tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19701470
Những bài báo
27.08.2012
Nhiều tác giả
Nguyễn Triệu Luật

Nguyễn Triệu Luật: Tiểu thuyết lịch sử -Văn hóa  lịch sử  tiểu thuyết


Bài của Lê Văn Ba


Nguyễn Triệu Luật nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm Ba Mươi thế kỷ trước. Bẵng đi một thời gian dài không thấy nhắc tên ông. Rất mừng trong Từ điển văn học Việt Nam (bộ mới) xuất bản năm 2003 có mục từ Nguyễn Triệu Luật (vần N). Mừng nhiều hơn khi thấy thành phố Hồ Chí Minh có tên đường  phố Nguyễn Triệu Luật (quận Bình Tân).


Nguyễn Triệu Luật (1903-1946), bút hiệu Dật Lang, Phất văn nữ sĩ, quê làng Du Lâm huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh cũ, nay thuộc xã  Mai Lâm huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội.


Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, ông được bổ đi dạy học ở Hà Nội, Hải Phòng, Tuyên Quang.


Dòng dõi đại nho (ông nội là tiến sĩ Nguyễn Tư Giản, nổi tiếng hay chữ, làm quan tới thuợng thư Bộ Lại thời Tự Đức), Nguyễn Triệu Luật ham học, ham đọc và say sưa viết. Ông đã cho in nhiều bài báo, bài nghiên cứu giá trị như Bàn góp về truyện Kiều, Vấn đề cải cách chữ quốc ngữ, Một cách để gây cho dân tộc ta một cái nguyên tắc tinh thần, Báo tiếng Tây Mercure de France với văn tự Việt Nam…Ông biên dịch (tiếng Pháp) cuốn sách Tâm lý học dày ngót hai trăm trang, truyện ngắn Một cái hờn xuân giữa tiết thanh minh ở Yên Kinh bảy mươi năm trước đây…Tất thảy đều cho thấy một nhà trí thức trẻ tuổi hiểu  nhiều biết rộng.


Nguyễn Triệu Luật (NTL) đã có thể làm một nhà giáo mô phạm, nhà văn học sử nổi tiếng như Dương Quảng Hàm, trở thành một nhà nghiên cứu uyên bác ở Đông phương bác cổ học viện, hoặc một nhà báo lỗi lạc trong các nhóm Thanh Nghị, Đông Dương Tạp Chí…


Nhưng NTL chọn con đường trở thành nhà văn, nhà viết tiểu thuyết lịch sử.


Cơn cớ vì đâu?


Trong lời giới thiệu Tuyển tập tiểu thuyết lịch sử của NTL Giáo sư Đinh Xuân Lâm lý giải như sau: Có thể nói rằng từ sau khởi nghĩa Yên bái thất bại (1930), tiểu thuyết lịch sử nở rộ là một biểu hiện của nền văn học yêu nước, một phương tiện để  ký thác tình cảm yêu nước của một số người cầm bút. Và tiểu thuyết lịch sử được người đọc tìm đến chính là để tìm thấy ở đấy một  niềm an ủi, một  ý chí tự hào và lòng  hy vọng thầm kín vào tiền đồ đất nước.


Hồi đó không phải chỉ có tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật mà còn có của  Lan Khai, Phan Trần Chúc, Đào Trinh Nhất…kể cả Ngô Tất Tố  với các cuốn Gia định tổng trấn Tả quân Lê Văn Duyệt, Vua Tây chúa Nguyễn, Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám…


Trong 80 năm người Pháp đô hộ Việt Nam đã có biết bao cuộc nổi dạy và tiếp theo là những cuộc đàn áp đẫm máu: Chống sưu thuế ở miền Trung,  Xô Viết Nghệ Tĩnh, khởi nghĩa Nam Kỳ …Tại sao sau những diễn biến long trời lở đất bốc cao lửa đỏ và chan hòa máu tươi này không thấy “nở rộ” tiểu thuyết lịch sử?


Nhớ lại ngày ấy Việt Nam quốc dân đảng (VNQDĐ) phát triển nhanh trong giới nhà giáo, nhà binh, các đô thành, thị trấn…Trong số này có nhà thơ Nhượng Tống, nhà văn Nguyễn Triệu Luật, nhà thơ Trúc Khê Ngô Văn Triện, nhà thơ Phạm Tuấn Tài, Hồ Văn Mịch, Nguyễn Khắc Nhu…đứng đầu là Nguyễn Thái Học lúc này đang học trường cao đẳng thương mại…Đây là những người trong Nam Đồng thư xã, tổ chức tiền thân của VNQDĐ. Hệ thống VNQDĐ lỏng lẻo và lộ liễu  nên sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại đã có hàng nghìn người bị bắt (trong hồi ký viết về Nguyễn Thái Học của Nhượng Tống nói con số lên tới 3000 người).


Đầu những năm 30 của thế kỉ trước, thực dân Pháp mở một chiến dịch khủng bố hết sức dã man hòng làm cho người dân Việt Nam khiếp sợ và dằn mặt những ai còn nuôi chí lật đổ chính quyền thống trị.


Thời gian này NTL cũng bị bắt, bị tù. Năm 1932 mới được về nhà “hồi dân quản thúc” (lời NTL) dần dà mới ra Hà Nội kiếm kế sinh nhai. Ông làm báo, viết văn rồi tiếp tục nghề dạy học (trường tư, ở tận Nghệ An), vừa hết sức “giữ mình” vừa đeo đuổi ý chí muốn làm gì đó tiếp tục con đường yêu nước, cứu nước không chịu bỏ dở nửa chừng.


Như lời giáo sư Đinh Xuân Lâm nói, đó chính là hoàn cảnh, là môi trường thúc đẩy nhiều nhà văn trong đó có NTL đến với tiểu thuyết lịch sử (tất nhiên còn phải kể thời gian này đô thị, thị dân phát triển, chữ quốc ngữ phổ thông, máy in xử dụng ngày càng rộng rãi..).


Nhưng để trở thành một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, còn phải có những điều kiện.


NTL đã là một thày giáo dạy văn.


NTL là một nhà giáo dạy sử.


NTL là con nhà gia thế, dòng giõi đại nho. Hơn mọi người ông được thấm đẫm trong lòng từ ngày thơ bé hồn cốt lịch sử một thời vua chúa với cả tầng sâu văn hóa, kiến trúc, y phục, ngôn ngữ giao tiếp, phong cách sống …


Chính cái điều “hơn mọi người” này đã mang lại cho tiểu thuyết lịch sử của ông môt hấp lực riêng trong rất nhiểu TTLS đang “nở rộ”. Và đó cũng chính là đóng góp lớn lao của NTL.


Trước hết, NTL vào nghề viết tiểu thuyết lịch sử với đường hướng, lựa chọn rõ ràng.


Khởi đầu là năm 1935 nhà giáo NTL phê phán kịch liệt tác giả cuốn sách Vua Hàm Nghi: “Ông Phan Trần Chúc bôi nhọ lịch sử”. Trong cuốn sách ngót 100 trang khổ nhỏ này, NTL chẳng những viện dẫn những cái dốt ( từ của NTL) của họ Phan mà còn vạch trần những đánh giá sai lầm về lịch sử dân tộc, về những nhân vật trong lịch sử dân tộc, NTL kết tội “ông Phan Trần Chúc bôi nhọ vua Hàm Nghi đến thế là cùng”! Muốn phê phán người thì mình phải có sự hiểu biết hơn người. Tác phẩm phê phán ông Phan Trần Chúc có tác dụng như một “cú hích” thúc đẩy NTL mạnh dạn dấn thân.


NTL không chỉ một lần “tuyên ngôn” về mục đích, nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử của mình. (Trong  Lời nói đầu cuốn Bà Chúa Chè: Viết tiểu thuyết lịch sử không cần theo phép của sử học..Tác giả chỉ phải tưởng tượng ra một chuyện “có thể có” ở một thời đại rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy, mục đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống một thời đại… Hoặc như trong Lời tựa cuốn  Ngược đường Trường Thi, ông ví người viết tiểu thuyết lịch sử giống như nhà kim hoàn trộn lẫn vàng với bạc, với đồng. Vàng thuần thì dễ mòn, đồng thuần tuy cứng nhưng rẻ quá, không có giá, nay đem trộn lẫn với nhau – một sự hóa hợp chứ không phải hỗn hợp- thì vẫn có giá. Có giá vì không lừa ai, có giá vì không ai thấy nổi vết hàn gắn. Chín phần vàng không bị hạ giá bởi một phần đồng cho nên vẫn chân giá, tạo ra một giá trị mới…Việc chọn giai đoạn lịch sử để viết cũng vậy. NTL lý giải Con người ta có ruột gan ra thì chuyện người xa muôn dặm, ngàn năm cũng cũng đủ cảm.. Mà không có ruột gan chi thì chuyện trong nhà, trước mắt, ruột thịt  cũng vẫn thờ ơ…


Viết tiểu thuyết lịch sử để lấy chuyện xưa mà nói nay. NTL mong muốn bạn đọc nhìn vào quá khứ để thấy lại lịch sử dân tộc, thức dạy lòng yêu nước. Có thể nói những suy nghĩ  của ông từ cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn  nguyên giá trị, vẫn là những chỉ dẫn đáng để cho giới viết truyện lịch sử, tiểu thuyết lịch sử, làm phim lịch sử hôm nay tham khảo.


Phải chăng, vì nhiều điều “mới mẻ” như vậy nên ngay sau khi tác phẩm Bà Cúa Chè ra đời, NTL đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa Vũ Ngọc Phan và Trúc Khê Ngô Văn Triện về sự khác nhau giữa ký sự lịch sử và tiểu thuyết lịch sử, về nhân vật cô gái xinh đẹp, chung tình, gần gũi nhân dân, có bản lĩnh và số phận đáng thương là Đặng Thi Huệ trong Bà chúa chè, khác hẳn hình ảnh vương phi Đặng Thị Huệ trong Hoàng Lê nhất thống chí.


Trở lại câu hỏi đâu là thế mạnh, là điều làm nên sự khác biệt của TTLS NTL?


NTL dẫn giải: thời cổ đại người ta dựng lên những lâu đài cung điện, đình chùa…bằng những tảng đá, khối gỗ, viên gạch... Đấy chính là những “trang sử” để lại cho đời sau. Rồi khi có giấy, có chữ viết, máy in…thì “cái này diệt cái kia”, khi có sách báo, những phương tiện thông tin, lưu trữ , truyền bá thông dụng tối tân rồi thì (như ở nước ta) người ta lãng quên dần, bỏ mặc cho những phế tích đổ nát, nhiều đình chùa được phục dựng thì cái nào cũng giống như cái nào…


Với NTL không phải “cái này diệt cái kia” mà phải là “cái này phục vụ cái kia, bù đắp cho cái kia”.


NTL đã khắc khoải, thiết tha, da diết bao đêm ngày vì suy nghĩ trăn trở trên đây. Và ông đã viết như ông đã nghĩ: dùng văn chương phục dựng lại cho người hôm nay chiêm ngưỡng tự hào cái hôm qua chỉ còn là ảo ảnh, nỗi niềm hoài cổ Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương (Thơ Bà huyện Thanh Quan).


Chính vì thế, đọc tiểu thuyết lịch sử của NTL người đọc thấy hết sức thú vị và tài tình cái sự kể về không khí nhiễu nhương một thời lịch sử đặc biệt nước nhà vừa có vua vừa có chúa, Đàng trong Đàng ngoài, loạn kiêu binh…Đó là những kẻ đào hố, sa hố, ông Trịnh Khải chạy quanh toan lấp hố thì bị anh chàng Cống Chỉnh ở đâu tới xô Chúa ngã xuống hố - Thú vị vì được nhà văn đưa đi thăm lại cung vua Lê, phủ chúa Trịnh, được ông dẫn chơi Hà Nội 36 phố phường, đi một vòng quanh Hồ Tây, ngược đường Trường Thi đầu này là trường thi bến cỏ Cổ Tân cạnh nhà hát Lớn bây giờ, đoạn giữa là trường thi cạnh Giám, nền cũ của Văn Miếu thời nhà Lý, và cuối là trường thi chỗ góc con đường cửa ô Cầu Giấy đi ngã tư Khâm Thiên    …Đọc tiểu thuyết lịch sử của NTL người đọc được “chứng kiến” cảnh các ông đồ lều chõng chen lấn nhau vào dựng lều làm bài thi, giữa buổi nhai cơm nắm với chả ba họ, “tham dự” một ngày giỗ hết đại  tường nhà Chúa, dự lễ khai bút sớm mồng một tết trong một gia đình nho giáo, cùng thưởng thức chén trà với ông quan về hưu dưới gốc liễu bên hồ sen, lại rùng rợn thấy hiện ra cảnh Sơn Lăng vắng vẻ giam giữ hàng trăm cung nữ trẻ đẹp bị ép “thủ tiết” với cái xác chết lạnh giá của ông vua nằm trong quan tài…


NTL viết tiểu thuyết-lịch sử, cũng có thể nói ông làm tiểu thuyết – văn hóa – lịch sử. Một cách làm sáng tạo, độc đáo của riêng ông. “Ông đã tự mình mở ra một dòng sáng tác tiểu thuyết rất đáng trân trọng”. (Nguyễn Vinh Phúc). Nhà văn tài tử và tinh tế về những quá khứ vang bóng một thời là Nguyễn Tuân phải kêu lên rằng “Ông NTL đã “có công phục sinh những cái gì đã chết gần ba trăm năm nay”. Lan Khai cũng là một cây bút có hạng về tiểu thuyết lịch sử hồi này thán phục: Đọc tiểu thuyết của NTL tức là xem những bức ảnh. Người mất rồi, cảnh khác rồi, nhưng hình ảnh vẫn là những người và cảnh đã có thực. Bên trong NTL là một nhà khảo cổ học. Cái “ngòi bút có linh hồn” của NTL rất đáng giúp cho người dạy, người học lịch sử hôm nay đang chán với môn sử nước nhà.


Nhưng, người viết khác, đòi phải có người đọc khác.


Đọc truyện Nguyễn Triệu Luật ta vừa thích thú vừa “khó chịu” vì cứ nhiều lúc phải dừng lại ở giữa trang hoặc để xem chú thích ở cuối trang. Đó là những lễ nghi điển tích, về cung vua phủ chúa thuở ấy bây giờ là góc đường này, cuối vườn hoa kia, là những  chú giải về ngôn ngữ người xưa …Vậy nên từ năm 1939 nhà nghiên cứu Hiên Chi đã có lời khuyên người đọc tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật đừng để cốt truyện ly  kỳ hấp dẫn lôi cuốn mà phải nhâm nhi, ngẫm nghĩ, vừa thưởng thức, vừa khám phá. “Có thế ta mới “lồng” tâm hồn ta vào trong truyện được…Hãy đọc Hòm đựng người. Đọc kỹ mà xem!”


Và viết tiểu thuyết lịch sử, NTL nhằm ký thác tâm sự mình. Nguyễn Huy Tưởng thú nhận “Cầm bút chẳng qua một bệnh với Đan Thiềm”. Anh giáo Thứ trong Sống Mòn là hình ảnh cuộc đời vật vã của nhà văn Nam Cao. NTL đã tham gia VNQDĐ đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập cho nước nhà. Ước vọng của NTL phản ánh rõ rệt trong ước vọng “đảo hành, nghịch thi” của cô gái hái chè Đặng Thi Huệ. Ước vọng ấy mãnh liệt cho đến chết vẫn không hề thay đổi. Điều này được chính cô nói “con vẫn cho làm phải” trong buổi cuối cùng ở nhà giam Hộ tăng đường, khi được phép gặp người cha đến thăm con gái sau mười hai năm xa cách.


NTL đã để lại cho chúng ta cả một gia tài văn chương (về tiểu thuyết,  báo chí, nghiên cứu, dịch thuật…), nhưng về cuộc đời nhà văn thì kể cả vợ, con trong gia đình đều không biết nhiều, biết rõ.


Ông Nguyễn Triệu  Căn, con trai nhà văn NTL kể rằng không ít lần ông hỏi bà nội “Sao nhà mình nghèo thế”? Ông hỏi, vì được nghe kể đời cụ nội mình, cơ ngơi quan thượng thư to rộng lắm. Nhưng lần nào cũng thế, bà nội trả lời trong tiếng thở dài buồn bã: Bà phải bán hết ruộng nương nhà cửa để “chạy” cho bố con…


Nhà văn NTL, sinh thời vẫn linh cảm số phận mình còn nhiều gian truân đợi mình ở cuối đời.


Năm 1940, lần thứ hai NTL bị thực dân Pháp bắt đưa đi an trí ở một trại miền núi Hòa Bình.


Rồi Nhật đảo chính Pháp, ông được ra tù. Cách mạng tháng Tám thành công…NTL mất tích năm 1946. Trải qua biết bao biến cố, cho đến hôm nay…


Trong tiểu thuyết lịch sử Ngược đường Trường Thi có nhân vật chính là ông giáo già Nguyễn Lý Viên. Nguời ấy là ai? Là tác giả, NTL! Nguyễn Lý Viên nói lái là Viễn Lý Nguyên, (như kiểu ngày nay ta thường diễu Nguyễn Y Vân là Vẫn Y Nguyên) có nghĩa xa xưa (ta) gốc họ Lý, cháu nội quan đại thần Nguyễn Tư Giản, dòng dõi tôn thất nhà Lý, thoát chết khỏi mả xập, phải đổi sang họ Nguyễn để tránh cái họa Trần Thủ Độ.


Riêng cuộc đời, thời đại, và cái tên Nguyễn-Triệu-Luật-Viễn-Lý-Nguyên đã đầy ắp chất liệu lịch sử tiểu thuyết, “một cõi đi về”!


 


L.V.B.


Nguồn: văn Nghệ Trẻ/ phongdiep.net


 


Nguyễn Triệu Luật - người viết tiểu thuyết lịch sử bị quên lãng


Bài của Hà An


 


Hội thảo ‘Nguyễn Triệu Luật - con người và tác phẩm’ chứng thực một con người đã sống - viết, đồng thời ghi nhận những đóng góp của ông trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử qua những tác phẩm có giá trị như 'Bà Chúa Chè', 'Ngược đường Trường thi', 'Loạn kiêu binh', 'Chúa Trịnh Khải'…


Hội thảo “Nguyễn Triệu Luật - con người và tác phẩm” do Hội nhà văn Hà Nội tổ chức hôm 23/8 như một buổi cấp lại giấy khai sinh cho một con người, một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử gần như bị quên lãng. Sự kiện giúp nhiều người biết được Nguyễn Triệu Luật là ai và giá trị những tác phẩm văn chương của ông.


Nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam những năm 1930 của thế kỷ trước nhưng tên tuổi Nguyễn Triệu Luật không được nhắc tới suốt thời gian dài sau đó. Hội thảo khai mở những câu chuyện thú vị về một con người mà đến cả cái chết cũng chưa được làm rõ và còn rất nhiều khoảng trống bị bỏ ngỏ về cuộc đời sáng tác của ông.


Nguyễn Triệu Luật (1903 - 1946) sinh tại làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, Phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Ông sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng truyền thống, ông nội là Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản, một đại nho đồng thời là một tác giả văn học lớn của thế kỷ 19, một đại thần triều Tự Đức. Nguyễn Triệu Luật cũng là cháu 5 đời của danh sĩ Nguyễn Án, tác giả tập “Tang thương ngẫu lục” (cùng soạn với Phạm Đình Hổ). Sau khi học xong trường Sư phạm Hà Nội, ông đi dạy học tại các tỉnh Tuyên Quang, Hải Phòng, Hà Nội, tham gia Việt Nam quốc dân Đảng. Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông bị Pháp bắt đi tù, rồi bị quản thúc ở quê, sau đó bị đuổi, không cho dạy ở các trường công. Để kiếm sống, ông phải đi dạy học tư tại trường Lễ Văn - Nghệ An. Khởi đầu là một nhà giáo dạy môn lịch sử mô phạm và uyên bác, nhưng bằng tinh thần yêu nước, ông chọn con đường trở thành nhà văn, nhà viết tiểu thuyết lịch sử để ký thác tình cảm và ý chí yêu nước của mình.


Với hơn 10 tham luận, hội thảo làm rõ về nhà văn Nguyễn Triệu Luật lần lượt ở hai góc độ con người và tác phẩm. Phần con người, hội thảo đặt vấn đề khai mở những góc khuất, những khúc quanh trong cuộc đời nhà văn mà đến cả vợ con trong gia đình đều không biết rõ. Thông tin về Nguyễn Triệu Luật ở góc độ văn học sử rất ít. Ông tham gia sáng lập Việt Nam quốc dân Đảng nhưng không rõ vai trò, quá trình hoạt động, bị bắt và kết án ra sao? Nguyễn Triệu Luật đi dạy học ở nhiều nơi nhưng không cụ thể địa chỉ, ngày tháng năm nào. Năm 1945, Nguyễn Triệu Luật được cho là bị bắt giam và đưa đi an trí. Năm 1946, ông qua đời ở tuổi 43 nhưng không rõ ở đâu, vì lý do gì và như thế nào. Cái chết của ông cho đến hiện tại vẫn nằm trong bóng tối như trường hợp của Lan Khai và Khái Hưng, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên cho biết.


Các tham luận hé mở những thông tin thú vị trong cuộc đời nhà văn Nguyễn Triệu Luật. Nhà nghiên cứu Hữu Ngọc nhớ lại người anh, đồng nghiệp từng dạy học cùng ông tại trường tư thục ở Vinh: “Đó là một người tầm thước, đi nghiêng trái, hay nháy mắt phải, đứng đắn, diện comple tím và cà vạt đen, luôn đúng giờ, không sai một phút”. Hữu Ngọc đánh giá Nguyễn Triệu Luật ở hai khía cạnh: Một nhà Nho yêu nước hiện đại và một nhà sử học viết tiểu thuyết. Theo Hữu Ngọc, Nguyễn Triệu Luật là hậu duệ của nhà Lý 1000 năm, bén rễ gốc Nho gia và mang trong mình cái tích cực của Nho học, đó là Đạo làm người. Chính vì thế, Nguyễn Triệu Luật sống có lý tưởng rõ ràng: yêu nước một cách chân chính và nghiêm túc. Tuy nhiên, khuynh hướng của Nguyễn Triệu Luật không như các nhà Nho cũ mà ông mang ánh sáng của phương Tây soi sáng văn hóa cũ. Hữu Ngọc cho rằng, đó là những tác phẩm tốt cho thanh niên ngày nay đọc để hiểu, yêu và tự hào về lịch sử dân tộc.


Nguyễn Chí Tình, con của Nguyễn Đức Bính, hiệu trưởng trường Lễ Văn năm xưa có bài tưởng nhớ xúc động về Nguyễn Triệu Luật. Hình ảnh người thầy "mặc bộ comple màu tím thẫm, chiếc áo khoác dài màu cà phê sữa quen thuộc và đôi mắt sâu, hiền và đượm buồn", vẽ thêm một nét chân dung của nhà văn. Nguyễn Chí Tình kể, khi bố ông, Nguyễn Đức Bính, hỏi: “Tại sao anh lại chọn những giai đoạn đất nước đầy những chuyện đau thương, hỗn loạn, rối ren mà viết", Nguyễn Triệu Luật trả lời: “Tôi cứ thấy mình bị cuốn hút về những chuyện u ám trong lịch sử. Mà nói cho cùng, chính trong những thời kỳ lắm cái đau, cái khổ ấy, lịch sử và dân tộc mới để lộ hết thực chất, hết muôn mặt có thực của nó, và chúng ta cũng rút ra được nhiều bài học hơn”.


Con trai nhà văn Nguyễn Triệu Luật, ông Nguyễn Triệu Căn, xúc động khi tưởng nhớ về cha mình. Nguyễn Triệu Căn cho biết, ông đã quên đi để mà sống - quên nỗi đau cha mất mà không biết cả ngày để làm giỗ, nhưng lúc cần nhớ thì lại được nhiều người giúp nhớ nhanh hơn. Gia đình cũng không khỏi xúc động khi biết trong TP HCM có một con đường mang tên Nguyễn Triệu Luật.


Một phần quan trọng của hội thảo là nói về tác phẩm và bút pháp viết tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật. Ông để lại 8 cuốn tiểu thuyết lịch sử hoàn thiện, lấy bối cảnh chính là giai đoạn vua Lê chúa Trịnh. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết, tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật giúp ông nhìn ra một định nghĩa về tiểu thuyết lịch sử: “…viết tiểu thuyết lịch sử không cần theo phép Sử học. Tác giả chỉ phải tưởng tượng ra một ‘truyện có thể có’ ở một thời đại, rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy. Mục đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống một thời đại” (Tựa ‘Hòm đựng người’).


Theo Phạm Toàn, lịch sử là một dòng chảy, sử gia chỉ là những người câm và nhà văn viết lịch sử là người góp phần gợi nỗi niềm cho người đời về những sự thật của lịch sử. Khác với các sử gia, người viết tiểu thuyết lịch sử tham gia vào tâm lý của nhân vật. Nguyễn Triệu Luật đã viết tiểu thuyết lịch sử với tinh thần như thế chứ không phải một sử gia chép sử.


Nguyễn Xuân Khánh - một “hậu duệ” của Nguyễn Triệu Luật trong dòng tiểu thuyết lịch sử nhắc tới ba bài tựa "Hòm đựng người" (1937), "Bà Chúa Chè" (1938) và "Ngược đường Trường thi" (1939), nêu rõ 3 quan điểm của Nguyễn Triệu Luật về tiểu thuyết lịch sử: có thể hư cấu hoàn toàn, có thể dựa trên sự kiện có thật 100% nhưng phải bằng đánh giá khách quan và có thể trộn lẫn giữa cái hư, cái thực.


Theo Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Triệu Luật là người phổ biến quan niệm tiểu thuyết lịch sử phương Tây vào Việt Nam, khác với Nguyễn Huy Tưởng - một người gần thời và cũng viết tiểu thuyết lịch sử - không trực tiếp đưa ra quan niệm. Nguyễn Xuân Khánh cho rằng, ông đã học được nhiều điều trong cách viết tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật mà điều quan trọng nhất là hư cấu - hư cấu là một đặc quyền của tiểu thuyết và không ngoại lệ với tiểu thuyết lịch sử.


Đánh giá về hệ thống tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật, nhiều tham luận cho rằng, không chỉ dừng lại ở phạm vi 8 cuốn tiểu thuyết lịch sử. Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyễn Ân, còn nhiều khoảng trống hoặc không có thông tin, hoặc thiếu tư liệu về Nguyễn Triệu Luật, cần được tìm lại và bổ sung. Ông đề xuất tìm lại trong mọi ấn phẩm in năm từ năm 1920 đến 1946 để thấy được sự đa dạng trong thể tài sáng tác của Nguyễn Triệu Luật. Lại Nguyên Ân viện dẫn, Nguyễn Triệu Luật từng có loạt bài khoa học xã hội, phổ biến tâm lý học cổ điển của phương Tây trên tạp chí Nam Phong, các tác phẩm dịch thuật, ngôn ngữ học… trên tạp chí Tao Đàn (1939)… Nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh góp bài tham luận đề cập tới những bài viết về văn hóa, giáo dục của Nguyễn Triệu Luật.


Dù những góc ẩn khuất trong cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật chưa thể được khai phá, hội thảo làm sống lại một con người, ghi nhận những đóng góp không thể phủ nhận của Nguyễn Triệu Luật đối với dòng tiểu thuyết lịch sử và văn học Việt Nam những năm 1930 của thế kỷ 20.   


 


Hà An


Nguồn: Evan


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »