tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18928469
24.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (13)


BÀN LẠI VỀ “MỘT CÁCH TIẾP CẬN
NHỮNG VẤN ĐỀ CỔ SỬ VIỆT
NAM


Để viết chuyên khảo “Về một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam” (talawas.org), hẳn tác giả Trương Thái Du phải bỏ ra không ít tâm lực. Bài viết chia làm 3 tiết nhưng tựu trung có hai phần: Một phần dùng kiến thức di truyền học chứng minh cội nguồn người Việt. Phần còn lại thì khai thác sách cổ nhằm minh định một số vấn đề trong cổ sử. Chúng tôi xin trao đổi cùng tác giả đôi điều.


I. Về việc sử dụng giả thuyết của Spencer Wells.


Ông Trương Thái Du viết: "Từ kết luận của Spencer Wells, tôi tính ra: cuộc di dân đầu tiên từ Phi châu diễn ra cách nay 60.000 năm. Đoàn người đi dọc vùng đồng bằng ven biển Nam Á, đến Đông Nam Á. Tại đây một nền văn minh đồ đá đã được hình thành. Từ 9 đến 12 ngàn năm trước, kiến tạo địa chất ở vành đai lửa Indonesia với sóng thần, đất sụt đã nhấn chìm trung tâm văn minh Tiền Đông Nam Á. Những cư dân còn sót lại sau thảm họa đã chia làm hai nhánh, nhánh thứ nhất đến châu Uc, nhánh thứ hai rẽ lên phía Bắc, rồi dừng lại khá lâu bên bờ Nam Trường Giang… Cuộc di dân thứ hai cũng từ châu Phi cách nay 45 ngàn năm. Họ đến Trung Đông, từ Trung Đông hai phân nhóm đã hình thành tiến vào An Độ và vùng tây bắc Trung Hoa." Và "Phân nhánh của đoàn di dân tiến vào trung lưu Hoàng Hà bằng hành lang Cam Túc, xây dựng nền văn minh tạm gọi là Hoa Hạ."


Cảm thấy không yên tâm với "tính toán" của tác giả, chúng tôi đọc tài liệu ông dùng để tham khảo. Tiếc thay, đó không phải công trình trọn vẹn mà chỉ là bài điểm sách giới thiệu giả thuyết của Spencer Wells nhan đề Tư liệu truy tìm phả hệ con người (Documentary Redraws Humans' family Tree) do phóng viên Hillary Mayell viết cho tạp chí National Geographic News số ra ngày 21/3/2003. Đoạn văn bản mà tác giả Trương Thái Du sử dụng nguyên dạng như sau:


" Wells says his evidence based on DNA in the Y-chromosome indicates that the exodus began between 60,000 and 50,000 years ago. In his view, the early travelers followed the southern coastline of Asia, crossed about 250 kilometers [155 miles] of sea, and colonized Australia by around 50,000 years ago. The Aborigines of Australia, Wells says, are the descendants of the first wave of migration out of Africa…"


Và:


" Wells says a second wave of hominids left Africa around 45,000 years ago, reproduced rapidly, and settled in the Middle East; smaller groups went off to India and China."


Tạm dịch: " Wells nói, bằng chứng của ông dựa vào DNA của nhiễm sắc thể Y(Y-chromosome) cho thấy cuộc di cư bắt đầu khoảng 60.000 đến 50.000 năm trước. Theo ý ông, những người ra đi đầu tiên đã theo bờ biển Nam Á, vượt qua 250 km dđường biển (155 dặm) và định cư ở châu Uc vào khoảng 50.000 năm trước. Wells nói, thổ dân Uc là con cháu của làn sóng di cư đầu tiên từ châu Phi."


Và: "Wells nói, làn sóng thứ hai của loài người rời châu Phi 45.000 năm trước, sinh sản mau lẹ và định cư tại Trung Đông; một vài nhóm nhỏ hơn tới An Độ và Trung Quốc."


So sánh đoạn văn của ông Trương với bản tiếng Anh, chúng tôi thấy có sự mâu thuẫn:


1. Theo S. Wells: "những người ra đi đầu tiên đã theo bờ biển Nam Á, vượt qua 250 km đường biển (155 dặm) và chiếm châu Úc vào khoảng 50.000 năm trước." Có nghĩa là đoàn người chỉ đi theo tức là đi lướt qua bờ biển Nam Á rồi vượt biển đến Uc. Không hề có chữ nào nói tới việc dừng lại ở Đông Nam Á.


Wells nói người hiện đại định cư ở châu Úc 50.000 năm trước, trong khi đó ông Trương rút lại còn từ 9 đến 12000 năm. Như vậy "tính toán" của ông Trương đã mâu thuẫn với tư liệu ông tham khảo.


2.Bản tiếng Anh viết: làn sóng thứ hai tới định cư tại Trung Đông, một nhóm nhỏ hơn đến Ấn Độ và Trung Quốc.


Nhóm nhỏ ấy là ai, thuộc tộc người nào? Không thỏa mãn với khái niệm không xác định một nhóm nhỏ, chúng tôi đã tìm hết bài viết, mong biết thêm về cái nhóm nhỏ đó nhưng không có! Vậy họ là ai?


Trước đây có giả thuyết cho rằng cộng đồng nói tiếng Altaic sống ở bắc Trung Quốc là quần thể từ Trung Đông sang. Nhưng thành tựu mới nhất của công nghệ gene đã bác bỏ điều này.


Xin dẫn ý kiến của một nhà di truyền người Mỹ gốc Hán, G.s Chu trong công trình


Genetic relationship of population in China, một khảo cứu trực tiếp về quan hệ di truyền của người Hán:


The northern populations were under strong genetic influences from Altaic populations from the North. But it is unclear how Altic populations migrated to Northeast Asia. It is possible that ancestral Altic pop. Arrived there from middle Asia, Or alternatively they may have originated from East Asia."


Và:


"Therefore, it is likely that ancestors of Altic speaking people originated from an East Asia population that was originally derived from South Asia, through the current Altaic-speaking population undeniably admixed with later arrivers from mid-Asia and Europe.(1)


Tạm dịch:


"Những cộng đồng miền bắc mang đậm ảnh hưởng di truyền của những chủng Altaic từ phía Bắc. Nhưng không rõ người Altaic đã tới Đông Bắc Á bằng cách nào. Có thể là tổ tiên người Altaic đến từ Trung Á, hoặc cũng có thể họ có nguồn gốc từ Đông Á."


Nhưng ở đoạn sau, ông nói cả quyết:


"Như vậy, có phần chắc là tổ tiên của người nói tiếng Altaic bắt nguồn từ một cộng đồng Đông Á mà cộng đồng này lại từ Nam Á đi lên, mặc dù không thể phủ nhận là về sau cộng đồng nói tiếng Altaic này có sự hòa huyết với những người từ Trung Á và châu Âu tới."


Cái "nhóm nhỏ hơn đến Trung Quốc" ấy không phải người Altaic. Vậy phải chăng họ là nhóm Mongoloid phương Bắc mà ông Trương cho là người Hoa Hạ? Sự thực, nhóm này không phải từ Trung Đông sang mà cũng từ Đông Nam Á đi lên. Trong một nghiên cứu trên 150 mẫu của 7 nhóm người châu Á, Ballinger S.W cho rằng người châu Á có nguồn gốc từ dân Mông Cổ phương Nam.(1)


Những nghiên cứu trên cho thấy, cái nhóm nhỏ hơn tới Trung Quốc trong phát biểu của S. Wells không dính dáng gì đến cư dân Trung Quốc ở thời điểm chúng ta đang bàn!


Từ giả thuyết chưa được kiểm chứng của tài liệu tham khảo, ông Trương đã "tính toán" đưa ra nhận định không phù hợp với thực tế, quả là việc làm chủ quan khinh suất.


Trên thực tế thì sự việc thế này: phát biểu của S. Wells một phần còn là giả thuyết đang được tranh cãi (Bài điểm sách có dẫn nhiều ý kiến tranh luận với ông.) Thêm nữa, công trình của S.Wells mang tính đại cương (General genetic), như nhan đề nói rõ truy tìm phả hệ loài người. Sử dụng công trình của S. Wells để có cái nhìn khái quát về nguồn gốc người hiện đại thì được, còn dùng nó để khảo sát một chủng người cụ thể sẽ là bất cập vì không đủ độ tin cậy.


Với một vấn đề lớn và còn mới mẻ như nguồn gốc người Việt, không thể chỉ dùng một tài liệu tham khảo duy nhất. Đặc biệt khi giả thuyết đó quá tổng quát, ở tầm vĩ mô, lại đang nằm trong tranh luận. Như vậy là, khi dùng giả thuyết của S.Wells làm nền tảng cho khảo cứu của mình, ông Trương Thái Du mắc sai lầm thuộc về phương pháp luận.


II. Về việc khai thác thư tịch cổ


Trong khi chưa quan tâm đủ tới những tư liệu khoa học hiện đại thì có vẻ như ông Trương để nhiều công sức cầy xới nguồn thư tịch cổ. Tuy ít ỏi nhưng thư tịch cổ tàng chứa biết bao thông tin quý mà mỗi ngày hình như con người giải mã thêm được điều gì đó. Đóng góp của ông Trương trong bài viết là tìm đến tận nguồn khái niệm Giao Chỉ và đưa ra những kiến giải thuyết phục. Tuy không mới nhưng ông cũng mạnh dạn nêu lại vấn đề nhân thân của Bà Trưng: ông Thi, việc Bà bị giết… Điều này nhắc với dân chúng cùng những nhà viết sử là, lịch sử không thể không sáng tỏ!


Nếu cứ theo cách làm cẩn trọng ấy thì hẳn với tuổi tác của mình, ông còn thời giờ để phát hiện ra nhiều điều đáng giá. Tiếc rằng trong bài viết, phải chăng vì nóng vội muốn đốt cháy giai đoạn, xong mọi việc ngay một lúc, ông đưa ra không ít suy luận có phần vội vàng thiếu sở cứ.


1. Thử hỏi, dựa vào đâu ông viết: "Từ 9 đến 12 ngàn năm trước, kiến tạo địa chất ở vành đai lửa Indonesia với sóng thần, đất sụt đã nhấn chìm trung tâm văn minh Tiền Đông Nam Á?” Chưa thấy tài liệu nào nói sóng thần, đất sụt nhấn chìm văn minh tiền Đông Nam Á. Không thể có những tài liệu như thế vì làm gì có chuyện sóng thần đất sụt kéo dài hàng nghìn năm? Lịch sử khí tượng Trái đất chỉ ghi nhận cuộc biển tiến bắt đầu 18.000 năm và đỉnh cao là 12 đến 8000 năm trước, nhấn chìm đồng bằng Sundaland và Nanhailand mà S. Oppenheimer mô tả rất sinh động trong cuốn Eden in the East.


2. Xin mạo muội lưu ý ông rằng, khái niệm Hoa Hạ do ông đưa ra không phù hợp với từ Hoa Hạ trong quan niệm truyền thống. Theo ý ông thì, người Hoa Hạ là tộc người từ Trung Đông sang định cư ở Cam Túc, Thiểm Tây. Đấy là ngộ nhận kéo dài suốt thế kỷ trước và đã bị bác bỏ. Còn trong quan niệm truyền thống, những người Hoa Hạ tạo nên thời Đường Ngu, rồi được kế tiếp bằng nhà Hạ, mà Hạ Vũ là người Miêu Việt. Tiếp theo là nhà Thương. Thành Thang, ông vua đầu tiên của Trung Quốc là người mang gene châu Phi đen từ Đông Nam Á đi lên, cả đến Lão tử cũng vậy. (The Shang, for example, China's first dynasts are described as having "black and oily skin". The famous Chinese sage Lao-Tze was "black in complexim". (Los Angeles Times, September. 29. 1998) (Thang, ông vua đầu tiên của Trung Hoa được mô tả là có nước da đen bóng. Triết gia nổi tiếng Lão tử cũng có màu da đen). Cố nhiên ta phải hiểu rằng, những vị này không còn là nguyên chất Negritoid Đông Nam Á mà đã qua nhiều đời hòa huyết với chủng da vàng Mongoloid phương Bắc từ Thiểm Tây, Cam Túc xuống. Người Hoa Hạ là người lai Mông- Việt, được gọi là chủng Mongoloid phương Nam.


3. Ông Trương viết: "Nhà nước Văn Lang sơ khai của người Lạc Việt được hình thành tại Động Đình Hồ (Hồ Nam Trung Quốc) khoảng năm Nhâm Tuất 1199. Các vua Hùng cuối cùng trong số 18 vua Hùng đã chạy giặc Sở xuống đồng bằng Tây Giang, Quảng Tây, Trung Quốc và dựng lại phiên bản nhà nước sơ khai như Văn Lang Động Đình Hồ là Văn Lang Tây Giang… Không ít cư dân Văn Lang Động Đình Hồ tiếp tục di chuyển xuống đồng bằng sông Hồng trước và sau thời điểm 179 TCN "


Thật khó bàn luận chuyện này bởi nhận định trên chỉ là phỏng đoán mâu thuẫn với thực tế. Khi phát hiện di chỉ Mán Bạc ở Ninh Bình, đầu năm 2005, tiến sĩ Marx Oxenham của Đại học Quốc gia Úc ghi nhận: "Người Việt từ trước thời Đá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu (Nam Đảo) hay Đa đảo Melanesian, nhưng người Việt từ thời Đồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Đông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hòa giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt Nam hiện thời, vốn đã từng ổn định khoảng 2000 năm TCN."(1)


Phát hiện này không mới, nó chỉ khẳng định những nghiên cứu trước đó cho rằng, hơn 2000 năm TCN, người Việt mới (chữ Việt với bộ Tẩu- những người Bách Việt hòa huyết với người Hán chuyển thành nhóm loại hình Đông Nam Á) bị người Hán xua đuổi, đã trở về quê cũ cộng cư với người Việt gốc (Việt bộ Mễ- Indonesien, Melanesien), làm chuyển hóa hầu hết dân cư Việt Nam sang loại hình Đông Nam Á. Trong việc di cư này không chỉ có hình thức "cuốn chiếu" tiệm tiến theo đà truy đuổi của người Hán mà có cả hình thức nhảy vọt: người Việt sống ở phía nam Hoàng Hà sau những trận kịch chiến với kẻ xâm lăng đã dông thuyền ra khơi trở về nơi xuất phát cũ là miền Trung Việt (rào Rum, ngàn Hống). Chính những người này dựng lên nhà nước Văn Lang. Ký ức dân gian ghi nhớ rằng Lạc Long quân cùng bầu đoàn tới vùng sông Lam, núi Hồng dựng kinh đô đầu tiên nói lên cuộc hải hành này. Như nhiều sách chép, cương vực Văn Lang vươn tới Động Đình Hồ nhưng trung tâm của nó là trung du Bắc Bộ. Số lượng lớn trống đồng tinh xảo tập trung ở đây cùng với đô thị Làng Cả chứng minh Việt Trì là trung tâm của Nhà nước Văn Lang. Việc ông Trương Thái Du phủ nhận Nhà nước Văn Lang đóng đô ở Việt Trì là giả thuyết không có cơ sở.


4. Ông Trương viết: "Tôi nghĩ có một nhánh nhỏ người Tây Âu Lạc ra đi bằng thuyền đã ghé bờ biển Trung Bộ Việt Nam. Họ trở thành hạt nhân của nền văn minh Chàm…" Suy nghĩ đó không mới bởi từ lâu sử sách ghi nhận rằng nhóm Việt này từ Thiên Sơn xuống, định cư từ cửa sông Thanh Giang tới cửa sông Trường Giang(2). Đấy là hệ quả của thuyết E. Aymonier đầu thế kỷ: Người Việt từ Tây Tạng xuống theo ngọn sông Trường Giang! Trong khi đó, những phát kiến mới nhất về di truyền học cho thấy ngược lại: Người Chăm cũng như người Việt cổ là người bản địa Việt Nam, thuộc chủng Indonesien, Vedoid, là chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh. Từ đây, tổ tiên người Chăm đi xuống các đảo ngoài khơi như Mã Lai, Indonesia. Trong hành trình Bắc tiến, tổ tiên người Chăm cùng những dòng Việt khác từ đất Việt Nam đi lên phương Bắc. Khoảng thiên niên kỷ thứ III TCN do người Mông Cổ chèn ép đã trở lại Việt Nam. Trong khi người Việt trở về với dân Việt ở đồng bằng trung du Bắc Bộ thì người Chăm trở lại quê cũ miền Trung. Cố nhiên có những nhóm đi xa hơn, tới Indonesia, Malaysia… Sự chuyển hóa di truyền của người Chăm từ Vedoid sang nhóm loại hình Đông Nam Á trên toàn địa bàn Đông Nam Á chứng tỏ điều này.


5. Ông Trương còn viết: "Chiếu theo bản chất của danh xưng "Vua Hùng" thì bà Trưng Trắc chính là vị Vua Hùng đầu tiên và cũng là cuối cùng của vùng đồng bằng sông Hồng."


Không hiểu căn cứ vào đâu mà ông Trương Thái Du khẳng định như vậy. Nếu luận lý theo logic thì thế này: thời Hai Bà Trưng là thời của văn tự. Mọi chuyện xảy ra đều được ghi chép. Có thể nảy sinh huyền thoại về sự tuẫn tiết của Bà cùng những vị tướng khác nhưng không thể nào nảy sinh huyền thoại về các vua Hùng ở thời điểm này. Huyền thoại Hùng vương chỉ có thể nảy sinh từ huyền sử. Đúng là thời Hùng vương mang nhiều sắc thái huyền thoại nhưng Nhà nước Văn Lang Phong Châu là có thực, tuy người ta đoán rằng còn là hình thức liên bộ lạc, vua chỉ mang nghĩa tượng trưng như một tù trưởng của liên minh bộ lạc. Phát hiện rồi chứng minh thời Hùng vương dựng nước cùng văn hóa Đông Sơn là thành quả xuất sắc của khảo cổ và lịch sử Việt Nam, được bạn bè thế giới cùng nhiều trí thức người Việt ở nước ngoài thừa nhận. Ý tưởng phủ định thời Hùng vương của ông Trương không thuyết phục vì thiếu chứng cứ.


Suốt thời gian dài, các nhà sử học của chúng ta phải giải bài toán hóc búa hai ẩn số: Vừa tìm nguồn gốc người Việt, vừa phải tìm lịch sử dân tộc. Do vậy những sai sót, ngộ nhận là dễ hiểu. Nhưng may mắn, từ cuối năm 1998 khi các nhà khoa học tham gia Dự án Đa dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) công bố kết quả nghiên cứu, chúng ta đã có lời xác nhận khả tín về nguồn gốc người Việt.


Ẩn số quan trọng nhất của bài toán được khám phá: Người Việt là sắc tộc có mặt sớm nhất ở Đông Á, đã từ Việt Nam lên khai phá đất Trung Hoa. Khi bị người Hán chiếm đất, một phần ở lại xây dựng nước Trung Quốc, một bộ phận trở về nơi phát tích cũ cùng người Việt tại chỗ xây dựng nước Văn Lang.


Nếu trước đây chúng ta chỉ biết tới lịch sử 4000 năm Nam tiến (thực chất là cuộc hồi hương về nguồn!) thì bây giờ, ta biết được lịch sử 40.000 năm Bắc tiến: Tổ tiên ta là người chủ đầu tiên của đất nước Trung Hoa! Lần theo sợi chỉ đỏ này, chúng ta có chìa khóa giải mã những trang sách, những hiện vật khảo cổ, những nghiên cứu xã hội học… Một thời gian và địa bàn mênh mông cho khám phá.


III. Điều mong mỏi


Hình như có ai đó viết trên mạng talawas.org, đại ý: "Người Việt Nam nào cũng là nhà Việt học!" Ngẫm ra, ẩn trong bề ngoài khôi hài, ý này không phải hoàn toàn là sự đùa bỡn. Là con dân của dân tộc có một lịch sử quá nhiều đau khổ mất mát, bị đánh cắp, bị cướp đoạt, bị hủy hoại… đến nỗi không biết tổ tiên là ai! Vì vậy, mỗi người Việt có suy nghĩ đều mong tìm về nguồn cội, đều muốn viết lại cuốn sử của dân tộc. Do lẽ đó, không ít người đọc qua ít cuốn sách, ít bài báo, "ngộ" ra điều gì tâm đắc đều muốn phô cho đồng bào mình hay. Cố nhiên trong những người nóng rẫy nhiệt tình đó, không khỏi có người nông nổi vội vàng, khảo ít mà biên nhiều; lý ít mà luận nhiều… khiến cho những vấn đề cổ sử Việt Nam ngày thêm rối rắm. Những "nhà Việt Nam học" của chúng ta giống như thày bói xem voi trong truyện ngụ ngôn và chúng ta thành dân Babel càng nói nhiều càng không hiểu nhau…


Mong sao những nhà có tri thức có tâm huyết về việc này liên hệ với nhau lập ra một diễn đàn do những người có uy tín có kinh nghiệm chủ trì để cho những người biết chuyện biết việc phát biểu, bàn thảo không tràn lan mà dứt dạt từng chủ đề. Khoảng hai năm một lần tổ chức hội thảo nhỏ, năm năm một lần tổ chức gặp gỡ lớn để "chung khảo" công bố những phát kiến mới. Sau đó tiến hành in bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Hoa…. Nếu ta trì chí làm như vậy, chắc sẽ có những thành tựu. Mong thay!


BÀN LẠI VỚI TRƯƠNG THÁI DU


Nói thêm về đàn Nam Giao(1) là bài khảo cứu công phu, đáng trân trọng. Không chỉ tra cứu sách vở mà người viết bằng thực nghiệm, đưa ra ý kiến của riêng mình, minh chứng cho di tich Dào Tự chính là đài thiên văn cách nay 4100 năm. Cũng từ đây cho ta cơ sở để tin vào giả thuyết chuyển dịch vị trí của địa danh Giao Chỉ mà tác giả đề xuất từ một bài viết trước.


Nếu chỉ dừng lại ở đây thì bài viết là công trình khoa học có giá trị, có đóng góp cho nhận thức về văn hóa tiền sử phương Đông.


Đáng tiếc là ở những câu kết luận, tác giả viết:


- Nhìn trên bản đồ tỉnh Sơn Tây, nơi có di chỉ Đào Tự, ta thấy phát tích của văn hóa Hoa Hạ nằm hoàn toàn ở phía Bắc sông Hoàng Hà. Các triều đại sau thời Nghiêu, Thuấn đã Nam tiến vượt sông Hoàng Hà vào Trung Nguyên.


Như vậy có quá đáng không nếu xuất hiện yêu cầu tái thảo luận cổ sử Việt Nam nói riêng, cổ sử vùng đất từ sông Dương Tử trở xuống nói chung.


- Đàn Nam Giao Đào Tự là bằng chứng hết sức khoa học và vững chắc đả phá luồng giả thuyết “quá mù sa mưa”, đi từ tự ti qua tự hào khôi hài, của một số nhà khảo cứu Việt Nam gần đây: họ dựa vào các sách vở tài tử kiểu “Địa đang phương Đông” cũng như các nghiên cứu di truyền sơ khởi để an ủi nhau: “Tổ tiên người Việt Nam đã di cư lên phía Bắc, cụ thể là khu vực Trung Nguyên và xây dựng văn hóa Trung Hoa cổ.”


Những khái quát vội vàng thiếu sở cứ như trên khiến cho bài viết mất đi tính nghiêm túc khoa học.


Chúng tôi xin góp với tác giả đôi lời.


1. Trước hết, xin được nói rằng “Địa đàng ở phương Đông” (Eden in the East) hoàn toàn không phải là sách vở tài tử mà là công trình khoa học lớn, có ý nghĩa cách mạng đối với tiền sử Đông Á cũng như thế giới. Sau thời kỳ dài bá quyền của quan điểm cho rằng văn minh nhân loại chuyển dịch từ Tây qua Đông, những ý tưởng về sự chuyển dịch văn hóa từ Đông sang Tây đã được một vài tác giả đề cập trong những công trình riêng lẻ. Stephen Oppenheimer bằng việc khảo cứu về di truyền học, ngôn ngữ học, folklore của chính mình, là người đầu tiên vẽ lên bức tranh hoành tráng và thuyết phục về quá trình chuyển dịch văn hóa Đông- Tây. Từ công trình của ông, bản đồ văn hóa tiền sử của nhân loại được vẽ lại. Và chính công trình của ông đã trang bị cho khoa học những công cụ sắc bén khi lý giải những hiện tượng nhân chủng học, văn hóa, lịch sử học mà trước đó chưa có câu trả lời thỏa đáng. Riêng với những vấn đề về nhân chủng, văn hóa, lịch sử Đông Nam Á, công trình của S. oppenheimer có đóng góp rất quan trọng. Có thể nói ông là người xóa bỏ quan niệm của chủ nghĩa thực dân, trả lại cho Đông Nam Á quá khứ văn hóa rực rỡ của mình. Nhân loại nói chung, đặc biệt là nhân dân Đông Nam Á mang ơn ông rất nhiều.


Nhận định về một nhà khoa học lớn, nhà nhân văn lớn có công với Đông Nam Á nói chung, đặc biệt là Việt Nam nói riêng, bằng những lời khinh suất như trên là điều đáng tiếc, không nên có ở một người nhập môn nghiên cứu khoa học nhân văn.


2. Điều thứ hai tôi muốn nói là câu: Cũng như các nghiên cứu di truyền sơ khởi để an ủi nhau: “Tổ tiên người Việt Nam đã di cư lên phía Bắc, cụ thể là khu vực Trung Nguyên và xây dựng văn hóa Trung Hoa cổ.”


Xin hỏi tác giả Trương Thái Du: Thế nào là các nghiên cứu di truyền sơ khởi? Đọc câu này, tôi hiểu tác giả có vấn đề về phương pháp luận. Tác giả không tin vào công nghệ gene đồng thời cũng cho rằng, những nghiên cứu di truyền về nhân chủng Đông Á chưa đáng tin cậy! Một câu hỏi phải được đặt ra: vậy vì sao trong bài viết “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam(1)”, chính tác giả lại lấy duy nhất bài báo điểm công trình của Spencer Wells làm cơ sở cho những ý kiến của mình về quá trình di cư của người tiền sử tới Đông Nam Á? Việc không nhất quán này chứng tỏ sự thiếu hụt chuyên môn của người viết. Trong bài bàn lại với tác giả trước đây, tôi đã nói: “Không thể lấy một công trình thuộc dạng Di truyền học đại cương (General genetic) như của Spencer Wells để giải quyết những trường hợp nhân chủng cụ thể của từng sắc dân Đông Nam Á.” Trong vấn đề cụ thể này, rất may, người Trung Quốc cùng các nhà khoa học Hoa Kỳ đã giúp ta bằng Dự án Đa dạng di truyền người Trung Quốc (Chinese Human Genome Diversity Project), một công trình thực nghiệm tại những phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới, được xử lý bằng toán xác suất thống kê, đảm bảo tính chính xác toán học. Cả thế giới chưa ai phản bác công trình này. Nghi ngờ công trình nghiên cứu này, chỉ có thể là người bảo thủ đến tận cùng hoặc là chưa có kiến thức tối thiểu về di truyền học.


Một câu hỏi khác: tại sao tác giả lại tự mâu thuẫn đến vậy trong hai bài viết? Bài trước thì xái cổ tin như thánh chỉ vào một dẫn chứng không phù hợp để đưa ra những nhận định nông nổi. Bài sau lại đả phá mọi thành tựu của di truyền học, cho nó là ban đầu, là sơ khởi, không đáng tin! Với đầu óc hiểu biết khoa học thì Trương Thái Du không sử dụng công trình của S.Wells cho lập luận của mình nhưng không thể không tin những dòng này: “Ngày 29.9.1998 Jin Li thông báo một tin chấn động giới khoa học tại Washington: " Công trình của chúng tôi cho thấy, con người hiện đại trước hết đã đến Ðông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa." "Từ Trung Ðông men theo bờ Ấn Ðộ Dương, ngang qua Ấn Ðộ đến Ðông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ." ["Our work shows that modern humans first came to Southeast Asia and then move late to Northern China." "...from Middle East, following the Indian Ocean coatline across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and eventually the Americas" (Los Angeles Times 29.9.1998)].


Chính công trình này đã mở con đường mới khám phá lại thời tiền sử Đông Á: xóa bỏ con đường phương Tây, khẳng định con đường phương Nam của người tiền sử đến Đông Á. Chính công trình này đã ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết của Stephen oppenheimer. Nếu không có những phát hiện di truyền học này, thì việc nghiên cứu giai đoạn tiền sử Đông Nam Á sẽ rị mọ dẫm chân tại chỗ!


Tin tất cả hay không tin gì cả không chọn lọc là biểu hiện sự khủng hoảng tri thức.


3. Về câu: Như vậy có quá đáng không nếu xuất hiện yêu cầu tái thảo luận cổ sử Việt Nam nói riêng, cổ sử vùng đất từ sông Dương Tử trở xuống nói chung?


Lịch sử là văn bản do sử gia viềt ra rồi sau đó không ngừng được viết lại. Với lịch sử nói chung đã vậy, còn với tiền sử của Việt Nam và vùng nam Dương Tử lại càng phải viết lại!


Nói nghiêm túc, cho đến nay chúng ta chưa có cuốn sử chân chính về thời tiền sử của mình. Đó là lịch sử bị áp đặt từ các sách cổ Tàu cùng sử gia thực dây Tây. Tôi vô cùng trân trọng từ một dòng chữ nhỏ trong cổ thư nhưng tôi không chấp nhận để sách cổ trở thành những ngục chữ giam hãm dân tộc trong vòng ngu dân, nô lệ! Những công trình nghiên cứu của C. Sauer, G. Sholeim II, S. Oppenheimer, Y. Chu, Jin Li… là những cánh cửa mở cho chúng ta thoát khỏi tình trạng u mê tăm tối trước đây, giúp ta nhận chân ra lịch sử thực sự của mình để viết những trang sử mới. Tôi nghĩ, nhiệm vụ thế hệ chúng ta không chỉ viết lại lịch sử của Việt Nam, của vùng nam Dương Tử mà thực sự đã bắt đầu viết lại lịch sử của cả vùng đất ngày nay có tên là Trung Quốc.


4. Về câu: “Đàn Nam Giao Đào Tự là bằng chứng hết sức khoa học và vững chắc đả phá luồng giả thuyết “quá mù sa mưa”, đi từ tự ti qua tự hào khôi hài, của một số nhà khảo cứu Việt Nam gần đây”


Với tinh thần khoa học nghiêm túc, sau khi thực hành đo đạc, phát hiện niên đại của Đàn Nam Giao Đào Tự, nhà nghiên cứu chỉ có thể kết luận rằng: “Vào khoảng 2100 năm TCN, cư dân Đào Tự có nền văn hóa phát triển, thiên văn học đạt trình độ chính xác cao.” Vậy thôi, chấm hết! Mọi sự tán dương nào khác đều bất cập. Còn nếu muốn diễu cợt người khác: “đi từ tự ti qua tự hào khôi hài, của một số nhà khảo cứu Việt Nam gần đây: họ dựa vào các sách vở tài tử kiểu “Địa đang phương Đông” cũng như các nghiên cứu di truyền sơ khởi để an ủi nhau: “Tổ tiên người Việt Nam đã di cư lên phía Bắc, cụ thể là khu vực Trung Nguyên và xây dựng văn hóa Trung Hoa cổ,” thì cần nhiều công sức và trí tuệ hơn, hay nói theo chưởng thì cần công lực thâm hậu hơn!


Muốn vậy cần phải giải quyết hàng loạt câu hỏi hắc búa mà trước hết: Chủ nhân của di chỉ Đào Tự là ai?


Cho đến nay, những cuốn sử của nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới viết rằng: “Trước khi người Hán vượt Hoàng Hà chiếm đất của người Việt thì người Bách Việt đã từ ngọn nguồn sông Dương Tử di cư xuống, chiếm lĩnh toàn bộ 18 tỉnh của Trung Hoa.” Đấy là những dòng sử tiên tiến của thế kỷ XX. Nhưng nhà chèp sử không ngờ rằng đã sai ở điều cơ bản nhất: chiếm đất của Bách Việt không phải là người Hán bởi lẽ đơn giản: khi đó người Hán chưa ra đời! Chỉ sang thế kỷ XXI, với những thành tựu của công nghệ gene, người ta mới xác định được rằng, chiếm đất Bách Việt là chủng Mongoloid phương Bắc, những người cũng từ Đông Nam Á đi lên. Chiếm đất Bách Việt, người Mogoloid phương Bắc đã hòa huyết với người Bách Việt chủng Indonesien, Melanesien, tạo ra chủng Mongoloid phương Nam. Đây chính là lớp dân cư được sinh ra ở thời Hoàng Đế rồi nhanh chóng trở nên thành phần đa số thời Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Hạ, Thương, Chu, Tần. Tới khi nhà Hán lên ngôi, được gọi là người Hán. Tại sao ngay sau ông vua mang tên Mông Cổ Hoàng Đế họ Hiên Viên lại nhà những vị vua mang tên Việt: Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn? Sử gia Trung Hoa chưa bao giờ trả lời câu hỏi này! Phải chăng đó là những vị tài giỏi người Bách Việt được tôn xưng làm người đứng đầu liên minh bộ lạc? Rất có thể. Nhưng chắc chắn trong huyết quản những vị đế trên có hai dòng máu: Bách Việt và Mông Cổ! Họ chính là những Viêm Hoàng tử tôn! Đến Hạ Vũ vào khoảng 2100 năm TCN, có nghĩa là 500 năm sau trận Trác Lộc, sự hòa huyết Mông- Việt đã diễn ra nửa thiên niên kỷ. Lúc này dân cư Trung Nguyên đã hòa đồng, huề cả làng, chẳng còn đâu người thuần Việt kẻ thuần Mông để mà kỳ thị! Tiếc rằng đây là thời kỳ mù mờ trong huyền sử, không có ai ghi chép. Nếu như được ghi lại, loài người đã sớm có cuốn Bách Việt tiên hiền chí hai ngàn năm trước thời Minh…


Một khi Đế Nghiêu mang một phần máu Việt và thấm đẫm văn hóa Việt thì phải nói thế nào đây về vai trò người Việt trong việc tạo dựng văn hóa Trung Nguyên? Người Việt đi lên xây dựng văn hóa Trung Nguyên sau đó trở về dựng nước Văn Lang là có thực. Sự thực này không chỉ được chứng minh bằng hàng ngàn di chỉ khảo cổ ghi lại những bước chân Bắc tiến Nam hồi mà còn được ghi một cách chính xác toán học từ dòng chảy của nguồn gene thiêng liêng! Sự thực này không thể phủ định!


5. Tác giả Trương Thái Du viết: “Nhìn trên bản đồ tỉnh Sơn Tây, nơi có di chỉ Đào Tự, ta thấy phát tích của văn hóa Hoa Hạ nằm hoàn toàn ở phía Bắc sông Hoàng Hà.


Với điều này, cần nhiều nghiên cứu sâu rộng nhưng ở đây, tôi chỉ gợi những ý cơ bản:


Chỉ nhìn di chỉ Đào Tự mà cho rằng phát tích của văn hóa Hoa Hạ hoàn toàn nằm ở phía bắc sông Hoàng Hà quả là cái nhìn hời hợt và phiến diện.


Ở thế kỷ trước, bị chủ nghĩa Hoa tâm (Hoa-centrism) khống chế, những sử gia táo bạo nhất cũng chỉ dám cho rằng người Bách Viêt di cư tới phía nam Hoàng Hà. Việc thiếu vắng những phát hiện khảo cổ ở khu vực phía bắc cũng hạn chế tầm nhìn của sử gia. Ngay bản thân tôi, học theo những người đi trước, trong nhiều bài viết cũng thụ động cho rằng Hoàng Hà là giới hạn phân bố về phía Bắc của người Bách Việt. Đấy là quan niệm sai lầm cần tháo gỡ. Khi đã xác định được khoảng 30.000 năm trước, người Đông Nam Á đã tràn lên Siberia rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ thì việc cư trú của họ ở phía bắc Hoàng Hà hay cả Siberia là điều không lạ! Nên nhớ rằng, việc di cư này rất chậm chạp, không phải chuyện đàn vịt lội đồng, cũng không phải cuộc hành quân tốc chiến của các sư đoàn mà là cuộc di cư tự phát của từng nhóm người theo từng thời gian, từng khu vực khác nhau: đi cũng có nghĩa là sống! Vậy thì việc có những nhóm người định cư lại dọc đường cũng là bình thường. Trên vùng đất mênh mông giá lạnh ấy tự nhiên hình thành khu vực phân bố của dân nông nghiệp và dân du mục. Có thể vẫn có những chuyện lấn chiếm xung đột giữa những bộ lạc nhưng cho đến khoảng năm 2600 TCN, cuộc chiến tranh chíếm đất quyết liệt mới nổ ra, thay đổi hẳn vận mệnh của hai tộc người. Nếu Đào Tự được xác định là thủ đô của nhà Đào Đường thì đó chính là nơi đất thiêng trong cuộc tác hợp Mông- Việt: tại đây những tố chất của hai tộc người được kết tinh, khởi đầu bước phát triển rực rỡ mới cho văn hóa nhân loại. Tôn Ngộ Không đi mãi không ra khỏi bàn tay Phật Tổ. Ở đây, dù có tìm ra một di chỉ văn hóa nào nữa trên bờ Bắc Hoàng Hà thì đó cũng vẫn là của người Bách Việt! Hãy trở lại với Ngưỡng Thiều. Năm 1921, khi phát hiện ra di chỉ khảo cổ 6000 tuổi tại huyện Thằng Trì tỉnh Hà Nam, người ta đã eureka, cho đó là đặc sản Hán tộc, từ đây lan toả xuống Long Sơn rồi Đông Nam Á. Nhưng sau đó sự thật được xác minh: cả Ngưỡng Thiều, cả Long Sơn đều do trình độ thấp của Hóa Bình đi lên! Đáng chú ý hơn, không xa Ngưỡng Thiều bao nhiêu, tại di chỉ Bán Pha 2 tỉnh Thiểm Tây, người ta phát hiện trên bình cổ 12.000 năm tuổi một văn bản hoàn chỉnh(1). Đó chính là văn bản sớm nhất của nhân loại được phát hiện mà chủ nhân của nó không ai khác hơn là người Bách Việt. Từ mật độ cao di chỉ tập trung ở vùng này, ta có thể khẳng định: ít nhất là 12000 năm trước, có nghĩa là ngót 10.000 năm trước khi người Hán ra đời, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam đã là trung tâm văn hóa lớn của Bách Việt.


Hãy nhìn bản đồ: phía bắc Đào Tự là khoảng trắng bao la thiếu vắng di chỉ văn hóa. Vậy hỏi nhà nghiên cứu họ Trương: người Hoa Hạ lúc đó mới 500 tuổi, lấy sức mạnh từ truyền thống nào để tạo nên nền văn hóa rực rỡ một cách nhanh chóng vậy? Nhìn lên tấm bản đồ xưa nhất của Trung Hoa (Original Center of Ancient China. An historical atlas of China. Aldine Publishing Company, Chicago- 1966) sẽ thấy rõ điều này: mảnh đất tô màu vàng sậm của Trung Hoa cổ có một phần nhỏ trùm qua sông Hoàng Hà ở đoạn khuỷu sông, thuộc địa phận Thiểm Tây, Sơn Tây. Đựa vào đó mà nói rằng phát tích của văn hóa Hoa Hạ nằm hoàn toàn ở phía Bắc sông Hoàng Hà là sự nói lấy được. Với mảnh đất chỉ rộng bằng khoảng đảo Hải Nam thì lấy đâu ra nhân tài vật lực tạo nên văn minh Hoa Hạ? Có lẽ sự việc đã diễn ra thế này: Đội quân của Hiên Viên ở phía bắc trước hết chiếm vùng khuỷu Hoàng Hà dân cư trù phú là nơi gần nhất rồi từ đó vượt sông chiếm Cửu Châu. Nhận đuợc lợi ích của vùng đất chiếm đóng nhưng các thủ lĩnh Mông Cổ cũng thường xuyên bị người Việt chống trả nên không đủ sức mạnh cũng như lòng tự tin để đặt đô phía nam sông. Thêm nữa, cũng một phần do sự chi phối của tâm lý dân du mục sợ đồng bằng lụt lội nên buộc phải chọn địa điểm phía bắc sông. Khi yên hàn hơn, theo quá trình chinh phục, những triều đại tới sau đã liên tục dời đô về phía nam: tử Hoàng Đế đến nhà Hạ đóng đô ở phía bắc. Chỉ sang đời Ân mới dời đô xuống phía nam sông. Dù thế nào chăng nữa thì cái gọi là văn minh Hoa Hạ cũng được xây dựng trên địa bàn cư trú lâu đời của người Bách Việt! Và cái chính là người Hoa Hạ đã kế thừa văn hóa rực rỡ của tổ tiên Bách Việt của mình.


Cội nguồn cùng lịch sử văn hóa người Việt là câu chuyện dài nhiều tập mà chính lúc này chúng ta bắt tay viết lại từ trang đầu! Những sử gia chính thức để làm việc này chưa được đào tạo. Vào việc lúc này là phận sự chủ yếu của những nhà- viết- sử- nhân- dân. Như cái rết nhiều chân, mỗi người góp một dòng một chữ từ nhiệt tâm và trí tuệ của mình, có sai có đúng nhưng đây là công việc thiêng liêng, xin hãy đến với tấm lòng trân trọng.


Noel 2006



 



(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.




 








(1) J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc.Natl. Acad. Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768.


- Bing Su & đồng nghiệp: Y-chromosome evidence for a northward migration of modern human into Eastern Asia during the last Ice Age. American Jurnal of Human Genetics 1999; 65; 1718-1724.




(1) S.W. Ballinger&đồng nghiệp: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45.




(1) Lê Anh Vũ: Tin Oxenham hay tin BBC. Talawas 3/3/2005




(2) Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB ĐH&THCN H.1983




(1) vannghesongcuulong.org 13.12.06




(1)http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=3 100&LOAIID=17&LOAIREF=5&TGID=742




(1) Hà Văn Thuỳ. Bản thông điệp 12000 năm của tổ tiên người Việt. vannghesongcuulong.org




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »