tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316181
Tiểu thuyết
22.08.2012
Nguyễn Nguyên Bẩy
Linh hồn lang thang

Anh Ba lại vào viện thăm anh. Lần này bác sĩ không làm khó anh nữa. Bởi lẽ, những tin tức anh Ba đưa tới không làm anh sụp đổ tinh thần như người ta lo ngại.


Hai anh em đi thong thả trong vườn hoa và lại ngồi xuống chiếc ghế đá hôm trước.


- Anh Ba, anh nói cho em biết đi, việc em xung phong đi chiến trường là đúng hay là sai lầm?


Anh Ba trợn mắt:


- Sao chú hỏi gì lạ vậy?


- Dù sao chúng ta cũng có mười năm để nhìn lại quá khứ.


- Tôi thật bất ngờ khi chú hoài nghi cả hành động cao cả của mình.


- Xin anh đừng nói với em những lời chính trị, hãy nói cho em bằng tiếng nói thật nhất của lòng mình.


Anh Ba lặng người. Đành rằng miền Nam vẫn là chiến trường khốc liệt nhất, nhưng kể từ sau tháng tám năm sáu tư, giặc Mỹ ném bom miền Bắc thì cả nước đã là mặt trận, nơi nào chẳng gian khổ, chẳng đau thương. Cuộc chiến tranh mà chúng ta tiến hành kéo dài quá, cam go quá, mà sức con người có hạn, bảo sao con người ta chẳng có lúc dao động, hoang mang. Nhất là cảnh ngộ của chú ấy, từ mặt trận trở về, gia đình tan nát. Chú ấy yêu cầu mình đừng nói chính trị. Không hiểu chú ấy quan niệm thế nào là chính trị, thế nào là tiếng nói tâm hồn. Chẳng lẽ hai điều đó trái ngược nhau. Chúng ta chẳng có cách nào khác ngoài việc tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng. Đó là câu nói chính trị hay đó là tiếng nói trái tim?


- Chú sẽ viết một cuốn tiểu thuyết đề tài chiến tranh chứ?


- Bây giờ em chưa nghĩ tới điều đó, em sợ mình không đủ sức.


- Cuộc chiến tranh nhìn từ mọi phía. Cuộc chiến tranh cũng như chân dung một con người, chú ở giữa nơi bom nổ, chú nhìn chân dung đó rõ hơn.


Anh cười nhỏ:


- Vậy mà người ta lại viết: Ở chiến trường nghe bom nổ nhỏ hơn.


- Đó cũng là một cách nói. Chưa có lịch sử của bất kỳ dân tộc nào trên trái đất này lại lên án hành động quả cảm của những người ra trận cứu nước. Chú đừng nghĩ tôi nói vậy là nói chính trị. Tôi có tuổi, sức lại yếu, nên tổ chức không chấp nhận cho tôi đi B...


Giọng anh nhỏ lại. Anh xúc động thực sự.


- Anh Ba... - Mạnh chợt cảm thấy mình có lỗi.


Anh Ba mím môi. Anh muốn nói cho Mạnh nghe những suy nghĩ thật nhất đang cất giấu trong trái tim mình: Chú Mạnh ạ, không phải không có lúc, tôi đã hoài nghi khả năng chiến thắng của chúng ta trong cuộc chiến tranh này. Không phải không có lúc, tôi tự hỏi tại sao chúng ta không tìm một giải pháp khác hơn là chiến tranh. Tôi đã đọc lịch sử, đã hiểu thế nào là nền văn minh Hy Lạp bị chôn vùi sau những cuộc chinh chiến liên miên. Biết bao di hại của chiến tranh cho một dân tộc. Nhiều thế hệ tiếp sau cũng phải chịu những di hại oan uổng ấy. Nhiều lúc tôi trách trời đất, tại sao lại áp đặt mảnh đất bé nhỏ của chúng ta vào định mệnh nhiều ly loạn đến thế. Nhưng anh đã không đủ can đảm để nói cho Mạnh nghe những lo lắng chân thành ấy. Đụng tới các quan điểm về chiến tranh và hòa bình lúc này là điều cấm kỵ. Không mang lại lợi ích gì, chỉ gây thêm những rắc rối. Nên anh Ba vẫn nói với Mạnh những điều hình như ai đó đã nói với anh, và Mạnh chắc cũng đã nghe rồi, sách vở cũng đã viết, chỉ có điều với âm sắc giọng nói anh, thì đây là những lời an ủi.


- Chiến tranh, đó là điều chúng ta không muốn, nhưng chúng ta chẳng có cách nào khác, kẻ thù buộc chúng ta phải cầm súng.


Kẻ thù buộc chúng ta phải cầm súng. Không thể cãi một chân lý. Nhưng Mạnh không muốn dối lòng.


- Nếu anh Ba được chứng kiến cảnh tượng những chiến sĩ của chúng ta chết tức tưởi trong bom đạn.


- Chú quên tôi là bộ đội hồi đánh Pháp sao. Trong đơn vị của tôi khi đó, biết bao thanh niên chưa hề biết cặp môi thiếu nữ, nhưng họ vẫn lao lên và ngã xuống dưới làn đạn của quân thù...


- Cảm ơn anh Ba... - Anh muốn anh Ba dừng lại những lời giảng giải của mình. Anh cảm như đó không phải là những lời tự đáy lòng, mà là những lời thuộc trên lưỡi.


Anh thú nhận trạng thái tinh thần mình:


- Những ngày ở chiến trường, chưa một giây phút nào em nẩy sinh ý nghĩ hoài nghi, hoang mang về cuộc chiến tranh chúng ta đang tiến hành. Vậy mà bây giờ ra đây điều dưỡng, em lại nhìn cuộc chiến tranh với cặp mắt khác, đầu em nghĩ những ý nghĩ khác. Em như thấy những lời than thở, trách móc, thậm chí chế nhạo hành động xung phong ra mặt trận của mình, họ bảo em bốc đồng, chơi trội, anh hùng cá nhân...


Anh Ba lặng ngồi. Chú nghĩ vậy thì nên vậy. Những năm sáu mươi, cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam chỉ mới bắt đầu, mọi người hướng về cuộc chiến đấu đó với những tín điều thiêng liêng nhất. Việc trở về quê hương chiến đấu của chú là cuộc trở về của những anh hùng. Ai cũng nhìn chú bằng cặp mắt ngưỡng mộ và khâm phục.


Mạnh nhìn anh Ba cười nhỏ. Anh Ba như đọc thấy trong nụ cười đó câu nói thuộc về ký ức: Ngay từ thời đó, Thế cũng đã ngăn em... Anh Ba đáp lại bằng nụ cười: Nhắc thằng bậm trợn đó làm gì.


Về thằng đó, lỗi chú không nhỏ đâu. Anh Ba định nói với Mạnh như thế. Chú đã lôi nó từ trong đống tà vẹt, dựng nó đứng dậy, chú cam đoan với tôi là nó sẽ nên người.Tôi tin chú. Tôi cũng lầm. Một kẻ đã làm điều vô liêm sỉ, mà không nhận ra điều vô liêm sỉ, thì tất yếu sẽ lập lại những điều vô liêm sỉ. Dạo chú mới đưa nó về Đài, thỉnh thoảng tôi có duyệt bài viết ký tên của nó, nhưng tôi biết đâu là văn của nó, đâu là văn chữa của chú. Đối với tôi, chuyện văn chương không thật quan trọng, mà quan trọng là chuyện con người, đâu là cao thượng, đâu là thấp hèn, đâu là ơn, đâu là nghĩa. Thế rồi chú đi, tôi tiếp xúc với nó thường hơn. Ngoài cái vẻ bậm trợn, mà ngay lần gặp đầu tiên tôi đã bị ấn tượng, tôi cảm thấy cái đầu nó rỗng tuếch và nhạt nhẽo. Nó chẳng nghĩ được chuyện gì cho có đầu, có cuối. Mọi thứ đều vô vị như những câu pha trò của nó. Nó khoác ngoài một cái vẻ bất cần, nhưng trong mắt tàng chứa những cái nhìn ganh ghét, đố kỵ, thèm khát. Tôi nhận ra điều đó khi người ta không mời nó tham dự cuộc họp mà nó thích để có cái danh và khi thấy tôi khen một bài viết của ai đó. Những kẻ ganh ghét và đố kỵ đừng bao giờ hy vọng nó có thể làm một điều tốt mà không có mục đích, mà không vụ lợi. Vì thế, ngoài công việc, tôi cố gắng không có những tiếp xúc thân mật với nó. Đôi ba lần tôi gặp nó ở nhà chú. Tôi thấy mắt nó nhìn vợ chú khác lắm, nhưng tôi không dám nói, vì tôi nghĩ, dù sao nó cũng không đến nỗi mạt hạng.


Tôi điều nó qua phòng vật tư, vì nó ăn cắp. Chú ngạc nhiên lắm hả? Nó đạo văn người khác. Chuyện thế này, từ sau ngày chú đi, nó không thể tự lực viết nổi bài báo nào mà tôi khả dĩ có thể duyệt. Tôi biết là trước đây chú giúp đỡ nó nhiều, còn nó, không muốn thừa nhận điều đó. Vì nếu thừa nhận, có nghĩa là nó cần phải học hỏi nhiều hơn, cố gắng nhiều hơn, mới có thể thành nhà báo được. Nhưng nó không muốn thừa nhận điều đó. Nó muốn đốt giai đoạn, muốn mình thành tài năng ngay. Nó đã chọn con đường ăn cắp. Nó xuống bộ phận tư liệu, mượn các văn bản lưu của các chương trình phát thanh binh vận, đạo từng đoạn từng đoạn trong các bài viết đó, sao chép thành bài viết của mình. Việc đạo văn khá tinh vi, vì thế, vài bài viết đầu của nó, tôi chỉ linh cảm thấy một cái gì đó rất khác, như là sự lên tay bất thường của một cây bút, tôi vẫn duyệt và cho phát. Nhưng tới bài thứ tư thì tôi phát hiện ra. Cũng do tình cờ mà thôi. Bài viết nó đưa tôi duyệt, vì nó đạo lười, nên giữ nhiều chi tiết bài viết của chương trình binh vận quân đội mà tình cờ tôi mới nghe. Thế là, việc làm của nó trần truồng như một con điếm lớn giọng bảo người ta cưỡng hiếp mình. Đưa ra hội đồng kỷ luật chăng? Câu hỏi đó đến cùng với những hình ảnh của chú. Chú đã giới thiệu nó với tôi và chú đã gửi gắm nó. Tôi thấy không nỡ, vì dù sao, cũng để cho bộ mặt của nó sạch sẽ, bởi nó còn cần được làm việc...


Nó khóc với tôi và năn nỉ xin tôi cho chuyển qua phòng vật tư. Tôi biết, qua bên vật tư nó cũng sẽ lại ăn cắp nhưng dù sao cũng khuất mắt mình. Từ đó nó đi chạy hàng và tỏ ra thích thú với công việc.


- Chị Ba và cháu Hùng hồi này thế nào? - Mạnh lái chuyện, bởi anh không đủ can đảm nghe thêm một lời về Thế.


- Chị đi sơ tán trên Vĩnh Phú. Còn thằng Hùng đã học năm thứ ba vật lý ở Lômônôxốp.


- Trời ơi, nó lớn lẹ vậy?


- Ngày chú đi, nó học lớp năm.


- Anh ăn cơm tập thể?


- Tôi tự nấu lấy. Sáng dậy sớm vừa tập thể dục, vừa nấu cơm, ăn lót dạ một bát, rồi ủ lại trưa về ăn. Ăn một mình cũng chẳng bận rộn lắm, chai xì dầu là xong.


Anh hình dung cuộc sống hàng ngày của anh Ba không khác gì cuộc sống của già làng, của Ama Dú. Khác chăng, ở các buôn làng Êđê người ta không đào hầm cá nhân, không có các loa công cộng báo tin máy bay Mỹ cách Hà Nội bao nhiêu kilômét.


- Tôi nghĩ, dù sao chú cũng nên gặp hai mẹ con cô ấy.


- Họ không đi sơ tán sao anh? - Câu hỏi chỉ để hỏi. Hôm rồi trốn viện về nhà, anh đã mục kích cuộc sống của họ.


- Hai vợ chồng không chịu đi sơ tán. Luôn cả mấy đứa nhỏ cũng ở lại thành phố. Cơ quan nói mãi, Thế mới chịu cho thằng Út về quê ngoại.


- Họ định thách đố với máy bay Mỹ.


Anh Ba cười:


- Chẳng ai muốn đi sơ tán cả, kinh tế các gia đình gay go lắm, cơ quan, khu phố có vận động đi sơ tán, họ cũng chỉ bồng bế nhau đi vài ngày lại về. Người này ở, người khác ở, dân ra cũng đông. Người ta bảo nhau: Máy bay Mỹ đến, chưa chắc ném bom, bom ném chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã chết. Với thằng Thế, thà bom ném chết còn hơn là ngày hai bữa không có người hầu.


- Họ sống thế nào?


- Về khoản xoay sở, phải nói là thằng đó giỏi. Buôn đầu nọ, bán đầu kia, có vẻ kiếm được, lúc nào cũng có tiền. Nhưng đối xử với vợ con thì hơi tệ.


- Nghe nói nó thường xuyên hành hạ hai mẹ con cô ấy?


- Tôi không rành lắm. Chỉ thấy cô ấy với cháu Mai Vàng sa sút. Con nhỏ người cứ đét lại, lầm lì suốt ngày. Hôm nọ tôi gặp nó ở khúc đường Phố Huế, tôi không nhận ra nó, mãi khi nó chào, mới đớ người ra.


Trước mắt anh lại hiện ra hình ảnh Mai Duyên anh gặp hôm anh trốn viện về thăm nhà. Nó líu lo kể cho anh nghe về bé Mai Quảng của nó, chắc thằng bé mũm mĩm và đáng yêu lắm. Anh như trông thấy thằng bé đang ngồi trên tay ông ngoại, đi dưới đường làng rợp bóng dừa. Ông ngoại bế thằng bé đi khoe với cả làng. Còn cô ấy, ai cũng nói gầy lắm. Bà ngoại mắng con gái quần quật suốt ngày, người chỉ còn là cái xác ve. Người Hơben đâu đến nỗi thế. Hơben không có mỡ, không phúng phính, nhưng chắc nịch, bắp thịt nào ra bắp thịt ấy, rắn rỏi, khỏe mạnh. Hồi ở với anh, Cúc mũm mĩm lắm mà. Người đàn bà gầy như xác ve thì còn đâu là sức sống. Người đàn bà như thế, chắc chắn phải chịu bao nhiêu cơ cực, đắng cay. Còn Mai Vàng, chị ấy học dốt lắm bác ạ, bố cháu đánh đòn chị ấy luôn. Mai Duyên líu lo như chẳng muốn giấu anh điều gì. Anh nghe mà như cảm thấy ngàn vạn mũi tên nhắm bắn vào mình.


- Nghe nói cậu đã trở thành một người Êđê thực thụ?


- Nếu em biết tất cả mọi chuyện ở đây, thì chắc em đã xin ở lại hẳn trong đó, làm nương, làm rẫy, ở nhà sàn, lấy một cô vợ Êđê.


- Sống với họ, cậu thấy thế nào?


- Họ chân chất lắm, con người lắm.


- Cậu hoạt động chính trị ở vùng nào?


- Đắc Lắc.


- Các cô gái có đẹp không?


- Vùng nào cũng có người đẹp cả. Điều quan trọng là sắc đẹp ấy như thế nào, hoa thơm hay hoa độc.


Anh Ba lặng người. Tâm hồn Mạnh đau đớn quá. Anh Ba không muốn lan man câu chuyện, bởi anh hiểu, nói với Mạnh điều gì vào lúc này cũng khiến Mạnh liên tưởng tới bi kịch của đời mình.


Mạnh cũng hiểu phút lặng của anh Ba. Anh gượng cười, nét mặt rạng ra.


- Sáng chủ nhật này em sẽ tới anh Ba. Anh đãi em một bữa cơm rau, được không?


- Sao lại cơm rau. Tôi sẽ ra chợ mua con gà và rượu, anh em ngồi nhâm nhi.


- Em chỉ thèm cơm rau thôi.


- Rau gì?


- Canh dưa nấu cá thì tuyệt nhất.


- Được thôi. Có khi chủ nhật này chị chú cũng về, chị chú mà làm bếp khỏi chê.


- Như vậy càng hay, em cũng mong gặp chị.


Anh nhìn theo anh Ba đi khuất cổng bệnh viện mới lững thững trở về giường bệnh của mình. Một cái gì đó thuộc về cảm xúc, chẳng biết vui hay buồn, lâng lâng trong lòng anh.


*


Ama Dú cử anh về Nam Sông Ba cùng với Yblem và Hơben. Vùng này bọn địch mới lập ấp chiến lược, các buôn Mùng, buôn Dú, buôn Đun, buôn Đrâyda, đều nằm trong vòng kìm kẹp của chúng. Đồn giặc áp sát buôn, chòi canh cao vút, đêm đêm ánh đèn dọi ra từ con mắt cú.


Nhưng người dân Êđê từ bao đời nay sống với núi rừng, quen từng gốc cây, ngọn cỏ, thuộc từng bước thú đi, không một hàng rào nào có thể ngăn cản bước chân họ ra với núi rừng. Hơben lọt vào buôn Mùng và chỉ sau ba ngày đã vận động được mười bốn thanh niên vượt ấp chiến lược ra rừng lập đội du kích. Yblem làm đội trưởng. Ama Vàng xin huyện chi viện cho đội AK, tiểu liên và một khẩu B40. Anh hướng dẫn cho toàn đội sử dụng vũ khí. Ai cũng nô nức tập luyện và chờ lệnh đánh đồn, phá ấp chiến lược, giải phóng buôn làng.


Một đêm không trăng, đoàn người nép vào bóng đêm, từ rừng sâu đi ra. Đi đầu là Ama Vàng, theo sát chân anh là Yblem. Hơben đã vào ấp từ sáng, thưa với già làng, khi nghe tiếng súng của du kích thì cùng đồng bào nổi dậy phá ấp.


Đoàn quân bò sát vào đồn giặc.


Ama Vàng hội ý với Yblem phải tiêu diệt ngay tên lính trên chòi canh. Yblem gật đầu, lẳng lặng trườn mình bò tới, khẩu AK giương lên, một loạt đạn nổ gọn đanh, tiếng rú của tên lính gác chìm trong tiếng đạn.


Yblem tỳ khẩu B40 trên vai. Ngay phát đạn đầu tiên những thùng xăng của địch đã bốc cháy. Lửa phừng phừng ngút trời. Rừng bừng dậy, những con mắt lá mở lớn. Tiếng súng nổ rền vang. Tiếng hô xung phong và tiếng la hét, bắn trả của địch. Những ngọn đuốc từ trong ấp thắp sáng, tiếng reo hò vang dậy. Bọn giặc hoảng loạn, chạy tứ phía. Du kích đuổi theo từng tên, truy kích đến tận cùng tiếng rú.


Buôn Mùng giải phóng.


Già làng đưa cây đuốc sáng rực cho Irít đang chạy kế bên, lao lại ôm lấy Ama Vàng.


Dân làng vây quanh những đứa con du kích thân yêu của mình. Niềm vui giải phóng bừng lên trên mặt mọi người.


Những bát rượu trao tay nhau hoan hỉ.


Già làng sang sảng giọng trước dân làng:


- Xin dân làng hãy nghe tôi nói. Buôn Mùng ta hết cái đồn giặc rồi, giải phóng rồi, buôn Mùng ta lại có cả đội du kích nữa. Avốc Hồ đã cho Ama Vàng về đây giúp người Êđê chúng ta đánh giặc. Bà con buôn Mùng không bao giờ quên ơn Ama Vàng. Yblem đâu rồi, Hơben đâu rồi, tụi bay là những đứa con giỏi nhất của người Êđê, hãy vít cần rượu cùng Ama Vàng uống mừng chiến thắng.


Già làng nói xong, trịnh trọng bước lại vít cần rượu đặt lên môi. Ama Vàng, Yblem, Hơben cũng bước lại làm theo mệnh lệnh của già làng. Tiếng reo hò ngất trời.


Đêm mừng chiến thắng ấy, làm sao anh quên được...


Linh hồn lại để thân xác anh nằm đó, lẻn đi, bước chân lang thang theo những con đường ghi dấu những kỷ niệm. Hồ Hoàn Kiếm, mấy giao thừa anh đưa Cúc đi hái lộc? Tết năm sáu mốt người Hà Nội ăn to lắm. Đó cũng là cái tết cuối cùng anh ăn trên miền Bắc để đi B. Đầy chặt các giao lộ quanh hồ, người ta tổ chức khiêu vũ, Cúc và anh đều không biết nhảy, chỉ đi xem thôi...


Đêm giải phóng buôn Mùng, con gái Êđê hát múa quanh đống lửa. Điệu múa của cổ, của vai, của ngực, của mông duyên dáng lắm.


Anh cứ đưa Cúc đi như thế, hết bài khiêu vũ này, tới bài khiêu vũ khác. Người chặt như nêm, nhưng hài hòa thanh lịch trong giai điệu nhạc. Anh cảm thấy ai cũng đưa mắt nhìn anh và Cúc. Bởi vì Cúc của anh đẹp quá, lạ quá, cứ như một bông hoa mà người ta chưa biết tên gọi của nó là gì.


Anh bẻ cho Cúc một nhành lộc trên một cây xanh trước cầu Thê Húc, chỉ tiếc, anh không biết cây lộc ấy tên gì. Cúc cầm nhánh lộc trong tay đi tung tăng. Ai cũng ngỡ hai người là cặp tình nhân, chưa phải vợ chồng. Chiều nay, đưa Mai Vàng về ngoại, gọi là chúc tết, nhưng thực ra là về ăn bóng. Ngoại cho cặp gà, cho năm cái bánh chưng và hai chục bánh gai. Thế là thành tết. Bù lại, hai vợ chồng để Mai Vàng ăn tết với ông bà. Vợ chồng được son rỗi, dung dăng.


Gái một con trông mòn con mắt. Không ngoa đâu. Người đàn bà trẻ, ở tuổi đôi mươi, sinh lực tràn trề lắm, thời gian thai nghén, ăn uống đủ chất, sinh con, lại được bồi dưỡng đầy đủ, máu huyết thay đổi, mập ra, trắng ra, cơ thể chỗ nào cũng nây nẩy, làm gì trông chẳng mòn con mắt.


Ngày Cúc sinh Mai Vàng, anh là người phá lệ kiêng khem của các cụ. Anh cho Cúc ăn đủ mọi thứ, từ trứng gà, tới trái cây, tới thịt bò, cả cá nữa. Tội gì phải kiêng khem, sức em vượt lên đè được tất cả. Bữa nào anh cũng dỗ Cúc ăn như dỗ trẻ con. Cúc không chịu ăn, anh giận. Cúc đẹp ra cũng vì những cái giận của anh.


Mọi chuyện tưởng như mới ngày hôm qua. Cành lộc anh hái trên cây trước lối lên cầu Thê Húc, như là chưa kịp héo...


Lúc này, ngay cạnh cây lộc đó, người ta xây một chiếc hầm khá kiên cố tránh bom Mỹ.


Linh hồn lén vào hầm. Đen thui, tối bưng, chẳng một linh hồn, chẳng một người. Vì không báo động. Một thứ âm ẩm, nhơn nhớt của hơi người, hoi nước tiểu, cả mùi phân nữa. Cái gì công cộng cũng nhơ nhớp như vậy.


Cuộc chiến tranh đã đi qua tàn khốc và tai quái. Ví như không có chiến tranh, số gạch để xây những căn hầm như thế này có xây được những trường học và nhà ở? Căn nhà của anh chưa kịp xây, vẫn là rơm và bùn nhão trộn trát thành vách.


Một làn gió lạnh lùa vào hầm. Linh hồn anh chợt sởn gai ốc. Hồn ma một cặp trai gái rượt đuổi nhau, ma trai đã nắm được tay ma gái.


- Cho anh xin lỗi.


- Tôi cần gì lời xin lỗi của anh.


- Nếu em không cho anh xin lỗi, thì linh hồn anh chẳng bao giờ được siêu thoát, anh sẽ bị đầy vào hoang mạc cô đơn.


- Mặc anh.


- Sao em tàn nhẫn với anh đến thế?


- Anh còn tàn nhẫn với tôi gấp triệu lần.


- Không, lòng anh chỉ yêu em.


- Anh nói dối. Anh nói anh yêu tôi, nhưng chẳng bao giờ anh muốn cưới tôi làm vợ. Lúc nào anh cũng nói là anh cần phấn đấu, anh cần chăm lo hạnh phúc của triệu người. Tôi đã năn nỉ anh dù có lo cho hạnh phúc của toàn nhân loại đi nữa, thì cũng đừng quên lo hạnh phúc của anh và của tôi. Tôi hằng ước mơ một buổi sáng chủ nhật, tôi được làm cô dâu và anh làm chú rể, chúng ta đi bên nhau giữa hai họ, giữa bạn bè. Nhưng tôi và anh đã chết đi cùng ước mơ đó.


Ma trai vươn tay kéo ma gái vào vòng tay xương xẩu của mình. Ma gái nói như nấc lên:


- Còn gì nữa đâu mà anh ôm tôi, anh hôn tôi. Lúc da thịt tôi đầy đặn, nẩy nở, lúc tôi thèm khát làm vợ, làm chồng, thì anh...


- Em...


- Bây giờ chúng ta chỉ còn là hai hồn ma!


- Chúng ta phải lấy nhau, nếu không mãi mãi chúng ta là những cô hồn, không nhà không cửa...


- Dưới cõi âm làm gì có phòng khai hôn thú. Anh hãy buông tha tôi ra, cứ mặc tôi vật vờ cô hồn.


Ma gái khóc nấc. Ma trai ủ đầu người yêu vào ngực và cũng khóc.


Linh hồn đột nhiên cảm thấy ma gái phảng phất gương mặt Cúc, phảng phất gương mặt Hơben.


Anh lẳng lặng bỏ căn hầm, ra ngoài, tiếng khóc của cặp ma còn như đuổi theo anh.


Đường Lò Đúc. Những hàng cây sao. Cả Hà Nội chỉ có con đường này trồng sao. Những thân cây cao vút đậu rợp cò trắng. Trẻ con gọi khu phố này là hang "Cò Ỉa". Chẳng biết những tay súng săn, hay tiếng máy bay gầm rít đã xua đuổi hết cò. Những cây sao mất hẳn vẻ đẹp thiên nhiên của mình.


Hai bên vỉa hè, năm chục thước lại một hố cá nhân có nắp đậy. Những hố cá nhân này được sản xuất hàng loạt bằng xỉ than và xi măng.


Trường Mầm Non gần rạp Mê Linh anh thường dừng lại mỗi khi đi làm về. Chỉ ao ước Mai Vàng lớn thêm một tuổi nữa, để gửi con vào đây cho các cô nuôi dạy. Nhưng anh đã ra đi trước khi Mai Vàng kịp lớn.


Lại cây dừa, lại căn nhà bên bờ rau muống. Linh hồn anh vơ vẩn quanh quất bên ngoài.


Thế đang ngủ ngồi trên chiếc ghế bố, thở phì phì như lợn, nhe hàm răng to thô, lởm chởm râu. Anh quyết định đánh thức linh hồn Thế dậy. Thế! Anh gọi. Con chó sói mở mắt, ngáp dài và định ngủ lại. Anh gọi lần nữa. Nó choàng mắt, nhận ra anh. Vốn là linh hồn sói, nó thật thính mũi và nhanh nhẹn. Nó lao vút toàn thân vào gầm giường như chui vào hang. Thế! Anh gọi liên hồi. Nó không đáp lại, chỉ thấy hai chân trước của nó chụm vào nhau, sát đất đang run lên bần bật. Tại sao nó run sợ? Linh hồn chó sói đâu có sợ linh hồn người. Anh chợt hiểu, có lẽ nó sợ khẩu súng lục anh giắt theo bên mạng sườn. Ta không bắn mày đâu. Anh vừa nói vừa quăng khẩu súng lục lên trời. Khẩu súng bay đi như một cánh quạ đen. Thế! Ra đây. Tôi muốn nói chuyện với chú một cách nghiêm chỉnh. Nào, ra thì ra. Thế khạng người chui từ trong gầm giường và đứng thẳng dậy với thân hình cao lớn, lực lưỡng của nó.


- Ông anh còn sống hả? Về khi nào sao không cho thằng em hay?


- Chú vẫn mạnh giỏi?


- Nhờ trời, Thiên Lôi vật tôi cũng không chết được. - Thế sồn sột cào tay vào bụng rồi đắc chí nghêu ngao. - Xưa em vốn ở trên trời, đứt dây rơi xuống làm người trần gian. Còn anh, bom đạn Mỹ hàng rồi phải không?


- Chú bất ngờ vì tôi không chết?


- Bậy. Anh chết, tôi lợi lộc cái gì mới được chứ.


- Tôi mới đi được hơn năm, chú đã bày đặt ra cái chết của tôi để lấy Cúc.


- Tôi cần gì phải bày đặt ra cái chết của anh. Còn chuyện lấy Cúc... Tôi cần phải cứu cô ấy khỏi sự bỏ rơi.


- Chú đã dựng chuyện những bức ảnh tôi gửi chú lem máu.


- Chuyện đó có.


- Máu của ai?


- Máu của ai chẳng vậy. Tôi khía nhẹ lưỡi dao lam vào ngón tay là có máu. Một vài giọt đủ di lem hai bức hình.


- Quân giết người!


- Tôi định không cần đến cách đó, nhưng lương tâm Cúc cắn rứt, cô ấy sợ người đời cười chê. Lập bàn thờ cho anh, cô ấy yên lòng hơn. Nếu anh chưa quên, thì ngày anh đi B, chính tôi đã can anh đừng đi. Anh không nghe, anh háo hức thực hiện lý tưởng đẹp đẽ của mình. Với tôi đó chỉ là thứ xa xỉ. Anh đã bảo tôi là thằng vô lại. Dù anh có bảo tôi là thằng súc vật đi nữa thì tôi vẫn cứ là tôi. Sự ra đi của anh, với tôi có nghĩa là anh đã chết. Và tôi có bổn phận thực hiện lời trăn trối của anh, chăm lo cho vợ của anh. Lúc đầu, tôi cũng nói với vợ anh như thế, nhưng suy nghĩ của đàn bà nông cạn, cô ấy không chịu tin. Chuyện những bức ảnh lem máu chỉ là cách để cô ấy yên lòng...


- Quân lường gạt xảo trá!


- Anh là anh kết nghĩa của tôi. Cô ấy là chị dâu tôi. Nhưng nói là nói vậy, chứ giữa tôi với anh đâu cùng máu mủ. Tôi có lấy vợ anh cũng chẳng phải loạn luân. Lúc nãy anh bảo tôi là quân lường gạt xảo trá, còn anh, anh là thứ người gì? Anh đã bỏ rơi vợ con anh để chăm lo cho cái danh của mình. Tôi đã phải vượt qua mọi hàng rào lễ giáo, vượt qua dư luận để cưu mang cô ấy và đứa con gái của anh. Tôi không làm như thế, thì kẻ khác cũng làm. Vợ anh không thể chờ anh được, cô ấy đẹp, tuổi xuân hơ hớ, thiếu đàn ông sao được.


- Bẩn thỉu!


- Người ta còn gọi tôi là đồ chó má. Đối với anh thì đúng là tôi chó má thật. Nhưng chó má thì đã sao? Anh ra trận, với quan niệm làm nghĩa vụ của người con trai đối với đất nước. Tôi không đủ can đảm để làm như anh, mà nếu có can đảm tôi cũng không làm như thế. Người ta sinh ra ở đời chỉ sống có một lần. Paven[1] sống kiểu Paven, còn tôi, tôi sống kiểu Vương Thế. Tôi cần có rượu thịt. Mặt trận làm gì có rượu thịt. Tôi cần đàn bà. Mặt trận làm gì có đàn bà. Không có rượu thịt, không có đàn bà thì tôi không sống được. Anh không cần đàn bà nên anh mới bỏ người vợ xinh đẹp mà đi. Còn tôi, tôi cần đàn bà, lẽ nào tôi nhắm mắt trước sắc đẹp của cô ấy. Tôi chó má như thế đấy anh ạ.


(còn tiếp)


Nguồn: Linh hồn lang thang. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên Bẩy. NXB Văn học, 11-2011.


www.trieuxuan.info


 







[1] Paven Corsagin, nhân vật chính trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của Nikolai Alexeevich Ostrovsky, nhà văn Ucraina. – NBT.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 16.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »