn không, phải tiêu diệt ông ta cho bằng được thì công cuộc bình định Nam Kỳ mới không còn ai cản trở đáng quan tâm nữa”. Chợt Ansart đưa ống nhòm cho Trần Bá Lộc: – “Hai ông quan sát đi, hình như bọn phiến loạn này đang muốn chặn đường chúng ta tiến xuống Rạch Giá đây kìa!” – Trần Bá Lộc xem xong đưa cho Đỗ Hữu Phương. Tên này xem xong đưa trả ống nhòm lại cho Ansart rồi hỏi: – “Chúng ta phải làm gì bây giờ, thưa thiếu tá?”. – “Bằng mọi giá chúng ta phải tiến xuống Rạch Giá phối hợp với đạo quân ngoài biển đổ vào tạo thành thế gọng kềm chiếm lại tỉnh này theo kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh”. Thiếu tá Ansart quay sang tên thượng sĩ thông tin đứng gần đó: – “Truyền lệnh chuẩn bị chiến đấu!”. Tên thượng sĩ rập chân đứng nghiêm nhận lệnh, rồi vung lá cờ đuôi nheo đánh tín hiệu cho các ca nô chở quân theo sau tàu chỉ huy. Bọn này sau khi nhận được lệnh triển khai lực lượng chiến đấu lập tức tản ra cặp sát hai bên mé kinh đổ quân lên bờ, tiến dọc theo bờ kênh hướng về phía Lục Dục…


 


 


            Ở phía biển Rạch Giá. Một đoàn tàu chiến giặc xuất hiện ngoài khơi. Ông Ky cùng các chỉ huy khác như quản Cầu, ông Tư, ông Miên, ông Ngàn đang họp. Ông Ky nhìn mọi người giọng xúc động: – “Tôi được anh Hai Trực giao nhiệm vụ cùng các anh em chiến đấu bảo vệ Rạch Giá. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, nhưng cũng hết sức vinh quang, từ khi triều đình nhu nhược thông qua Kinh lược sứ họ Phan đã dâng ba tỉnh miền Tây cho giặc Phú-lang-sa. Đó là nỗi đau và nỗi nhục mà dân Nam, trong đó có chúng ta, phải gánh chịu”. Ngừng một lúc, ông Ky nhìn mọi người rồi nói tiếp: – “Trong lúc anh em ta rèn luyện võ nghệ mong sao gặp được người anh hùng hào kiệt hết lòng vì dân vì nước, chúng ta nguyện sẽ theo chiến đấu dưới ngọn cờ đại nghĩa ấy, quyết không chịu làm người dân mất nước, để lũ xâm lược đè đầu cưỡi cổ. Chính anh Hai Trực là người anh hùng hào kiệt ấy. Và chúng ta đã theo anh Hai tiêu diệt thành Sơn Đá, bắt thằng Chánh Phèn phải đền tội. Chúng ta đã góp phần làm nên lịch sử đất Kiên Giang anh hùng thà “làm ngọc vỡ hơn làm ngói lành”. Thế nào lũ giặc Tây dương cũng sẽ trở lại chiếm Rạch Giá, vùng đất màu mỡ mà chúng đã lấy được trước đây không tốn một viên đạn. Và trách nhiệm của chúng ta là phải bắt giặc phải trả giá bằng máu khi chúng trở lại đất này và bảo vệ đồng bào tránh bị thiệt hại càng ít càng tốt. Các anh có ý kiến gì không?”. – “Anh Ba nói rất đúng, rất hợp với ý nghĩ của tôi – ông Miên mỉm cười – Bởi trước đây anh em luyện tập võ nghệ mong có ngày tiêu diệt kẻ thù cướp nước. Đang lúc chúng ta mong có được người dẫn dắt, thì may mắn thay, anh Hai Trực lại đến đúng lúc. Và chính ảnh đã chỉ huy anh em chúng ta tiêu diệt lũ giặc ở thành Sơn Đá lập nên chiến công có một không hai ở đất Kiên Giang này”. Ông Miên ngừng lại nhìn mọi người rồi nói tiếp: – “Không biết các anh em nghĩ sao chớ riêng tôi, tôi thấy đã quá đủ nếu trận chiến đấu tới chống bọn Phú-lang-sa trở lại chiếm đất này, tôi sẽ chiến đấu tới cùng, thà chết vinh hơn sống nhục. Nhưng trước khi chết – ông Miên mỉm cười – tôi cũng sẽ chém chết vài thằng giặc nữa rồi có chết tôi mới cam lòng”. – “Tôi cũng có ý nghĩ như anh Miên – ông Búp nói – Đời người ai cũng có một lần chết, ta phải chết sao cho xứng đáng để con cháu mai sau ở đất Kiên Giang này nhắc đến chúng ta với lòng kính trọng và noi theo gương chiến đấu chúng ta đứng lên đánh đuổi lũ giặc xâm lược ra khỏi bờ cõi nước Nam mình. – Ông Búp nhìn mọi người mỉm cười, nói tiếp – Lúc ấy ở dưới suối vàng chúng ta cũng thấy hả lòng hả dạ, phải không các ông?”. – “Đúng đó, ông Búp nói đúng đó – ông Ngàn vui vẻ nói – Trong núi ngàn năm cây sẵn có. Dưới đời trăm tuổi gẫm không ai. Chúng ta sanh ra ở đây, chính đất nước này đã nuôi sống chúng ta, dạy chúng ta biết đạo lý làm người. Khi lũ giặc đến đây cướp nước ta, bắt dân ta làm nô lệ, thì chúng ta bắt chúng phải trả bằng máu, chớ không thể để cho chúng không tốn viên đạn nào, một giọt máu nào mà vuốt râu, rung đùi toạ hưởng mọi huê lợi mà ông cha chúng ta hàng trăm năm trước phải đổ mồ hôi, xương máu mới tạo dựng nên để lại – ông Ngàn nhìn ông Ky – Anh Ba cứ phân công cho anh em đi, chúng tôi đã sẵn sàng hết rồi. Tôi nói vậy có đúng không anh em?”. – “Đúng quá!” – Tất cả hưởng ứng rầm rộ. Ông Ky nhìn mọi người bằng ánh mắt xúc động và tin tưởng: – “Các anh làm tôi xúc động trước tinh thần quả cảm, sẵn sàng chiến đấu đế giọt máu cuối cùng chống bọn giặc Tây dương sẽ chiếm lại Rạch Giá. Tấm gương hy sinh quả cảm đó muôn đời con cháu đất Kiên Giang sẽ noi theo để đánh đuổi bọn xâm lược bất kể chúng từ đâu tới, bảo vệ cho nhơn dân nước Nam mình được sống bình yên và hạnh phúc”. Ông Ky mỉm cười tự hào và tin tưởng: – “Vậy thì công cuộc chiến đấu dũng cảm để bảo vệ Rạch Giá đâu phải là cuộc hy sinh vô ích, phải không các bạn?”. – “Anh Ba nói phải lắm!” – Nhiều tiếng nói đồng tình vui vẻ của các ông Miên, Ngàn, Búp… làm không khí cuộc họp vui vẻ hẳn lên. Điều này làm ông Ky hết sức phấn khởi trong việc phân công chiến đấu cụ thể: – “Như vậy là anh em đồng tình nhứt trí với công việc được tôi thay mặt anh Hai Trực giao cho: Một là, anh Miên sẽ phụ trách chiến đấu ở thành Sơn Đá, quyết không cho lũ giặc Tây dương chiếm lại. Hai là, ông Tư chỉ huy ở trận địa bãi biển chống bọn đổ bộ, mỗi bước đi của chúng trên bãi biển Rạch Giá này phải trả bằng máu của chúng! Ba là các anh quản Cầu, anh Búp, anh Ngàn và tôi, chúng ta bố trí đánh giặc ngay trong thị xã Rạch Giá này, quyết không cho lũ giặc tiến vô đây như vô chỗ không người. Tôi phân vậy được chưa? Các anh có ý kiến gì khác không?” – Ông Ky nhìn mọi người chờ đợi, nhưng ông được đáp lại bằng những nụ cười và ánh mắt rạng rỡ của các chỉ huy nghĩa quân vốn là những người còn rất trẻ tuổi, chưa đến ba mươi, giàu lòng yêu nước. Khi chưa gặp Trực, họ cũng đã cùng nhau luyện tập võ nghệ ở nhà ông Lâm Quang Ky, sẵn sàng tập hợp dưới ngọn cờ đại nghĩa chống lại bọn Tây dương chiếm đóng Rạch Giá, nay đã có dịp họ bày tỏ tâm nguyện của mình đối với dân, với nước, sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì nghĩa lớn thì làm sao không vui cho được. – “Vậy thì cuộc họp giải tán! – ông Ba Ky nói và nhìn mọi người – Ai về lo phận sự nấy, kẻo không kịp”. Tất cả đứng dậy bước nhanh ra ngoài. – “Anh Cầu, anh ở lại tôi bàn thêm công chuyện với anh một chút”. Ông Ky nói với theo. Quản Cầu quay lại nở nụ cười: – “Anh Ba còn dặn gì thêm?”. – “Ngồi xuống đi, ta nói chuyện cho thoải mái một chút”. Ông Ba Ky kéo ghế ngồi trước. Ông Cầu cũng làm theo. Khi hai người ngồi đối diện nhau, ông Ba Ky nói: – “Trong số anh em lính mã tà ở lại theo ông Trực chiến đấu, anh là người chỉ huy của họ, anh đánh giá tinh thần chiến đấu của họ thế nào?”. – “Thưa anh Ba – Quản Cầu vẫn xưng hô kính trọng với ông Lâm Quang Ky – Đa số anh em trong đội lính mã tà đều xuất thân từ dân nghèo từ thời dưới quyền triều đình. Khi Rạch Giá bị giao cho người Phú-lang-sa cai quản, thì anh em lính bất mãn sự hèn yếu nhu nhược của triều đình, nhưng biết làm sao chống lại. Thôi thì vì miếng cơm manh áo họ đành phải cầm súng cho giặc”. Quản Cầu nhìn ông Ba Ky với ánh mắt phân trần thông cảm: – “Cho nên khi nghe tin ông Trực về hoạt động chống bọn Phú-lang-sa thì anh em trong đội mã tà là rất phấn khởi, sẵn sàng hưởng ứng khi có dịp. Và điều này anh Ba cũng biết, trong số này có Cai Tèo và Sáu Nhỏ, bọn giặc đều có nợ máu với gia đình hai anh này. Sau khi ông Trực hạ thành Sơn Đá giết Chánh Phèn thì trừ thằng đội Lượm, thằng Bảy Tiền chống lại. Chính tên Bảy Tiền bị Sáu Nhỏ bắn chết khi hắn chạy theo đội Lượm. Còn toàn bộ anh em khi nghe tôi báo tin họ đều ở lại theo nghĩa quân. Chỉ có mấy anh em nặng gánh gia đình trả súng xin về”. – “Nếu tinh thần anh em tốt như vậy thì đây là một thử thách lớn, anh em sẽ được chiến đấu bảo vệ Rạch Giá – ông Ba Ky nhìn quản Cầu nói tiếp – Khi tình thế bắt buộc phải rút lui thì Hòn Chông là điểm hẹn hội quân ở đó, anh nhớ chưa?”. – “Thưa anh Ba, tôi làm sao quên được lời dặn của – anh Ba mà tôi coi là quân lệnh, bằng mọi giá phải chấp hành” – Quản Cầu nói. – “Vậy là tốt rồi – ông Ba Ky nói tiếp – Anh trở về lo bố trí trận địa chuẩn bị chiến đấu ngay mới kịp. Có thể nay mai bọn giặc sẽ tấn công đó. Anh giao nhiệm vụ cho Sáu Nhỏ làm liên lạc giữa anh với tôi. Như vậy được không?”. – “Được quá đi chớ – Quản Cầu cười – Thằng đó nhỏ con chớ lanh lẹ lắm đó, anh Ba”. Quản Cầu vẻ mặt phấn khởi lui ra đi nhanh.


 


           


Ở trận địa Lục Dục.


            Trực đang hội ý với Tư Hội trong gian nhà lá của dân gần đập cản Lục Dục. Tư Hội nhìn Trực với ánh mắt yêu mến, mỉm cười nói: – “Từ khi anh em mình rời khỏi đồng ruộng đi chiến chinh chống lũ Tây dương cũng đã hơn bảy năm rồi. Thời gian qua mau quá. Tưởng đã yên hàn, hoá ra lại phải đánh cho chúng bươu đầu sứt trán nhiều nữa mới đã, phải không anh?”. – “Rồi nếu đời mình đánh không xong thì đời sau con cháu mình cũng sẽ đánh cho đến khi nước Nam mình sạch bóng quân thù mới thôi – Trực nói tiếp, giọng vui vẻ – Lịch sử nước ta từng ghi nhận cả ngàn năm bị bọn phong kiến phương Bắc đô hộ, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra tuy thất bại nhưng đều để lại con cháu đời sau nhiều bài học về lòng yêu nước, về cách đánh của một dân tộc nhỏ chống lại cường quốc lớn, và kết cuộc là bọn xâm lược phải rút chạy nhục nhã khỏi đất nước Việt Nam. Dân tộc Việt đã dạy kẻ thù phong kiến phương Bắc bài học lịch sử nhớ đời: “Chớ có đụng vào dân tộc Việt, một dân tộc anh hùng, đời ông cha họ chưa đuổi được giặc, thì đời con cháu họ sẽ làm được việc đó, dầu có phải hy sinh bao nhiêu xương máu. Cho nên sau đó, từ thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, đến gần đây nhứt là Quang Trung – Nguyễn Huệ đã thể hiện rõ bài học lịch sử anh hùng đó. Máu đổ ra bảo vệ Tổ quốc không bao giờ phí cả”. – “Nghe anh Hai nói tôi thấy phấn khởi quá – Tư Hội vui vẻ ra mặt nhìn Trực – Chính chúng ta đang dạy cho lũ Tây dương bài học lịch sử của dân tộc Việt chớ không phải là bọn quan lại của triều đình nhu nhược sợ chết, dâng đất, dâng thành cho giặc để mong được yên thân, mà nào chắc có được yên thân hay không. Lũ giặc Tây dương như con cọp đói, đã dâng hai miếng thịt ngon là Nam Kỳ lục tỉnh cho nó ăn rồi, liệu còn mấy miếng thịt ngon nữa là miền Trung, miền Bắc nó có tha cho không nhai hết hay không?”. – “Anh nói đúng. Lòng tham không bao giờ có đáy. Nhét bao nhiêu cũng không vừa. Chân lý đơn giản đó mà bọn quan lại triều đình không hiểu nổi thì thật là lạ và đau xót biết bao!”.


            Đúng lúc đó, một nghĩa quân ngoài chòi canh chạy vào báo: – “Anh Hai, anh Tư có tàu giặc xuất hiện”. – “Được rồi, để tôi ra coi – Trực nói với Tư Hội – Anh ra ngay chỗ ụ súng thần công lệnh cho anh em khi tàu giặc tới gần mới bắn. Sau đó anh tới chỗ anh em phục ở chiến lũy, bảo đề phòng bọn giặc tiến theo đường bộ dọc bờ kênh… Sau đó, cho anh em rút về Tà Keo. Anh nhớ chưa?”. – “Dạ nhớ, tôi đi đây!” – Tư Hội nói xong chạy ra ngoài. Trực cũng nhanh chóng chạy ra chỗ chòi gác.


            Đứng khuất sau ụ đất, Trực giơ ống nhòm – chiến lợi phẩm thu được của tên Chánh Phèn đồn Sơn Đá – nhìn về nơi báo có tàu địch trên kênh.


            Qua ống nhòm, Trực thấy tên thiếu tá nói chuyện gì đó với hai tên Việt gian đi theo là Trần Bá Lộc và Đỗ Hữu Phương, rồi ra lệnh cho tên thượng sĩ bên cạnh, tên này phất cờ ra hiệu chuẩn bị tấn công. Ầm! Ầm! Tiếng đại bác trên tàu chiến địch bắt đầu nhả đạn về phía cản đắp ngăn dòng kênh. Những cột khói trắng đột ngột dựng lên. Những cây đóng cọc cùng bùn đất bay rào rào trên hai bờ kênh. Cuộc chiến ở đập cản Lục Dục đã bắt đầu.


 


 


            Ở vùng biển Rạch Giá. Một đoàn tàu chiến giặc xuất hiện ngoài khơi. Những khẩu đại bác trên tàu chiến giặc cũng bắt đầu nã đạn vào trận địa, vào khu phố chợ Rạch Giá. Những cột khói đen bao trùm. Một số nhà phố bốc cháy. Ngọn lửa lan từ nhà này sang nhà khác phút chốc đã trở thành một biển lửa. Tiếng nổ lốp bốp của tre nứa, đồ đạc bằng gỗ trong đám cháy vang lên mỗi lúc một nhiều. Từ tiếng súng đại bác nổ đầu tiên đã khiến người dân khu phố í ới gọi nhau dọn đồ chạy ra bến sông xuống những chiếc tam bản, xuồng ba lá bơi dọc theo rạch ông Hiển, rạch Tà Niên tránh giặc. Ngoài vùng biển trước thị xã Rạch Giá, một số tàu thả xuồng đổ bộ chở đầy lính Pháp, ma ní, mã tà dùng dầm bơi vào bãi biển Rạch Giá. Ở xa trông chúng như đàn rùa bơi trên mặt nước biển…


            Ở một trận địa chiến lũy bố trí gần chợ Rạch Giá, quản Cầu nói với cai Tèo: – “Cậu cố chặn địch không cho chúng vào sâu trong chợ. Còn nếu gặp trường hợp bất khả kháng, cậu cho anh em rút về Hòn Chông, nơi hẹn gặp anh Hai Trực ở đó”. – “Anh yên tâm lo các mặt khác đi. Tôi sẽ cố hết sức chấp hành lệnh của anh – Cai Tèo mỉm cười nói – Được đánh giặc lúc này, tôi sướng lắm, vì có dịp trả thù cho tía và em gái tôi”. Quản Cầu nói với Sáu Nhỏ: – “Tôi đã nói với anh Ba Ky, chú sẽ làm liên lạc cho tôi với anh Ba. Nhớ chưa?”. – “Chuyện chỉ có vậy mà quên sao được, anh! Tôi có theo anh bây giờ không?” – Sáu Nhỏ hỏi. – “Sao lại không? – Quản Cầu cười – Làm liên lạc viên mà không ở bên người chỉ huy thì liên lạc với ai?”. – “Vậy tôi đi với anh quản, anh Hai Tèo nhá. Ta sẽ gặp lại nhau sau ở Hòn Chông”. Sáu Nhỏ nói xong chạy vội theo quản Cầu đang rảo bước nhanh về một chiến lũy khác của đơn vị mã tà ở gần đó.


 


           


Ở nơi sơ tán của vợ chồng cai tổng Ngươn vùng An Biên. Buổi sáng, cai tổng Ngươn ngồi uống nước trà với người chủ nhà bà con bên vợ của hắn ta. Câu chuyện của họ xoay quanh chuyện thời sự của Rạch Giá. – “Mấy hôm về đây tạm lánh ở nhà cậu, tuy không có chuyện gì xảy ra, nhưng lạy Chúa, tôi sốt ruột quá!” – Lão cai tổng nói. – “Nhưng anh Ba đâu có về Rạch Giá được ngay vì không biết bọn phiến loạn đang giở trò gì ở đó”. Người chủ nhà bà con bên vợ lão cai tổng nói. – “Cậu nghĩ coi, đang sống yên lành với chánh quyền mới của người Phú-lang-sa, bỗng nhiên bọn phiến loạn do tên Nguyễn Trung Trực cầm đầu ở đâu kéo về gây sự. Mà thật ra, tôi đã báo trước cho ông Chánh Phèn âm mưu đó của bọn phiến loạn, nhưng ông Chánh Phèn bỏ qua không nghe nên mới xảy ra cớ sự – lão cai tổng bỗng chuyển sang giọng ngậm ngùi – Nghe đâu, ôi lạy Chúa, lão Chánh Phèn cũng bị giết chết khi bọn phiến loạn đánh chiếm thành Sơn Đá. Rồi còn mấy vị sĩ quan nữa cùng với mấy tay thâu thuế cũng bị chặt đầu đóng cọc bêu giữa chợ. Thiệt là khủng khiếp!”. Lão cai tổng nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp: – “Không hiểu sao đến hôm nay không thấy người Phú-lang-sa đưa quân chiếm lại Rạch Giá, vùng đất màu mỡ này họ bỏ cho quân phiến loạn hay sao?”. – “Tui không nghĩ vậy. Làm sao họ bỏ được? – người chủ nhà bà con bên vợ cai tổng nói – Họ còn phải điều binh khiển tướng từ Sài Gòn – Gia Định, Vĩnh Long, An Giang hay nơi nào đó mà ta chưa biết, mới xuống được đây. Đánh giặc đâu có dễ, anh Ba!”. Đúng lúc ấy, gã em vợ cai tổng tên Bình chạy xộc vào nhà nói lớn, giọng phấn khởi ra mặt: – “Anh Ba ơi! Tàu chiến người Phú-lang-sa đã đổ bộ vào Rạch Giá sáng nay rồi!”. – “Đó, tui nói có sai đâu – gã chủ nhà vui vẻ nói – Người Phú-lang-sa, họ đâu có bỏ đất Rạch Giá này cho bọn phiến loạn được!”. Lão cai tổng làm dấu thánh giá, miệng lẩm bẩm: – “Ôi lạy Chúa, con mong sao mọi sự tốt đẹp, để con sớm trở về nhà”. – “Anh Ba yên chí! Chúng ta sẽ sớm trở về thôi – gã em vợ tên Bình mỉm cười nhìn mọi người – Bọn phiến loạn sẽ bị quét sạch trong vòng vài ngày. Đó là điều chắc chắn như đinh đóng cột! Tui nói rồi các anh xem có đúng không?”.


 


 


            Ông Ky cùng các chỉ huy khác như ông Ngàn, ông Tư, ông Miên, quản Cầu dẫn số nghĩa quân chạy ra các chiến lũy dựng tạm gần bờ biển, chuẩn bị đánh quân đổ bộ. Tiếng đại bác địch ngoài tàu chiến địch bắn vào vẫn nổ ầm ầm vào thị xã. Từng cột khói bốc lên đột ngột. Một chiếc xuồng chở gia đình dân khu phố gồm vợ chồng, con cái đang bơi trên sông thì một quả đạn nổ ngay chiếc xuồng. Một cột nước tung lên trắng xoá. Khi cột nước tan, chiếc xuồng cũng không thấy đâu nữa. Một vài chiếc mũ, quần áo, đồ chơi trẻ con trôi gập gềnh theo dòng nước đổ ra biển. Xuồng chở lính đổ bộ gồm có Pháp, ma ní, mã tà đã vào sát bãi biển. Từng chiếc dàn hàng ngang bắt đầu cho lính đổ bộ. Bọn lính cầm súng nhảy ra khỏi xuồng vừa lội trên bãi lầy, vừa nổ súng vào trận địa nghĩa quân.


            Phía trong chiến lũy, nghĩa quân cũng nổ súng đáp trả. Tiếng súng át cả tiếng sóng biển vỗ vào bờ. Một vài tên lính giặc hò hét chạy dẫn đầu đám lính đổ bộ, trúng đạn nghĩa quân ngã vật trên bãi biển. Nhưng bọn lính theo sau vẫn bị những tên sĩ quan chỉ huy hối thúc xông lên, vừa bắn xối xả, vừa tiến vào... Một nghĩa quân bắn xong, lục túi không còn viên đạn nào, anh ta hỏi ông Ky đứng gần đó: – “Súng hết đạn rồi, làm sao đây anh Ba?”. Ông Ky quay lại cau mày: – “Liệng mẹ nó đi! Chuẩn bị đánh giáp lá cà!”. Rồi với nét mặt hết sức căng thẳng, ông Ky thét lớn: – “Tất cả anh em chuẩn bị đánh giáp lá cà!”.


 


 


            Ở phía trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên. Bọn địch đã vượt qua đập cản Lục Dục tiến xuống Tà Keo. Đại bác trên tàu địch nã liên tục vào trận địa súng thần công của nghĩa quân bố trí gần cản. Một quả đạn nổ ngay ụ súng thần công. Một cụm khói trắng bốc lên đột ngột sau tiếng nổ lớn. Một số nghĩa quân trúng mảnh đạn hy sinh bên cạnh khẩu thần công chưa bắn được viên đạn nào…


            Trực đang đứng sau gốc cây quan sát. Bỗng chú bé Tâm chạy xộc vào, mặt mũi đẫm mồ hôi, hơi thở dồn dập: – “Anh Hai. Bọn giặc ngoài biển đã đổ bộ vào Rạch Giá. Anh Hai tính sao?”. – “Anh Ba Ky và mấy anh em ở đó ra sao rồi?” – Nét mặt Trực đầy vẻ lo lắng hỏi chú bé Tâm. Nhưng đáp lại, chú bé Tâm lắc đầu: – “Em cũng chưa biết. Khi em chạy lên đây báo tin cho anh thì ở đó các anh đã chuẩn bị đánh lớn với chúng nó rồi!”.


 


 


            Ở trận địa Rạch Giá. Một toán quân Pháp do một tên thiếu úy chỉ huy đang tiến về khu phố chợ. Theo sau là đám lính mã tà, ma ní. Trong số lính mã tà thấy có mặt tên đội Lượm, không hiểu bằng cách nào hắn lại theo được bọn lính đổ bộ vào đây. Toán quân địch này gặp phải cánh nghĩa quân do ông Tư chỉ huy ngoài bờ biển rút về. Một trận giáp lá cà diễn ra khi quân đổ bộ tiến vào khu phố thì đụng ngay nghĩa quân. Chưa kịp bắn phát súng nào, hai bên đã chạm mặt nhau bên con hẻm nhỏ. Ông Tư với thanh kiếm trong tay nhô ra khỏi bức tường đã nhanh chóng hạ gục tên thiếu úy dẫn đầu bằng một nhát chém mạnh, khiến hắn bị bất ngờ không kịp chống đỡ. Nhưng ông Tư chưa kịp lia kiếm vào tên Pháp đi sau thì ông đã bị một viên đạn vào ngực. Ông buông thanh kiếm, lảo đảo ngã gục. Một nghĩa quân vội nhảy lại xốc ông lên, toan cõng chạy lui về phía sau thì cũng bị một viên đạn vào đầu, cùng ngã vật với ông Tư. Cuộc chiến giáp lá cà không cân sức. Một số nghĩa quân chỉ hơn một chục rút từ trận địa bờ biển về đã quần nhau với hàng trăm tên giặc. Tuy giết được chúng một số, nhưng nghĩa quân cũng không còn sức chống đỡ. Một nghĩa quân bị thương vào đùi máu ra lênh láng, đang cố lết ra khỏi trận đánh, nhưng anh đã bị tên đội Lượm dùng lưỡi lê đâm suốt qua lưng… Cả toán nghĩa quân do ông Tư chỉ huy gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, sau khi gây cho địch một số thương vong khi giáp lá cà kể cả số nghĩa quân bị thương đều bị bọn lính Pháp, ma ní, mã tà đâm chém chết không sót một ai. Một số nhà khu phố nơi xảy ra trận đánh giáp lá cà đều bị giặc Pháp châm lửa đốt sạch…


            Một số lính Pháp, ma ní đổ bộ lên rạch Lăng Ông tiến về thành Sơn Đá. Tên trung úy Pháp cao lêu nghêu như cây sào, vừa vung vẩy khẩu súng lục vừa hò hét “Xung phong!” chạy lên dẫn đầu. Toán lính chạy theo sau vừa chạy vừa bắn. Nhưng chúng cũng bị hạn chế không thể tiếp cận thành Sơn Đá nhanh, bởi bắn xong lại phải nạp đạn do đó tiến độ bị chậm lại.


            Phía trong thành Sơn Đá. Ông Miên nói lớn với anh em nghĩa quân: – “Bọn giặc đang tiến về phía chúng ta. Đây là dịp anh em ta trả thù bọn cướp nước. Các anh em nghe lịnh tôi: Hãy nằm chờ giặc đến thật gần mới được phép nổ súng, gây cho chúng bị bất ngờ tưởng thành Sơn Đá này bỏ trống. Bây giờ tản ra ai về vị trí nấy chờ lịnh tôi, nghe rõ chưa?”. – “Dạ rõ!” – Tiếng hô đồng loạt của anh em nghĩa quân trước khi chạy về vị trí quan sát của mình chuẩn bị nổ súng. Không khí hết sức nặng nề, căng thẳng…


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


 


            

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »