tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21079738
24.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (12)

LỊCH SỬ BỊ NHÌN LỘN NGƯỢC
(Thưa lại cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi.)


Đọc bài “Đôi điều thưa lại cùng ông An Chi” của giáo sư Nguyễn Huệ Chi trên talawas.org ngày 16.5. 06, chúng tôi nhận ra, trong khi làu thông sách Tàu thì người viết lại có cái nhìn chưa thỏa đáng về văn hóa và lịch sử Việt.


Chúng tôi xin mạo muội thưa lại cùng ông đôi lời.


1. Nguyễn Du lấy chữ “mày ngài” từ đâu?


Không hiểu sao, chẳng cần một lý giải nào, ông Huệ Chi lại quyết đoán rằng Nguyễn Du đã lấy chữ “mày ngài” từ Tam quốc diễn nghĩa? Nếu như chúng tôi thưa lại: “Không phải đâu, Nguyễn Du không lấy ở Tam quốc mà từ kinh Thi” thì ông bảo sao? Cố nhiên là Tố Như phải học Thi trước khi đọc tiểu thuyết Tàu. Mà đã học Thi thì không thể không đọc bài Thạc nhân: trăn thủ nga my. Nếu học được chữ “nga my” từ kinh sách thì sách đó phải là Thi. Viết đến đây bên tai chúng tôi bỗng vọng lên giọng nói xứ Nghệ: “Tiểu tử trật rồi! Cố nhiên là phải học Thi. Nhưng mắt phượng mày ngài thì choa biết từ khi dái còn bằng hột mây cơ! Choa nhớ, hồi đó ở làng có o Huyền con ông Cả Thiện, xinh chi mà xinh. Choa chả biết o xinh ở lỗ mô nhưng mỗi khi nhìn o, choa lại mê mẩn cả người. Rồi một bữa nghe bà nội nói: “Con gái Cả Thiện xinh chi xinh lạ, mày ngài mắt phượng…” Từ đấy hai chữ mắt phượng mày ngài chôn sâu trong lòng choa!” Cố nhiên, chẳng có Nguyễn Du nào nói với chúng tôi như vậy. Nhưng ai dám bảo rằng, trước cả Thi, Nguyễn Du đã không học mắt phượng mày ngài từ dân dã?


Tới đây, có thể ông Nguyễn Huệ Chi và cả ông An Chi cùng cười ồ: “Có gì lạ đâu? Chính là chữ của kinh Thi Tàu đã thâm nhập dân gian Việt qua hàng nghìn năm đô hộ! Có nghĩa là Tàu vẫn hoàn Tàu, 100% made in China,” như có lần ông Huệ Thiên (An Chi) khoái chí reo lớn!


Vấn đề này chúng tôi đã trình bày trong bài Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt? đăng trên talawas, ở đây chỉ xin nói vắn tắt: Mày ngài là yếu tố văn hóa của dân trồng dâu nuôi tằm đất Việt phương Nam, đã theo chân người Việt thiên cư tới bờ sông Hoàng rồi ở thời Nghiêu, Thuấn được góp vào kinh Thi. Như vậy, có thể nói mà không sợ hàm hồ: chữ mày ngài là bản quyền của người cấy lúa trồng dâu đất Việt. Nguyễn Du đã học được từ tổ tiên xưa chứ không cần chờ đến lúc học Thi và lại càng không phải từ Tam quốc diễn nghĩa!


2. Ai dạy ai nuôi tằm, ai mượn chữ của ai?


Toàn bài viết của ông Huệ Chi toát lên ý tưởng: Nguyễn Du đã lấy chữ mày ngài từ sách Tàu, không sách này thì sách khác. Ở chú thích số 3 ông ghi: “Cần chú ý thêm: tại sao người Nam Bộ nói “mắt phụng mày tằm” mà không nói “mắt phượng mày ngài”? Phải chăng “ngài” là bắt nguồn từ “nga” trong chữ Hán nhưng Việt hóa triệt để hơn và sớm hơn “tằm” bắt nguồn từ “tàm”? Cũng vậy “phượng” có gốc là “phụng” nhưng đã được Việt hóa triệt để hơn “phụng”. Và trong quy luật đồng bộ của ngôn ngữ vần vè tiếng Việt, đã phát âm Hán Việt ở danh từ này thì cũng phải phát âm Hán Việt ở danh từ kia tương ứng với nó và ngược lại? Từ đây có thể suy đoán xa hơn: nghề trồng dâu nuôi tằm vốn không có ở nước ta mà du nhập từ Trung Quốc, (HVT nhấn mạnh) cho nên buổi đầu người Việt lẫn lộn “tàm” = con tằm với “tàm nga” = con ngài, và đã gọi tỉnh xưng là “con ngài” để chỉ cả hai. Rất lâu về sau mới gọi phân biệt “ngài” và “tằm”. Nếu đúng như thế thì “mày ngài” = “mày tằm” hiện còn bảo lưu ở vùng Nghệ Tĩnh như Nguyễn Đức Vân nói là điều dễ hiểu.”


Trong đoạn văn trên, ông cho rằng những chữ ngài, tằm, phượng, phụng… đều là những chữ mượn của Trung Quốc, đang trên đường Việt hóa ở mức độ khác nhau. Rồi từ đó ông suy đoán xa hơn: nghề trồng dâu nuôi tằm vốn không có ở nước ta mà du nhập từ Trung Quốc (!)


Thật không ngờ lại có cái nhìn lịch sử bất cẩn như vậy!


Đúng là, các nhà khảo cổ đã tìm ra chứng cứ đầu tiên về nghề tằm tang trên đồ đồng thời nhà Thương (1783 TCN)(1). Nhưng chỉ theo đó mà cả quyết rằng nghề này tới nhà Thương mới có là kết luận võ đoán.


Chẳng cần suy nghĩ nhiều thì người ta cũng luận được rằng, vùng nhiệt đới với khí hậu nóng ẩm, cây cối sinh trưởng nhanh thích hợp với sự sống của côn trùng nên thuận tiện cho nghề nuôi tằm. Con tằm là vật nuôi của dân nông nghiệp sống định cư chứ không thể của người du mục luôn di chuyển. Muộn lắm, việc nuôi tằm cũng xuất hiện trong văn hoá Hoà Bình khoảng 10.000 năm TCN và chắc chắn rằng vào 3000 năm TCN, người Mông Cổ là những bộ lạc thiểu số du mục ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc chưa biết gì đến nghề này! Vì vậy nghề tằm tang phải là bản nghệ của người Việt nông nghiệp. Không phải ngẫu nhiên mà vùng Kinh Bắc có làng Dâu với bà Chúa Dâu! Chính qua việc chăn tằm ăn cơm đứng mà từ xa xưa người Việt cổ phát hiện ra vẻ đẹp của bộ râu con ngài rồi liên tưởng đến lông mày đàn bà, từ đấy thành ngữ “mày ngài” ra đời. “Mắt phượng” cũng được khai sinh tương tự. Phượng là con chim phương nam, sống gắn bó với dân nông nghiệp. Từ quan sát trời đất, muông thú mà người Việt nông nghiệp phát hiện ra mắt phượng.


Khi đi lên khai phá phía Bắc, người Việt cổ- Việt bộ Mễ trồng lúa nước, tiếp bước lớp người tiên phong Việt bộ Qua mang theo rìu đá- đem văn hóa tằm tang lên vùng núi Thái, sông Nguồn. Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ sống du mục ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc tràn qua Hoàng Hà, xâm chiếm đất của người Bách Việt, lập ra thời đại Hoàng Đế. Giống như người Mông Cổ hay Mãn Thanh xâm nhập Trung Quốc sau này, do nhân số ít và văn hóa thấp nên người Mông Cổ bị người Bách Việt bản địa đồng hóa cả về di truyền cả về văn hóa. Tộc Mông Cổ nắm quyền lãnh đạo xã hội chấp nhận tiếng nói phong phú của dân Miêu Việt vào kho từ vựng chung, nhưng trong vai trò kẻ thống trị, họ cưỡng chế dân Miêu phải nói theo cách nói của người Mông Cổ. Cũng lúc này lớp người lai giữa sắc dân Mông Cổ và dân Bách Việt, gọi là chủng Mongoloid phương Nam xuất hiện và mau chóng chiếm đa số trong cộng đồng. Chủng người lai này về sau được gọi là người Hán. Người Hán dùng chữ Khoa đẩu của người Việt để ký tự những từ vựng này. Cũng từ những ký tự tượng hình của người Việt, người Hán cải tiến thành chữ vuông. Toàn bộ từ vựng được viết theo chữ vuông: công cuộc Hán hóa từ vựng của người Việt bản địa hoàn thành. Tuy nhiên, do sức sống đặc biệt của tiếng Việt nên dù hàng ngàn năm thực thi xa đồng quỹ thư đồng văn, trong từ vựng Hán vẫn có những từ thuần Việt như Thần Nông, Nữ Oa, Đế Nghiêu, Đế Thuấn… Và trong kinh Thi có hàng chục trường hợp còn giữ được ngay cả cách nói Việt như trung tâm, trung cốc, trung lâm…Đó là những hóa thạch ngôn ngữ cho thấy tiếng Việt hòa nhập vào ngôn ngữ Hán. Từ phát hiện này, ta ngộ ra rằng: sự thật lịch sử diễn ra trái ngược với những gì chúng ta vẫn tin tưởng xưa nay. Không phải người Việt mượn tiếng của người Hán mà chính là người Hán đã mượn của người Việt. Vạch ra điều này không vì lòng tự tôn hay tự ti dân tộc mà chính là hành vi khoa học và nhân văn: làm sáng tỏ lịch sử và góp phần tìm lại cội nguồn văn hóa của người Việt.


3. Thay kết luận


Một điều chúng tôi băn khoăn là không hiểu vì sao nhiều nhà khoa bảng người Việt bị cầm tù lâu đến vậy trong hai ngục chữ là thư tịch cổ Trung Hoa và sách của nhiều học giả Pháp thời thực dân? Ở thời điểm trước những năm 90 của thế kỷ XX điều này còn có thể hiểu được: chúng ta bị bao vây cấm vận nên thiếu tư liệu, đành phải làm cái việc chẳng đặng đừng gà què ăn quẩn cối xay, xào xáo thư tịch cũ.


Nhưng từ những năm gần đây, tình hình đã khác nhiều lắm: chúng ta mở ra tiếp cận với hầu như mọi chân trời nhân loại. Thêm nữa, nhờ Internet ta có thể vào đọc hầu hết các kho tàng văn hóa. Biết bao điều mới mẻ quý giá được công bố. Nhưng không hiểu sao nhiều nhà khoa bảng của chúng ta như vẫn còn ngơ ngác lạc trong cõi mê?


Xin đưa ra một dẫn chứng: ngày 29/9/1998 tờ Los Angeles Times đưa tin: Jin Li, nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa, thành viên của Dự án Đa dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Deversity Project), thông báo một tin chấn động giới khoa học tại Washington: "Công trình của chúng tôi cho thấy con người hiện đại trước hết đã đến Ðông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa." "Từ Trung Ðông men theo bờ Ấn Ðộ Dương, ngang qua Ấn Ðộ đến Ðông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ."(1)


Thật đáng tiếc là một phát kiến quan trọng làm thay đổi hẳn cách nhìn về tiền sử của dân tộc lại hầu như không ai trong nước biết đến, trong khi nhiều người vẫn yên trí rung đùi với mớ kiến thức mốc meo của mình.(1)


Một thí dụ khác, vào những năm 70, học giả Lương Kim Định trong sách Việt lý tố nguyên đưa ra những nhận định về lịch sử và văn hóa rất mới lạ. Nhưng rồi sau đó do bảo thủ, do tính ù lỳ tri thức và cả thành kiến tôn giáo, phát kiến mang ý nghĩa cách mạng về văn hóa dân tộc bị gác bỏ. Đến nay, nhờ những thành quả mới nhất của công nghệ gene về cội nguồn người Việt, nhiều ý kiến của giáo sư Kim Định được khẳng định. Thế nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu vẫn u mê rị mọ trong vòng kiềm toả của những giáo điều không chỉ cũ rích mà còn lạc hướng.


Do chủ quan tự mãn, do thói ù lỳ trí thức, do tác động ngu dân của những kinh điển Tàu-Tây nên chúng ta nhìn lịch sử và văn hóa của mình lộn đít lên đầu!


Phải chăng đó cũng là vấn nạn của dân tộc?


Tháng 5.2006


SỰ PHẢN THÙNG CỦA TRI THỨC


Tôi là người chịu ơn học giả Lê Mạnh Thát. Bơi trong biển kiến thức mênh mông Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam của ông, tôi tìm đến được cội nguồn đạo Phật nước ta và nhận ra sự đóng góp cực kỳ lớn lao của Phật giáo đối với văn hoá Việt. Như một duyên may, trong khi tôi lật kinh Thư, Thi, Dịch mò tìm dấu vết ngữ pháp tiếng Việt trong thư tịch Trung Hoa cổ thì lại được ông dọn sẵn cỗ cho từ công trình phân tích những yếu tố ngôn ngữ Việt trong Lục độ tập kinh. Mạn phép ông, tôi chép một đoạn dài vào bài viết Tiếng Việt chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán của mình.(1)


Tuy nhiên, tôi không thể chia sẻ với vị học giả đáng kính ý tưởng phủ định thời An Dương Vương và Triệu Đà trong lịch sử dân tộc khi ông nói: “khoảng năm 400 xuất hiện truyện An Dương Vương và Triệu Đà phỏng theo bản anh hùng ca Mahabharata của Ấn Độ.” Trộm nghĩ đó là sơ sót của nhà khoa học lớn rồi với thời gian người ta sẽ quên đi nên tôi không hề có ý định thưa lại cùng ông. Không ngờ, mới đây đọc trên mạng talawas ngày 12/9/2006 bài viết Thục Phán An Dương Vương: Huyền thoại cho sự sống còn của căn tính Việt, thấy ý tưởng của ông bị tác giả Nguyễn Kết đẩy tới cực đoan, tôi buộc phải viết bài này.


1. Huyền thoại hay lịch sử?


Trong không ít trường hợp, huyền thoại là những trang sử bất thành văn viết lên bởi tâm thức cộng đồng rồi được ký ức dân gian ghi nhận và lưu truyền. Với tri thức tích lũy ngày càng phong phú, con người đã chứng minh được nhiều huyền thoại phản ánh những sự kiện lịch sừ từng xảy ra. Truyền thuyết Hùng Vương dựng nước là trường hợp như vậy. Những khám phá khảo cổ học trong thập niên 60-70 ở Việt Nam cho thấy đấy là thời kỳ lịch sử có thật. Đặc trưng của thời kỳ này là sự xuất hiện của đồ đồng ngày một tập trung và tinh xảo mà tập trung và tinh xảo nhất là hàng loạt trống đồng Heger I tìm thấy tại trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, những địa danh xoay quanh đô thị Làng Cả vùng Bạch Hạc mà truyền thuyết nói là nơi đóng đô của nước Văn Lang. Nhiều mộ táng cũng được tìm thấy ở đây mà tiêu biểu là 30 di cốt của chủng Australoid và Mongoloid chôn chung trong di chỉ Mán Bạc, Ninh Bình. Trong không gian và thời gian này, người Mongoloid có mặt và dần dần thay thế những người Indonesien, Melanesien bản địa. Khám phá ra một nền văn hóa đồng thau bản địa cùng với chủ nhân của nó có nghĩa là chúng ta đã khẳng định thời Hùng Vương trong lịch sử dân tộc.


Đấy là kết luận lịch sử khách quan. Tuy vậy, do chưa biết được nguồn gốc của những người Mongoloid này nên có một câu hỏi chưa được trả lời thỏa đáng trong suốt thế kỷ trước: sự chuyển hóa ở đây là do biến đổi di truyền hay do lai giống?(1)


Giữa thế kỷ trước, có giả thuyết cho rằng, người Mongoloid- tổ tiên của người Việt hiện nay- đã từ phương bắc xuống, chiếm đất, tiêu diệt và đẩy người bản địa Australoid lên vùng núi cao phía Tây! Có nghĩa là tổ tiên chúng ta thực dân, tiêu diệt chủ nhân của văn hóa Hòa Bình, nền văn minh đá cuội và nông nghiệp sớm và phát triển nhất của nhân loại! Do mặc cảm về tội tổ tông đó mà sử học của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ít dám nói đến văn hóa Hòa Bình. Khi ông Phạm Văn Đồng Thủ tướng Việt Nam giao nhiệm vụ cho các nhà sử học chăm bẵm chỉ thời Hùng Vương dựng nước, người ta hiểu trong tâm khảm là ông đã bị mặc cảm tội tổ tông chi phối: không lẽ giữa những ngày chống giặc Mỹ xâm lược lại khui ra “tội thực dân” của tổ tiên?


Chỉ cho tới năm cuối cùng của thế kỷ XX, khi Y. Chu, B. Su, Jin Li… tác giả của công trình Đa dạng di truyền người Trung Hoa (Chinese Human Genome Diversity Project) công bố kết quả nghiên cứu của mình, chúng ta mới có đủ nguyên vật liệu dựng được bức tranh toàn cảnh tiền sử Đông Á trong đó có dân tộc Việt. Những đường nét chính của bức tranh như sau:


Khoảng 70.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens từ Trung Đông theo ngả Nam Á tới Trung và Bắc Việt Nam. Tại đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết tạo ra những chủng Indonesien, Melanesien tràn lan khắp lục địa Đông Nam Á. Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á di cư tới châu Úc, sau đó là New Guinea và các đảo ngoài khơi. Khoảng 40.000 năm trước, do băng hà tan, khí hậu trở nên ấm áp, người từ Đông Nam Á đi lên khai thác lục địa Trung Hoa. Do phân bố thời gian dài trên địa bàn rộng, người Đông Nam Á đã phân ly thành những bộ lạc khác nhau mà sau này lịch sử gọi bằng tên chung là Bách Việt. Trong cộng đồng Bách Việt, người Lạc Việt có nhân số đông nhất và giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Trên đất Trung Hoa, trung tâm của Bách Việt là Ngũ Lĩnh ở phía nam và Thái Sơn phía bắc. Người Việt tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông làm những vị vua tổ của mình.


Cũng khoảng thời gian trên, có lẽ là muộn hơn ít nhiều, một vài nhóm Mongoloid từ Đông Nam Á theo con đường Ba, Thục lên định cư tại Tây Bắc Trung Quốc. Đó là tổ tiên của những bộ lạc Mông Cổ thiện chiến sống du mục trên các đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc sau này. Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ du mục vượt sông Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Người Mông Cổ nhanh chóng hòa huyết với dân bản địa tạo ra chủng Mongoloid phương Nam. Bại trận ở Trác Lộc, Đế Lai, cháu cùa Thần Nông bị giết. Lạc Long Quân, một người cháu khác của Thần Nông, làm vua nước Xích Quỷ, cũng là một vị tướng chỉ huy liên quân Việt, đã đưa một bộ phận người Việt lên thuyền theo Hoàng Hà ra biển xuôi về nam, đổ bộ lên vùng Rào Rum Ngàn Hống xứ Nghệ An, lập nước Văn Lang với các Vua Hùng.(1)


Cuộc trở về của Lạc Long Quân là bước mở đầu cho quá trình hồi hương của người Việt. Trong đợt này, Lạc Long Quân và những người theo ông thuộc chủng Indonesien, Melanesien. Những lớp di cư tiếp theo có ngày càng nhiều con lai với người Mông Cổ xâm lăng nên càng về sau, trong dòng người trở về mái nhà xưa, số người mang máu Mongoloid phương nam càng nhiều. Về Việt Nam, những người này hòa huyết với đồng bào của mình và dần dần Mongoloid hóa hầu hết cư dân Australoid bản địa. Theo M. Oxenham, nhà nhân chủng thuộc Đại học Quốc gia Úc, người đã khảo sát di cốt tại di chỉ Mán Bạc, Ninh Bình thì quá trình này hoàn thành vào khoảng 2000 năm TCN: “Người Việt từ trước thời đá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu [Nam đảo] hay Đa đảo Melanesian, nhưng người Việt từ đầu thời đồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hòa giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân số Việt Nam hiện đại, vốn đã tương đối ổn định khoảng năm 2000 TCN.”(2)


Những bằng chứng gene giúp ta giải đáp câu hỏi trước đây không thể trả lời: Tại sao gần như trong cùng một thời gian, chủng Mongoloid phương Nam xuất hiện ở vùng Sơn Tây, Hà Nam bên Hoàng Hà thì cũng có mặt tại sông Hồng sông Mã? Trong khi đó giữa hai vùng đất này là vạn dặm núi non và là địa bàn cư trú toàn tòng của người Australoid? Chỉ có thể là do cuộc di cư của những đoàn thuyền nhân! Một lần nữa huyền thoại được chứng minh: thực sự có cuộc di tản do Lạc Long Quân dẫn dắt.


Như vậy, tiền sử người Việt có hai giai đoạn: lúc đầu từ Đông Nam Á đi lên khai phá Trung Hoa, giai đoạn sau từ Trung Hoa trở về xây dựng nước Văn Lang. Không hề có chuyện chíếm đất diệt chủng!


Thời Hùng Vương có thật trong lịch sử thì thời An Dương Vương rồi Triệu Đà càng không thể là truyền thuyết. Vào thế kỷ III TCN, Đông Á đã có sử. Tuy Sử ký không ghi trực tiếp về An Dương Vương nhưng nhiều tư liệu nói về nhà Thục với dòng họ Khai Minh. Dẫn nhiều tư liệu từ Hoa Dương quốc chí, học giả Nguyễn Đăng Thục cho ta thấy lại con đường phía Tây Bắc Việt Nam đã đưa văn hóa Hòa Bình lên phương bắc cùng sự gắn bó kinh tế văn hóa giữa Ba, Thục và Lạc Việt. Trong hoàn cảnh chủng tộc, địa lý, văn hóa như vậy, việc người Thục chạy về nam, nương náu trên đất Hùng Vương để dựng lại triều đình của mình là điều có thể và đã xảy ra. Thục Phán là nhân vật lịch sử hiện hữu chứ không chỉ là cái bóng của huyền thoại.(1) Với quá đủ những bằng cứ về sử liệu và hiện vật như Loa Thành, (Tùy thư ghi là “Việt vương cổ thành”), mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu… cho thấy hai triều đại trên trong lịch sử Việt Nam là hoàn toàn có thực.


Do đó việc học giả Lê Mạnh Thát cho rằng: “Khoảng năm 400 xuất hiện truyện An Dương Vương và Triệu Đà phỏng theo bản anh hùng ca Mahabharata của Ấn Độ” là thiếu thuyết phục.


2. Có thực ảnh hưởng Ấn Độ?


Từ nhiều ngồn tư liệu, chúng ta có thể hình dung hành trình văn hóa của người Việt thời tiền sử như sau:


Khi lên khai phá mảnh đất ngày nay có tên là Trung Quốc, người Việt đang sống ở tình trạng săn bắt, hái lượm và thủ đắc công cụ ưu việt nhất thời đó là những chiếc búa đá cuội mài bén. Búa đá mài được chế tạo bằng đá cuội cực rắn nên rất sắc và bền, là mặt hàng quý xuất khẩu ra ngoài khu vực. Theo ngôn ngữ thời đó, búa đá được gọi là “việt”. Tộc người làm chủ công cụ đó được gọi là người Việt- chữ Việt viết với bộ Qua.


Khoảng 15.000 năm trước, từ Hòa Bình, nói đúng hơn, từ lục địa Nanhailand và Sundaland, cây lúa, cây khoai sọ được phát minh, giống gà và chó được thuần hóa. Những cây trồng, vật nuôi này được truyền ra xung quanh và tới Trung Quốc. Cho đến 12.000 năm trước, nông nghiệp lúa nước đã phát triển khắp lục địa này. Về văn hóa phi vật thể, người Việt đã biết âm dương, ngũ hành, lịch pháp, phát minh ra bát quái và Dịch. Tại di chỉ Bán Pha 2 tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc đã phát hiện được chiếc bình gốm trên đó khắc cả một câu chuyện bằng loại chữ có những nét giống với chữ cổ đời Thương. Đó là chữ của người Bách Việt. Với một văn bản hoàn chỉnh như vậy, ta chắc rằng chữ đã được sáng chế từ sớm hơn.(1) Lúc này người Việt là vị thần sở đắc cây lúa nước nên chữ Việt được tá âm bộ Mễ.


Khoảng 7500 trước, cơn đại hồng thuỷ xuất hiện, nhấn chìm lục địa Sundaland, Nanhailand và hàng loạt bờ biển Đông Á. Người từ đây dùng thuyền bè di tản tới Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, những hòn đảo phía Đông Thái Bình Dương. Một bộ phận đi về phía Tây đến Ấn Độ, vùng Lưỡng Hà, tới tận Madagascar. Chính những cư dân Đông Nam Á này đã mang nền minh triết phương Đông sang phương Tây, tạo ra bước nhẩy vọt về văn hóa cho phương Tây.


Trong cuốn sách quan trọng Địa đàng ở phương Đông, tác giả S. Oppenheimer tìm ra hàng loạt bằng chứng về cuộc chuyển dịch văn hóa từ Viễn Đông tới Ấn Độ, Mesopotamia: “Khi so sánh gene di truyền và hệ ngôn ngữ (của người Mundaic ở miền Trung Ấn Độ, nơi xuất hiện lúa nước đầu tiên cách nay hơn 7000 năm) với người Mon-khmer ở khu vực Đông Dương, chúng ta thấy những cư dân của bộ tộc này, dù tách biệt thời gian hàng ngàn năm và không gian hàng ngàn dặm, vẫn có cùng những thuật ngữ về trồng lúa và cả đồng thau, đồng đỏ. Đây là một minh chứng rõ ràng cho việc họ đã mang theo mình một nền văn hóa được hình thành về phương Tây. Các nhà ngôn ngữ học cũng đồng tình rằng sự tách biệt giữa các nhánh của ngữ hệ Nam Á diễn ra trong tầng sâu của thời tiền sử.” (tr.719) “Có một sự giải thích khác là một vài nhân tố của tục thờ Siwa đã bắt nguồn từ Đông Nam Á.”(tr.504). và “Ảnh hưởng duy nhất của Ấn Độ-Aryan đối với Đông Nam Á là trong 2000 năm qua dưới dạng các đế chế Hindu như Sri Vijaya.” (tr.534)(1)


Có tài liệu khẳng định, cho đến 4000 năm TCN, người Bách Việt sống ở duyên hải Đông Á chiếm tới 54% nhân số và có nền văn hóa nông nghiệp lúa nước phát triển nhất thế giới. Nhưng từ 2600 TCN, văn minh Việt bị bẻ gẫy bằng cuộc xâm lăng của người Mông Cổ.


Trong khoảng 1000 năm tiếp theo, có cuộc hòa huyết và hòa đồng văn hóa vĩ đại xảy ra, đại đa số người Việt chuyển thành chủng Mongoloid phương Nam. Văn hóa của người Việt là chủ đạo kết hợp với văn hóa Mông Cổ tạo ra nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ nhất thế giới vào khoảng 1500 năm TCN.(1)


Bị dồn xuống sống trong một dải đất hẹp ven biển, bị mất đất, mất lịch sử, người Lạc Việt từ vai trò chủ nhân ông của nền văn hóa lớn và tiến bộ nhất nhân loại trở thành những bộ lạc ngoại vi của một nền văn hóa do kẻ xâm lăng thủ đắc. Dù có thù hận kẻ xâm chiếm nhưng người Lạc Việt vẫn coi người Trung Hoa là đồng chủng đồng văn nên mở lòng tíếp nhận từng đợt sóng của nền văn hóa đến từ phương Bắc. Nhờ đó Việt Nam đạt tiến bộ ngang hàng với những quốc gia lớn trong vùng. Do nguyên nhân lịch sử văn hóa như vậy, người Lạc Việt (Kinh) rất ít chịu ảnh hưởng Ấn Độ. Đạo Phật du nhập nước ta thế kỷ II TCN nhưng được biến cải nhiều theo bản sắc Việt Nam mà Quan Thế Âm Nam Hải cứu khổ cứu nạn cùng Thiền tông của Lục tổ Huệ Năng là thí dụ điển hình.


Trong khi đó, nhiều dòng Việt khác, do sống trên địa bàn rừng núi trong tình trạng co cụm hay ở phía Nam ngăn cách với trung tâm văn hóa Trung Hoa nên chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo như người Chăm, Phù Nam, Campuchia, Thái Lan, Mã Lai…


Từ hoàn cảnh lịch sử văn hoá như vậy, việc cho rằng “khoảng năm 400 xuất hiện truyện An Dương Vương và Triệu Đà phỏng theo bản anh hùng ca Mahabharata của Ấn Độ” đã tỏ ra thiếu sở cứ.


3. Sự phản thùng của tri thức.


Trong bối cảnh lịch sử văn hóa Đông Á nói chung và Việt Nam nói riêng như vậy, việc cho giai đoạn An Dương Vương, Triệu Đà chỉ là truyền thuyết, hơn nữa một truyền thuyết học lỏm từ anh hùng ca Mahabharata là điều không thể chấp nhận.


Sự không thuyết phục trước hết thể hiện qua phương pháp luận. Ngôn ngữ học so sánh là công cụ giúp tìm ra mối liên hệ văn hóa, chủng tộc giữa cộng đồng người này với cộng đồng khác. Đúng là qua so sánh ngôn ngữ người ta biết được A gần gũi với B. Nhưng A sinh ra B hay ngược lại luôn là thách đố đầy cạm bẫy! Đã quá nhiều người mắc bẫy này. Từ cuối thế kỷ XIX cho tới nay, cũng qua ngôn ngữ học so sánh, biết bao người tin rằng trong tiếng Việt có đến 70% từ mượn của Hán. Nhưng nay thì sự thật đã ngược lại: Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán! Cũng dựa chủ yếu trên ngôn ngữ học so sánh, nhà văn Bình Nguyên Lộc cho ra thuyết Nguồn gốc Mã Lai của người Việt Nam nhưng nay thì ngược lại: người tiền sử đã từ Việt Nam, từ lục địa Đông Nam Á đi xuống làm nên dân cư Mã Lai. Mọi sắc tộc sống trên đất Việt Nam đều cùng một nguồn gốc, trong đó ngôn ngữ Mon-Khmer giữ vai trò chủ đạo. Do quan hệ nhân chủng và lịch sử như vậy nên việc từ này hay từ kia cùng có trong từ vựng của sắc tộc này hay sắc tộc khác thuộc khu vực Đông Nam Á là chuyện tất nhiên. Chỉ vì từ nào đó được cho là người Chăm học ở Mahabharata mà từ đó cũng có trong từ vựng Việt rồi suy diễn ra Việt cũng mượn của Mahabharata thì quả là lối tam đoạn luận giản đơn. Tại sao lại không là Mahabharata học từ ngôn ngữ Mon-Khmer?


Bài viết của Nguyễn Kết còn thể hiện sự hiểu không đúng về thành Cổ Loa. Như chúng tôi đã nói rõ trong bài Phải chăng thành Cổ Loa hình xoắn ốc đăng trên vannghesongcuulong.org, thoạt kỳ thủy thành chỉ có 2 vòng. Khi Mã Viện đắp vòng thành hình vuông phía trong, gọi là Kiển thành, mới có 3 vòng. Dù vậy thì cũng chỉ có 3 vòng mà không bao giờ có 9 vòng và lại càng không có hình xoắn ốc. Còn tên thành, vốn là Kẻ Ốc lúc đầu, khi An Dương Vương đóng đô, được gọi là Thành Chủ (Kẻ T’lủ). Kẻ T’lủ phiên âm sang chữ Hán thành Khả Lũ. Sau 300 năm bỏ hoang, thành trở lại tên dân gian Kẻ Ốc. Nhà viết sách người Hán đến phiên âm ra Cổ Loa. Dựa vào cái tên Loa- ốc, lại thấy thành có 3 vòng, mỗi vòng 3 lớp nên người hoang tưởng cho đó là Loa Thành- thành hình xoắn ốc! Sống làm sao, đánh giặc làm sao trong cái thành xoắn ốc như vậy?


Sự ngộ nhận của tác giả Nguyễn Kết không phải cá biệt mà là một hội chứng trong học thuật mà tôi tạm gọi là sự phản thùng của tri thức. Hội chứng này không chỉ có ở kẻ học mót ăn đong mà nhiều khi ở những người uyên thâm. Do thông tuệ về lĩnh vực nào đó mà trong tâm trí ông ta, những điều mình sở đắc trở nên tâm điểm tỏa sáng. Do sự tỏa sáng này mà ông ta có chiều hướng quy chiếu cho những miền tri thức gần gũi đều là phái sinh, là con đẻ hay chịu ảnh hưởng của “trung tâm” ông ta thủ đắc. Khốn nỗi sự hiểu biết của một người là hữu hạn còn kiến thức lại vô cùng nên ông ta bị mắc bẫy bởi chính sự thông thái của mình! Có thể kể ra vô vàn thí dụ về sự phản thùng này: Olov Janse, Goloubew, Geldern… cho rằng đồ đồng Đông Sơn do văn minh Hallstat từ Trung Âu mang tới! Trường hợp của nhà văn Bình Nguyên Lộc kể trên. Mới đây một vị giáo sư nhất định cho rằng Nguyễn Du đã thuổng chữ “mày ngài” của Tam quốc diễn nghĩa rồi cho rằng nghề tằm tang là từ Trung Quốc truyền xuống! Trong khi đó Bà chúa Dâu Kinh Bắc là tổ sư nghề trồng dâu nuôi tằm đất Việt và mắt phượng mày ngài là thành ngữ của người Việt từ xa xưa! Thật đáng buồn là hội chứng này thường coi rẻ của nội mà đề cao của ngoại, bao giờ ngoại cũng hay!


Với tác giả Nguyễn Kết, thực tình tôi không hiểu nổi: vì sao cái “huyền thoại” An Dương Vương mà ông cho là vay mượn kia lại là sống còn của căn tính Việt? Căn tính gì đây nhỉ? Căn tính cái bang sao?


Điều quan trọng ở đây: An Dương Vương cũng như Triệu Đà là nhân vật lịch sử có thật. Truyện của họ được sử gia viết thành văn nên không thể là truyền thuyết và lại càng không phải một truyền thuyết ăn cóp từ một văn hóa xa lạ.


Vu Lan Nhâm Tuất


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.














(1) La naissance de la China của Creel, NXB Payot Paris tr.85. Theo Kim Định- Tinh hoa ngũ điển- Nguồn sáng, Sài Gòn 1973 tr.10




(1) “Our work shows that modern humans first came to Southeast Asia and then move late to Northern China." "...from Middle East, following the Indian Ocean coatline across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and eventually the Americas"(Los Angeles Times 29.9.1998).




(1) “Cách nay 500.000 năm, người Việt từ phía nam cao nguyên Tây Tạng, theo ngọn sông Dương Tử đi xuống Đông Nam Trung Quốc. Sau do bị người Hán xua đuổi, đã tràn sang đất Việt, tiêu diệt người bản địa, lập nên nước Văn Lang của các vua Hùng.”




(1) Hà Văn Thuỳ. Tiếng Việt chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán. Vannghesongcuulong.org




(1) Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. Hà Nội 1983




(1) Hà Văn Thuỳ. Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa. talawas.org, vannghesongcuulong.org.




(2) The Canberra Times, 10 Feb. 2005, by Rosslyn Beeby Research, Conservation and Science Reporter: http://www.iol.co.za/index.php?set_id=1&click_id=588&art_id=qw1108019521878B213




(1) Hà Văn Thuỳ. Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa. talawas.org, vannghesongcuulong.org.




(1) Hà Văn Thuỳ. Bản thông điệp 12000 năm của tổ tiên người Việt. vannghesongcuulong.org




(1) Stephen Oppenheimer. Địa đàng ở phương Đông. NXB Lao Động Hà Nội 2005.




(1) Hà Văn Thuỳ. Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa. talawas.org, vannghesongcuulong.org.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »