tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20804371
19.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (10)

CÓ ÐÚNG THÀNH CỔ LOA HÌNH XOẮN ỐC?


Hồi nhỏ tôi được học: "Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa." Rồi quá nhiều lần đọc đâu đó: "Loa Thành là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!" Nghe vậy thì biết vậy nào dám cãi, tuy cũng hơi ớn cái giọng vỗ ngực tự phụ kiểu phường tuồng!


 Nhưng rồi một lúc nào đó tôi giật mình tự hỏi: Người ta đánh nhau thế nào trong cái thành hình xoắn ốc? Và nhận ra, chẳng cần hiểu biết lắm về quân sự, cũng thấy được là, chỉ cần tạo một cửa mở, quân địch sẽ như nước lũ ào theo đường xoắn ốc vào chém tướng bắt vua, vì không còn vật gì ngăn giặc! Tường thành lúc này lại trở nên vật cản không cho quân từ ngoài vào cứu! Như vậy, thành hình ốc chẳng phải sáng kiến hay ho gì về khoa học quân sự mà kỳ thực là một cái bẫy tai họa!


 Nghi ngờ ưu thế quân sự của Loa Thành dẫn tôi tới nghi ngờ sự tồn tại của một tòa thành hình xoắn ốc. Ðiều này buộc tôi tìm hiểu về cấu trúc của Loa Thành.


 Ðược biết, vào những năm 60 thế kỷ trước, thầy trò Trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội khảo sát di tích thành Cổ Loa và công bố những số liệu sau:


 Trên hiện trạng di tích, thành có 3 vòng:


- Vòng ngoài hình dạng không cố định, chu vi 8000 m


- Vòng giữa hình dạng không cố định, khuôn theo vòng ngoài, chu vi 6500 m


- Vòng trong hình chữ nhật, chu vi 1650m.


Mỗi vòng thành đều có 3 lớp: hào sâu ở ngoài, lớp rào gai hay chông ở giữa và bên trong là thành đất. Vòng thành ngoài và vòng thành giữa không có hình dạng nhất định, gần như quả lê, phình to mạn Bắc, thu hẹp dần về phía Nam rồi nối liền nhau, chừa một khoảng trống làm cửa Nam. Vòng thành trong hình chữ nhật, trên mặt thành có 12 ụ lửa (hỏa hồi).


 Căn cứ đặc điểm các vòng thành, các nhà khảo cổ kết luận:


- Vòng thành ngoài và giữa do An Dương vương đắp.


- Vòng thành trong (Thành Nội) được gọi là Kiển Thành do Mã Viện xây sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.


 Như vậy là trong vòng 300 năm từ khi xây dựng cho đến khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, thành Cổ Loa do An Dương vương đắp chỉ có hai vòng thành, mỗi vòng gồm ba lớp. Hai vòng thành này cách biệt. Không hề có việc các vòng thành cuộn hình xoắn ốc.


 Sau năm 43, Mã Viện cho đắp thành nội hình chữ nhật ở vị trí trung tâm vòng thành giữa, gọi là Kiển thành (thành hình tổ kén). Thành nội cũng có 3 lớp và cũng cách biệt với hai vòng thành bên ngoài. Như vậy, thành Cổ Loa thời Mã Viện có 3 vòng thành cách biệt, thuộc loại hình thành lũy cổ điển, về nguyên lý kiến trúc không có gì khác so với những thành lũy có trước nó.


 Từ phân tích trên cho thấy Thành Cổ Loa thời An Dương vương là một thành lũy bình thường không hề có hình xoắn ốc! Vì vậy không thể nói Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa! Và lẽ đương nhiên, nếu nhìn ra vẻ có hình xoắn ốc thì chính là do Mã Viện xây Thành Nội mà có chứ không phải sáng tạo của An Dương vương!


 Vậy tên Thành Cổ Loa từ đâu ra?


 Cuốn sách đầu tiên nói đến thành của An Dương vương là Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn thế kỷ thứ 5. Nhưng sách đã mất, người tra cứu chỉ gặp từng đoạn trong những sách khác. Đoạn sau do sách Cựu Ðường thư dẫn lại: "An Dương vương cai trị Giao Chỉ... Thành có 9 vòng, chu vi 9 dặm."


 Tùy thư ghi: "Lý Phật Tử đóng đô ở Việt vương cổ thành."


 An Nam chí lược của Lê Tắc thế kỷ XIV viết: "Thành Việt vương tục gọi là thành Khả Lũ."


 Tới thế kỷ XV, An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng người đời Minh viết: "Việt vương thành ở huyện Ðông Ngạn, còn gọi là Loa Thành." "Có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc."


 Phân tích những lời dẫn trên, ta thấy:


 1- Nam Việt chí viết không chính xác, đã gộp cả Kiển Thành của Mã Viện vào thành cũ của An Dương vương. Từ đấy các sách khác viết sai theo.


 2- An Nam chí nguyên nói: có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc. Nếu dựa vào hình dạng bên ngoài của thành thì sự ví von của An Nam chí nguyên có thể chấp nhận. Nhưng cách ví von này không có nghĩa An Nam chí nguyên bảo rằng thành có hình xoắn ốc. Cách giải thích "thành có hình xoắn ốc nên gọi là Loa Thành" là sự hiểu lầm ý của sách An Nam chí nguyên.


 Thử giải thích tên Loa Thành:


 Chúng tôi đoán rằng, cái chạ mà An Dương vương chọn định đô vốn có tên Việt là Kẻ Lũ (có nghĩa là Người Ốc), vì đấy là vùng nhiều ao đầm, có lắm ốc. Trong thời Âu Lạc được gọi là Thành Chủ nhưng Kẻ Lũ vẫn sống trong ký ức người dân. Khi Mã Viện tới, lấy lại tên gọi thời Tần là Thành Côn Lôn. Mỗi khi một thế lực cai trị đến đóng, thành lại được đặt tên cho phù hợp. Ðến thế kỷ XIV, vào thời Lý Phật Tử, thành được lấy theo tên cũ Kẻ Lũ. Nhưng lúc này chuyển sang tên chữ là Khả Lũ. Thời Lý Phật tử quá ngắn, sau đó thành bị bỏ hoang phế, người dân lại gọi theo tên cũ Kẻ Lũ. Sang thế kỷ XV, Kẻ Lũ được chuyển sang âm Việt Hán là Cổ Loa. Những người làm sách đến thăm thành cũ, bắt chước dân, gọi theo tên địa phương là Thành Cổ Loa, Loa Thành.


 Tác giả An Nam chí lược, cũng như các tác giả trước đó thấy tòa thành cổ có 3 vòng gồm 9 lớp nhưng không biết vòng Kiển thành do Mã Viện đắp nên gộp tất cả vào cho An Dương vương. Nhìn hình dạng bề ngoài tòa thành và nghe tên thành là Cổ Loa rồi vì từ tố loa- ốc đã suy đoán là thành quanh co như con ốc nên gọi là Loa Thành.


 Kết quả là từ cuốn sách này làm cho người sau lầm tưởng thành được kiến trúc hình xoắn ốc. Rồi nhân đó những người hoang tưởng cho là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!


 Họ không biết rằng, thành của An Dương vương chỉ có 2 vòng, 6 lớp nên không có hình xoáy ốc. Hình xoáy ốc nếu có lại là kết quả việc làm vô tình của Mã Viện!


VỀ PHO TƯỢNG NÀNG MỴ CHÂU CỤT ÐẦU


Nghe nói trong khu di tích Cổ Loa có pho tượng người đàn bà cụt đầu mà người ta bảo là tượng nàng Mỵ Châu. Tôi không tin vì những lý do sau:


1. Truyền thuyết Mỵ Châu- Trọng Thủy ghi: “Khi nghe thần nói giặc ở sau lưng, nhà vua quay lại thì hiểu ra tất cả, ngài rút gươm chém chết con gái. Máu nàng Mỵ Châu tan vào biển, những con sò...” (Ðại Việt sử ký toàn thư). Như vậy là truyện chỉ ghi nhà vua chém chết con gái mà không có nhân chứng, vật chứng nào xác quyết chém đứt đầu. Vì thế người ta không thể xuyên tạc truyền thuyết để làm ra bước tượng!


2. Tôi không tin là An Dương Vương lúc đó ở tuổi ngoài 70 lại làm một việc bất nhân là chặt đứt đầu con gái vì theo đạo lý, dù phải tội chết đến trăm lần đi nữa thì với trái tim người cha nhân từ, cũng phải cho con được chết toàn thây!


3. Giả như việc chém đầu là có thật thì tôi cũng không tin là ông cha ta vốn xưng con dân một nước văn hiến, nhân bản lại chọn một hình ảnh bi thảm, ghê rợn nhất trong câu chuyện dựng thành tượng!


Nhưng mới đây xem báo Văn nghệ số 35-36 ra tháng 9 năm 2004, thấy bức ảnh Nhà thơ Rumani Ana đến thăm đền thờ Mỵ Châu tại di tích Cổ Loa trong đó có tượng nàng Mỵ Châu bị cụt đầu, tôi bỗng rùng mình kinh hãi! Sau cơn choáng váng, tĩnh trí lại tôi tự hỏi: Tượng Mỵ Châu cụt đầu thể hiện những ý nghĩa gì?


Bức tượng cho thấy:


 1. An Dương Vương là ông vua bất nhân, bất trí. Họa mất nước chính ông gây nên nhưng lại đổ lỗi cho con gái. Cha giết con đã là vô đạo. Nhưng giết bằng cách chặt đầu thì quả là quá bất nhân!


 2. Người phương Tây có câu nói: “Không được đánh phụ nữ dù bằng một cành hoa!” Trong khi ở ta cha chặt đầu con gái, một việc đại ác lại được tạc thành tượng thờ! Hành động tàn bạo trên đời không kể xiết nhưng chắc chắn không thể tìm thấy trên thế giới này có bức tượng thứ hai kinh dị thế! Thật buồn khi chúng ta khoe điều không tốt đẹp ấy với khách, một nữ sĩ nước ngoài! Thử hỏi khách sẽ nghĩ gì về dân tộc ta?


 3. Tượng không chỉ để thờ mà tượng còn là tác phẩm nghệ thuật. Ðặc trưng của tác phẩm nghệ thuật là đẹp và thiện. Bức tượng này không thể hiện cái đẹp, cái thiện nhưng là vật thờ linh thiêng. Bức tượng chứng tỏ sự kém cỏi về óc thẩm mỹ cùng đức thiện của cha ông ta- những người tạc tượng và chúng ta- những người ngày nay tôn thờ chiêm ngưỡng tượng!


 Ðấy là suy nghĩ ban đầu của tôi. Nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn thì thấy sự việc có khác:


- Cái được gọi là tượng Mỵ Châu thực ra chỉ là khối đá lớn, hình thù kỳ dị như người cụt đầu. Truyện kể rằng: "Mỵ Châu chết hóa thành hòn đá trôi ngược sông về thành Cổ Loa, báo mộng cho dân ra rước về. Rước đến gốc đa thì đá rơi xuống, dân lập am thờ ở đó." Thật may là đã không có ai tạc pho tượng này. Người ta biến một hòn đá ngẫu nhiên thành vật thờ. Một sự việc hoàn toàn mang tính tự phát. Việc làm này trái ngược với truyền thuyết Mỵ Châu- Trọng Thủy. Truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy đem Mỵ Châu về chôn ở Cổ Loa. Và thực tế xác nhận: hiện ở Cổ Loa có mộ Mỵ Châu. Một người chết đã có mồ yên mả đẹp thì việc biến thành hòn đá trôi ngược sông về Cổ Loa là không thuyết phục. Như vậy tượng cụt đầu được tạo ra không do một cơ sở vững chắc nào mà xuất phát từ lòng tin dị đoan vận vào một vật xuất hiện ngẫu nhiên. Có thể những người biến hòn đá thành tượng Mỵ Châu hiểu ý nghĩa của truyền thuyết Mỵ Châu- Trọng Thủy như một lời răn cảnh giác trước họa mất nước... Suy nghĩ đó tuy đúng nhưng chỉ là một mặt của truyền thuyết. Truyền thuyết có ý nghĩa rộng lớn hơn, sâu sắc, minh triết hơn. Ngay cả cái ý Trái tim lầm chỗ để trên đầu nói về Mỵ Châu theo tôi cũng chưa phải thấu nhân tình! Trái tim yêu muôn đời chỉ đập trong ngực trái. Với cái chết oan nghiệt của mình, đôi trẻ đã trả xong món nợ! Thông điệp của truyền thuyết nói rõ: Các con sò ăn phải máu Mỵ Châu hóa ngọc. Ngọc được rửa bằng nước giếng Trọng Thủy trầm mình thì sáng ra! Minh triết dân tộc đã tha thứ cho đôi trẻ, đã trả lại chất ngọc sáng trong tinh khiết của tình yêu! Ðấy mới chính là bản sắc văn hóa Âu Lạc! Do trình độ còn hạn chế, những người dựng tượng cụt đầu không hiểu được ý nghĩa nhân bản sâu xa, minh triết của truyền thuyết nên đã dựng một pho tượng không phản ánh đúng bản chất của truyền thuyết, cũng có nghĩa là không phản ánh đúng bản chất dân tộc! Chưa kể nó còn thể hiện cái nhìn hạn hẹp về lịch sử! Triệu Ðà lấy Âu Lạc dựng nước Nam Việt, một đế chế Việt tộc lừng lững 100 năm bên cạnh đế chế Hán tộc để cho sau này Nguyễn Trãi có thể tự hào nói “nhi các đế nhất phương”- làm chúa một phương! Và di sản vô giá là cái tinh thần cố kết quốc gia vốn mong manh của các bộ tộc Việt thời Hùng, thời Thục được chính Triệu Võ đế cùng các cháu ông luyện thành keo sơn tạo sức mạnh cho cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng hơn trăm năm sau! Mỵ Châu có thể có tội trong việc làm mất ngôi vua của cha mình nhưng là người có công lớn với dân với nước Việt! Dựng một bức tượng như thế khác nào giết oan nàng thêm lần nữa! Khách đến thăm không ít người thấy bất ổn trước pho tượng nhưng vì sợ cái bóng tâm linh nên đành nhắm mắt cho qua! Phải chăng người Việt chúng ta sính tượng nên cái gì cũng muốn cụ thể hóa, vật chất hóa, tượng hóa? Nhưng do tài năng rồi tiền bạc hạn chế mà không ít bức tượng trở thành trò cuời, thành nỗi đau! Những bức tượng thô thiển làm nghèo đi, làm tầm thường đi trí tưởng tượng phong phú của con người! Tượng đàn bà cụt đầu là một trong số đó. Bức tượng tồn tại hơn trăm năm nhưng lẽ nào khi kiểm kê hiện vật trong khu di tích người ta không nhận ra? Ðiều này không lạ, vì như một bài viết trên Văn nghệ cách đây mấy năm, phát hiện ngay tại đền Ngọc Sơn có nhiều câu đối bị viết sai hoặc đặt trái vế nhưng không được sửa!


 Ðể thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tôi xin đề nghị: Ðưa pho tượng người đàn bà cụt đầu ra khỏi đền thờ Mỵ Châu! Bức tượng xa lạ với bản chất dân tộc, phản giáo dục về thẩm mỹ và đạo đức, làm méo mó hình ảnh dân tộc trước bạn bè. Việc này không dễ vì đụng đến thói quen hàng trăm năm. Khi chưa làm được, xin rằng đừng ai đem khoe bức tượng, nhất là với bạn bè quốc tế!


Sài Gòn, mùa Vu lan 2004


NHÌN LẠI CUỘC THẢO LUẬN VỀ
NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT GIỮA
ÔNG NGUYỄN QUANG TRỌNG VÀ NHÓM TƯ TƯỞNG


Những năm gần đây, nhiều bài viết về thời kỳ tiền sử của người Việt được công bố trên mạng, cung cấp nguồn tư liệu cũng như ý tưởng bổ ích cho những người quan tâm. Tuy nhiên, có sự thực là những nghiên cứu tìm tòi nhiều tâm huyết trên dường như ít được sự hưởng ứng của cộng đồng, bị đón nhận hờ hững trong một không khí sinh hoạt học thuật tẻ nhạt. Phải chăng đó là phản ứng của một cộng đồng đang trong chiều hướng phân rã, người ta quá lo mưu sinh và cũng bão hoà với nhiều nhiều những giả thuyết biết rồi, khổ lắm, nói mãi?!


Vì vậy, cuộc thảo luận giữa tác giả Nguyễn Quang Trọng và nhóm Tư Tưởng trên mạng Hợp Lưu trở thành hiện tượng đáng chú ý. Điều đáng mừng là nó xuất phát từ thiện tâm, bằng lối thảo luận tương kính đồng thời mang lại những giá trị học thuật cụ thể.


 Là người may mắn được theo dõi cuộc luận đàm, chúng tôi thấy tiếc là không hiểu vì sao cuộc tranh luận dừng lại giữa chừng với nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ? Thiết nghĩ, nếu cuộc thảo luận được nhiều người hưởng ứng tham gia, được đẩy tới cùng, có lẽ chúng ta đã làm được một điều gì ra tấm ra miếng!


 Với suy nghĩ như vậy, chúng tôi xin được nối điêu tiếp tục cuộc thảo luận rất bồ ích trên.


Qua 3 bài viết:


 a. Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và “Địa đàng phương Đông” của Oppenheimer của ông Nguyễn Quang Trọng trên Thế kỷ 21 số cuối năm 2000


 b. Một vài ghi chép thêm về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam của Cung Đình Thanh, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đức Hiệp;


 c. Về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam, trả lời nhóm Tư tưởng của Nguyễn Quang Trọng- Hợp Lưu 1/2002


 Cùng đăng trên mạng Hợp Lưu, các tác giả đưa ra nhiều bằng chứng xác thực về văn minh cổ của người Việt:


1. VỀ VĂN HOÁ HOÀ BÌNH:


Từ tra cứu nhiều nguồn tư liệu, nhóm Tư Tưởng khẳng định: văn hoá Hoà Bình có 3 thời kỳ là:


 Hoà Bình sớm với di chỉ Thẩm Khuyên có tuổi C14 là 32.100 +/- 150 năm TCN.


 Hoà Bình giữa với di chỉ Xóm Trại có tuổi C14 là 18.000 +/- 150 năm TCN.


 Hoà Bình muộn với di chỉ Thẩm Hoi có tuổi 10.875 +/- 175 năm TCN.


 Về phạm vi ảnh hưởng của Văn hoá Hoà Bình, theo W.G Solheim II thì: phía Đông Bắc đến Philippine, Nhật Bản. Phía Tây đến Thái Lan, phía Nam đến châu Úc, phía Bắc bao trùm cả 2 nền văn minh Trung Hoa cổ là Ngưỡng Thiều và Long Sơn.


 Sự phân định như vậy về thời gian và không gian, không chỉ cho thấy vai trò mở đầu của Văn hoá Hoà Bình đối với khu vực mà còn giúp giải thích thoả đáng nhiều hiện tượng văn hoá diễn ra ở Đông Á, góp phần làm rõ con đường thiên di của người tiền sử từ Đông Nam Á lan toả ra toàn khu vực.


2. VỀ KỸ THUẬT ĐỒNG THAU:


 Trong cuộc tranh luận và sau đó, với công trình khảo cứu về văn minh đồng thời Đông Sơn, Cung Đình Thanh chứng minh:


 Đồ đồng ở Việt Nam có từ thời Phùng Nguyên, cách nay 4000 năm, được phát hiện sớm nhất là từ di chỉ Gò Bông với tuổi 1850 năm TCN. Các đồ đồng được phát hiện trên đất Trung Hoa đều có tuổi muộn hơn và đều mang ảnh hưởng của kỹ thuật đúc đồng Phùng Nguyên. Đồ đồng Đông Sơn mà đại diện là trống đồng Ngọc Lũ đạt tới mức tinh xảo vượt trội. Không chỉ là nhạc cụ mà còn là vật thờ, trên mặt trống không chỉ là những hình tượng sinh hoạt văn hoá của người thời đó mà có thể có cả Hà Đồ mang quan niệm của người Việt về vũ trụ.


3. VỀ KỸ THUẬT GỐM


Do hạn chế về tài liệu nên không ít tác giả khảo sát văn minh tiền sử của người Việt theo kiểu thày bói mù xem voi trong ngụ ngôn xưa.


 Từ nghiên cứu công phu về gốm cổ Việt Nam, nhóm Tư Tưởng cho thấy, gốm cổ nhất tìm được ở Việt Nam là gốm Hang Đắng. Tiếp đó là gốm Hạ Long, Cái Bèo, Đa Bút, Quỳnh Văn, Bàu Tró, Sa Huỳnh. Các tác giả đưa dẫn chứng là các nhà khoa học đã chứng minh rằng gốm Lapita nổi tiếng phát hiện ở các đảo ngoài khơi Đông Nam Á có nguồn gốc từ gốm Thường Xuân (Thanh Hoá), Quỳ Châu (Nghệ An) và là con đẻ của gốm Đa Bút, Quỳnh Văn, Bàu Tró.


4. VỀ QUÊ HƯƠNG TRỒNG LÚA NƯỚC.


 Từ những dẫn chứng về bữa cơm tiền sử 13.000 năm trước và việc tìm ra hạt lúa trồng 9000 năm trước ở vùng cửa sông Dương Tử, cuộc thảo luận của các tác giả cho ta thấy chủ nhân của nghề trồng lúa nước là người Đông Nam Á. Và dù cho chưa tìm được ở Việt Nam hạt lúa cổ xưa nhất nhưng điều đó không hề bác bỏ là chính dân cư Hoà Bình là người đầu tiên thuần hoá lúa nước rồi phổ biến ra toàn vùng Đông Nam Á.


 Từ những phân tích trên, cuộc thảo luận đã khiến cho người đọc vững tin là trước khi tiếp xúc với người Hán Mông Cổ, tổ tiên chúng ta có nền văn hoá phát triển cao nhất ở Đông Á.


 Nếu thuyết phục được người đọc tin vào những phẩm chất trên của văn hoá dân tộc thì ở vấn đề rất mấu chốt là NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT, cuộc thảo luận còn lúng túng, chưa đưa ra được những lý giải thuyết phục.


Xin mời bạn đọc lướt qua đoạn sau đây trong bài viết của nhóm Tư Tưởng:


 “Nguyễn Quang Trọng giả thiết người Đông Nam Á đi ra hải đảo Thái Bình Dương hay lên phía Bắc đều thuộc chủng Australoid (da đen, tóc quăn, mũi to), rồi vì sống trong môi trường lạnh, gió, ít nắng ở miền Bắc, họ biến đổi nhân dạng với chủng Altaic mà dần dần thành chủng Bắc Mongoloid (tóc thẳng, mắt hí, da vàng trắng). Chủng Bắc Mongoloid này khi bành trướng về phương Nam một lần nữa lại lai với chủng Australoid đã sống trước ở đó mà tác giả gọi là giữa đất Trung Hoa, để thành người Nam Mongoloid (da ngăm đen, tóc dợn sóng...). Theo tác giả, đây là tổ tiên của người Việt, Khmer, Thái, Miến, Mã Lai, Nam Dương, cả những người ở hải đảo Thái Bình Dương. Điều này cũng tương đồng với một giả thiết mà các nhà nghiên cứu về nguồn gốc người Trung Hoa đã tranh cãi nhau về ba mô hình:


• Mô hình 1: Giả thiết người Hoa Nam là từ Hoa Bắc đi xuống pha trộn với dân bản địa mà hình thành.


• Mô hình 2: Ngược lại, giả thiết người Bắc Trung Hoa là hậu duệ của người phương Nam.


• Mô hình 3: Dân cư ở cả hai miền tiến hóa và phát triển độc lập.


Như đã thấy, Nguyễn Quang Trọng theo mô hình 1. Mô hình này có ưu điểm là nó có vẻ phù hợp với bản đồ ngôn ngữ ở Trung Quốc, đã một thời được nhiều nhà ngôn ngữ học công nhận. Chúng tôi sẽ không đi vào chi tiết bởi nó rất phức tạp mà cũng không cần thiết. Nhưng qua phân tích DNA của nhóm Giáo sư Chu (mà chúng tôi đề cập trên đây), mô hình này không còn thích hợp nữa. Nói một cách khác, các dữ kiện di truyền học cho thấy tổ tiên của những người nói tiếng Altaic từ Đông Á đã di cư vào Á châu từ ngã Đông Nam chứ không phải từ ngả Trung Á. Nghiên cứu của các nhà nhân chủng học uy tín khác Lugi Luca Cavallli-Sforza (Đại học Stanford), Li Yin (Đại học Stanford) và nhiều học giả khác cũng nhất quán với mô hình này.


Liên quan đến sự khác biệt về đặc tính cơ thể (người hải đảo da sậm, tóc quăn, trong khi người sống trong lục địa có da vàng, tóc đen, không quăn), chúng tôi thấy có vài điều cần thảo luận như sau:


Thứ nhất, không có gì chứng minh được người Australoid da đen, tóc quăn, mũi to đã lên phía Bắc đến tận Mông Cổ ngày nay. Nếu tại đất nay thuộc lãnh thổ Bắc phần Việt Nam, trong 70 xương sọ mà ta sưu tầm được cho đến ngày nay, 38 xương sọ thuộc thời Đồ Đá (cũng không xác định được niên đại rõ ràng), phần lớn do học giả Pháp tìm ra trước 1945 (29 sọ trên 38 cái) cho là thuộc chủng Australoid, Indonesian, Malanesian và 32 sọ, đa số do học giả Việt tìm thuộc thời Đồng- Sắt ngược lại, phần lớn là chủng Mongoloid vào những năm chưa có sự chứng minh ngược lại của di truyền học, đã một thời là nguyên nhân cho thuyết nguồn gốc người Việt tại đất liền là do cư dân hải đảo Thái Bình Dương di cư vào.


Chúng ta không thấy bảng xương sọ tương tự như ở Trung Quốc. Những xương cốt thường được nói đến nhiều nhất và được coi là tổ tiên của người Trung Hoa là 3 bộ xương do J. Anderson tìm được ở Chu Khẩu Điếm (Chou-Kou-Tien). Thời đó, vì thiếu những phương tiện khoa học đo đạc chính xác nên có người đã cho xương này là tổ tiên của người Hoa có từ rất xa xưa! Sau này nhờ có phương tiện định tuổi bằng C14, Noel Bernard đã chứng minh được niên đại của xương đó chỉ là 16.922 năm trước CN (2k- 136-0; Bernard 1980). Cũng có người chứng minh được đó chẳng phải là xương của một gia đình vì ở ba tầng lớp khác nhau trong hang (Weiderich, 1939), lại thuộc ba chủng khác nhau và chẳng liên hệ gì đến người Trung Hoa hiện nay cả (Wu, 1961). Sở dĩ có hiện tượng đó vì phương pháp cổ điển để tìm chủng tộc và niên đại của các sọ thời trước chỉ là phương pháp so sánh (so cái chưa biết với mẫu đã biết gốc tích). Trong trường hợp đó, giá trị của các kết luận rất tương đối. Xương cốt cổ đào được nhiều nhất ở Yang-Shao là xương thuộc chủng Nam Mongoloid, giống với người Hoa hiện đại mà cũng giống cả với người Việt và các chủng Đông Nam Á khác. Vậy lấy gì để khẳng định người Australoid da đen, tóc quăn, mũi to đã di cư đến tận cực Bắc Trung Hoa ngày nay?


Thứ hai, giả thiết người Australoid đến Bắc Đông Á, rồi vì sống trong môi trường lạnh, gió, ít nắng nên dần dần thay đổi nhân dạng là cho con người thay đổi hình dạng chỉ do yếu tố môi sinh ngoại tại. Thực sự, muốn có sự thay đổi hình dạng phải có sự đột biến di truyền. Đó là một sự kiện sinh học xẩy ra trong tế bào, do sự tương tác giữa môi trường và sinh học. Giả thiết rằng người Australoid lai với người Altaic (các dân tiêu biểu là Buryat, Yakut, Uyghur, Mãn Châu, Hán, Đại Hàn, Nhật) thì lại càng khó hiểu vì người Altaic, theo di truyền học đã chứng minh cũng do người Đông Nam Á di lên chứ không phải từ Trung Á đi lại như trên vừa trình bầy. Có thể họ lai với một sắc dân đến muộn hơn từ Trung Á và Ấu Châu, như sẽ nói rõ hơn ở sau, nhưng đó là chuyện xẩy ra về sau khi băng hà lần cuối cùng đã tan.


Thứ ba, chủng Bắc Mongoloid vì nhu cầu bành trướng, tràn xuống phương Nam, gặp chủng Australoid đã cư ngụ sẵn nơi đây, lai giống mà thành người Nam Mongoloid. Đây là tổ tiên của chủng Bách Việt. Ý kiến này rất mới, chỉ tiếc tác giả đã không đưa dữ kiện chứng minh để có thể kiểm nghiệm lại một cách khoa học. Mặt khác, những dữ kiện khoa học có được đến ngày hôm nay hình như không hỗ trợ cho giả thiết của tác giả. Về phương diện di truyền học, phân tích di truyền của Giáo sư J. Y. Chu và đồng nghiệp, cộng với nhiều phân tích DNA gần đây như trên vừa trình bầy, đã cho thấy ngược lại phát biểu của Nguyễn Quang Trọng rằng người Nam Mongoloid đã từ Đông Nam Á, phía Nam Trung Hoa, bành trướng lên phía Bắc. Nói rõ hơn, người Hoa Bắc là hậu duệ của người Hoa Nam. Cây hệ di truyền từ cuộc nghiên cứu của Giáo sư Chu cũng cho thấy đã không có sự hợp chủng giữa dân Hoa Nam (Nam Mongoloid) với dân Altaic. Chỉ có sự hợp chủng giữa dân Altaic với các dân cư đến muộn hơn từ Trung Á và Ấu Châu, sau thời băng hà cuối cùng (15.000 trở lại đây). Về phương diện khảo cổ học, hầu hết xương cốt tìm thấy được ở văn hóa Ngưỡng Thiều đều thuộc chủng Nam Mongoloid, giống người Trung Hoa hiện đại, cũng giống với những người hiện đại tại các quốc gia Đông Nam Á khác, đặc biệt ở Việt Nam. Không thấy dấu hiệu hợp chủng có tính toàn diện giữa Bắc Mongoloid và Australoid như Nguyễn Quang Trọng phát biểu.


Nói tóm lại, qua các dữ kiện di truyền học gần đây, tuy còn hạn chế (vì những nghiên cứu về di truyền học trong vùng Đông Nam Á, nhất là với người Việt, còn ít), nhưng chúng tôi thấy có thể phát biểu rằng người hắc chủng từ Phi Châu di cư đến Đông Nam Á lục địa, khi tiếp cận biển Đông, thì một phần đi thẳng ra các hải đảo Thái Bình Dương và Úc Châu, lúc đó vẫn còn là hắc chủng; phần khác trụ lại tại Đông Nam Á, ở địa điểm đâu đó, có thể là lưu vực con sông nay mang tên sông Hồng, vì may đã hội đủ cơ duyên nên có đột biến di truyền, và do đó, từ giống hắc chủng (da ngăm, tóc xoăn) đã biến đổi thành giống hoàng chủng (da vàng, tóc đen, sợi thẳng). Từ đó, họ mới bắt đầu di chuyển lên hướng Bắc, nay là đất Trung Hoa. Giả thiết của chúng tôi dựa trên ba cơ sở như sau:


Một, mực nước biển lên xuống. Trước thập niên 60 thế kỷ trước, người ta chỉ biết có độ 5 thời kỳ bằng hà (nước biển xuống), gián băng (nước biển tăng), nhưng ngày nay người ta đã biết được có đến 20 kỳ trong khoảng 2 triệu năm qua. Riêng trong hậu kỳ Pleistocène khoảng từ 125.000 năm đến 10.000 năm trước ngày nay, nghĩa là khi loài người Hiện Đại (Homo Sapiens Sapiens) đã xuất hiện thì mực nước biển ở Đông Nam Á cũng đã 5 lần lên xuống. Những lần xuống đó là vào khoảng 115.000 năm, 90.000 năm, 55.000 năm, 35.000 năm và lần cuối cùng 18.000 năm cách ngày nay. Ở 90.000 năm trước khi nước biển xuống thì người Hiện Đại chưa đến vùng Đông Nam Á. Họ đến khoảng 60.000 năm trước đây, vậy khi nước biển xuống khoảng 55.000 năm trước, chính là lúc người Hiện Đại Đông Nam Á đất liền bắt đầu thiên di ra các hải đảo Nam Thái Bình Dương, vì lúc đó nước biển cạn dần, đã nổi lên những triền đất nối liền với đại lục. Vậy gần như người Hiện Đại từ Đông Phi Châu thiên di đến Đông Nam Á đã có dịp tiến thẳng ra hải đảo vì khí hậu thích hợp và vì thuận đường lui tới. Lúc đó họ vẫn còn thuộc dân hắc chủng. Khảo cổ học đã có dấu tích của người Hiện Đại ở Úc Châu, khoảng 50.000 năm trước đây, ở New Guinéa 40.000 năm.


Hai, điều kiện môi trường và khí hậu. Người Hiện Đại Đông Phi tiến được ra hải đảo Thái Bình Dương nhưng lại chưa thể tiến ngay lên phía Bắc vì lúc đó miền Bắc đang trong thời băng hà. Không khí chỉ ấm dần từ 40.000 năm trước cho đến 21.000 năm trước lại bắt đầu thời kỳ băng hà cuối cùng thường gọi là băng hà Wurm. Sau lần băng hà cuối cùng này, không khí ấm lại dần cho đến nay khoảng từ 15.000 năm trước. Chính trong thời kỳ ấm lại giữa hai khoảng băng hà (- 40.000 đến- 21.000 năm) người Hiện Đại đã tiến lên phía Bắc là đất Trung Hoa ngày nay. Khảo cổ học cho thấy dấu tích của họ ở đại lục khoảng 35.000 năm trước, ở Đài Loan khoảng- 30.000, họ vượt eo biển Beringa khoảng- 30.000 (lúc đó nước biển xuống như trước lần biển xuống cuối cùng nên eo biển đã thành một giải đất liền). Ta thấy dấu tích người Hiện Đại ở bờ biển Tây Mỹ Châu khoảng- 30.000. Họ là tổ tiên của văn hóa Maya, còn dấu vết ở Nam Mỹ ngày nay. Tất cả những điều trên đã được khoa di truyền hiện đại ngày nay xác định là đúng: người da đỏ ở Mỹ Châu, người thổ dân ở Úc Châu có yếu tố di truyền giống với người Đông Nam Á, và Đông Á (đều thuộc chủng Nam Mongoloid) và khác với người Bắc Á (thuộc Bắc Mongoloid).


Ba, hội đủ tính đột biến di truyền. Về điểm này, còn cần thêm nhiều phân tích, nhiều chứng cớ, mới có thể trở thành một giả thuyết có tính khoa học. Tuy nhiên, khảo cổ học đã chứng minh được những người thiên di lên phía Bắc, cả những người sang Mỹ Châu, không còn hay còn rất ít yếu tố hắc chủng. Không thể kết luận họ lên phía Bắc vì lạnh, vì ánh sáng mặt trời hay nhiều gió mà biến đổi đi như vậy (như từ da đen, tóc xoăn thành da vàng hay trắng, tóc thẳng, mũi nhọn), dù không ai phủ nhận môi trường bên ngoài có làm thay đổi hình dạng con người. Nhưng để thay đổi cả hình dáng, màu da, râu tóc một cách triệt để như da đang đen trở thành trắng hay vàng, tóc đang quăn trở thành thẳng, mắt đang nâu trở thành xanh. thì phải có sự thay đổi nhiễm sắc thể DNA trong gien mà giới di truyền học gọi là có sự đột biến di truyền. Sinh học phân tử cho chúng ta biết rằng đột biến di truyền là một quá trình chậm, do nhiều yếu tố (trong đó có yếu tố môi trường, như tia sáng mặt trời, và tiến hóa) gây nên. Đột biến DNA dẫn đến nhiều thay đổi (và bệnh tật), trong đó có cả những thay đổi về hình dáng cơ thể như tóc, tai, da, mắt.


Tác giả Nguyễn Quang Trọng cho rằng vào thời kỳ Đồ Đá (không minh định đá cũ, đá giữa hay đá mới) dân Cổ Việt lúc ấy thuộc chủng Australoid nói tiếng Austric vì cách sinh sống khác nhau, dần dần phân chia thành hai nhóm: nhóm nói tiếng Nam Á (Austro-Asiatic) sống trên đất liền và nhóm nói tiếng Nam Đảo (Austranesia) sống ở vùng đồng bằng ven biển. Bắt đầu thời đá mới, trước là vì nhu cầu dân số gia tăng, sau vì biển tiến, hai tộc đã phân chia, lại cùng tìm về đồng bằng các sông nay thuộc Bắc Việt, sống đan xen với nhau và kết hợp lại với nhau. Tác giả đã ví sự kết hợp này, mà ông gọi là kết hợp yếu tố văn hóa Biển- Lục Địa, với chuyện Ấu Cơ kết hợp với Lạc Long Quân, một cuộc kết hợp êm thắm vì là kết hợp giữa hai tộc người vốn cùng một chủng tộc và một ngôn ngữ. Chuyện đó xẩy ra vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay và ông kết luận "Cuộc phối hợp văn hóa hoàn tất vào thời Đông Sơn (850 trước CN đến 280 sau CN), tạo thành một văn hóa chung cho cư dân bản địa". Về điểm này, chúng tôi xin được nhắc lại quan điểm của chúng tôi đã phát biểu trước đây.


Thứ nhất, vào thời điểm trước khi có nạn Đại hồng thủy cuối cùng (từ 18.000 năm trước, nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1cm, đến 8.000 năm trước nước biển đột ngột dâng cao nhận chìm toàn bộ đồng bằng Nanhailand đến tận Việt Trì ngày nay), dân cư đồng bằng Nanhailand còn thống nhất, nói tiếng Austric chứ chưa chia làm hai Austronesian và Austro-Asiatic.


Thứ hai, vào lúc này (từ 18.000 năm đến khoảng 50.000 năm trước) chắc đã có sự đột biến di truyền, và người nói tiếng Austric ấy chắc đã là da vàng, tóc thẳng mà khảo cổ học gọi là Nam Mongoloid, chứ không còn da đen, tóc quăn, mũi rộng thuộc Hắc chủng, mà khảo cổ học gọi là Australoid. Sự đột biến di truyền xẩy ra vào thời điểm nào thì còn cần có thêm những cuộc sưu khảo, nhất là những thí nghiệm về di truyền học DNA mới có thể khẳng định được.


Thứ ba, khi nước biển dâng, chia Đông Nam Á ra thành Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á đất liền thì lúc đó người nói tiếng Austric cũng bắt đầu chia hai: phần ở hải đảo và ven biển nói tiếng Austronesian và phần ở sâu trong lục địa nói tiếng Austro-Asiatic.


Thứ tư, chỉ khi nước biển bắt đầu rút (khoảng 5.500 năm cách ngày nay), trả dần lại đồng bằng sông Hồng mới thì người đã di tản đi nơi khác vì nạn Đại hồng thủy nay mới đổ về tái thiết đồng bằng này, và đó cũng là thời kỳ dựng nước Văn Lang. Lạc Long Quân Nam Đảo và Ấu Cơ Nam Á kết hợp với nhau vào lúc này. Và đây là điểm khác biệt giữa chúng tôi với tác giả. Lạc Long Quân gặp Ấu Cơ khoảng từ 5.500 năm trước, từ lúc nước biển bắt đầu lui chứ không phải vào 4.000 năm trước đây khi biển tiến. Nhưng tại sao Lạc Long Quân và Ấu Cơ lại chia lìa, người đem 50 con lên núi, người đem 50 con xuống biển? Sự chia lìa đó xẩy ra vào lúc nào? Truyền thuyết chỉ nhắc lại lời Lạc Long Quân: "Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, ở lâu với nhau không được, nay phải chia ly". Dù có nói thêm một câu: "Hữu sự bảo cho nhau biết, đừng quên". Cái thông điệp mà truyền thuyết đó muốn gửi đi, qua câu nói của Lạc Long Quân, vẫn còn là một bí ẩn.


Nói tóm lại, về vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam, đã đến lúc chúng ta đặt vấn đề với giả thiết Bắc xuống Nam, và nghiêm túc thử nghiệm giả thiết Nam lên Bắc. Thực ra, chúng ta cũng chẳng còn quyền lựa chọn nào khác vì khoa học, nhất là khoa di truyền học, đã lựa chọn dùm chúng ta: Khởi thủy, người Hiện Đại (Homo Sapiens- Sapiens) từ Đông Phi đến Đông Nam Á; rồi từ đó họ tiến lên phía Bắc. Sau vì có sự phối hợp với chủng từ Tây Bắc xuống, họ hợp thành cái cốt lõi của dân sống ở Trung Quốc ngày nay. Đó là giai đoạn Nam lên Bắc. Giai đoạn này khoảng từ sau 40.000 năm cách ngày nay cho đến 3.000 năm cách ngày nay thì Trung Hoa bắt đầu có loạn Xuân Thu Chiến Quốc. Đến khi nhà Tần thống nhất lục quốc, nhất là từ khi nhà Hán cai trị Trung nguyên, những dân thuộc Đại tộc Bách Việt ở các nước lưu vực sông Dương Tử xuôi về Nam, không chịu sự đồng hóa của người Hoa Hán đã di dần về phương Nam. Một số những người thuộc nhóm này đã sáp nhập với dân Lạc Việt. Giai đoạn này kéo dài cũng cả ngàn năm, nhưng những thiên di từ đời Tần đến đời Đông Hán (khoảng 300 năm trước CN đến 100 năm sau CN) có lẽ là quan trọng hơn cả. Chúng tôi tin rằng đó là một phần của kết luận về nguồn gốc dân tộc Việt Nam.”


Thưa quý bạn đọc, bạn nghĩ gì khi đọc những dòng trên? Nếu có ai hỏi chúng tôi câu hỏi đó, chúng tôi đành thú thực mà nói rằng, mình như người bị dẫn vào rừng, tìm không thấy lối ra. Rất nhiều kiến thức, rất nhiều ý tưởng nhưng không hiểu sao những kiến thức cùng ý tưởng ấy cứ rối tung lên khiến chúng tôi hoang mang, đâm sợ, đâm xa kính nhi viễn chi những chuyện cội nguồn quá rối rắm diệu vợi.


 Rất may là sự thật vốn đơn giản, không đến nỗi làm ta thất vọng.


 Chúng tôi xin thử trình bày suy nghĩ của mình.


1/ Đến nay, điều chúng ta có thể tin chắc là: khoảng 60.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens từ Trung Đông đã theo con đường giữa Ấn Độ và Pakistan rồi men bờ biển Nam Á tới miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Dừng lại ở đây trong 10.000 năm, họ đã lai giống, tăng nhân số và lan toả khắp Đông Nam Á lục địa.


 Công bố như vậy nhưng nhóm các tác giả Y. Chu, Jin Li của Chinese Human Genome Diversity Project không cho ta biết rõ điều vô cùng quan yếu: Người hiện đại tới Đông Nam Á thuộc chủng loại nào? Chính điều này khiến cho không ít người hoang mang, dẫn tới những đoán định thiếu cơ sở.


 Thực ra, từ lâu, các nhà nhân chủng học cổ điển đã đưa ra đáp án. Vào những năm 80 thế kỷ trước, giáo sư Nguyễn Đình Khoa của Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á, nhận định: “Thời đại Đá Mới, dân cư trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu.” Đấy là kết luận mà ông cùng các đồng nghiệp rút ra đựa trên khảo sát 38 sọ niên đại Đá Mới tìm thấy ở Việt Nam. Đúng ra, đó là một suy luận, dù rằng suy luận hợp lý. Thực tế, trong sưu tập sọ cổ không hề có Australoid hay Mongoloid thuần chủng. Nhưng từ những đứa con mà ta biết được bố mẹ. Trong các chủng người sinh ra ở Việt Nam thời đó, thì Indonesien mang dòng máu Mongoloid trội hơn.


 Y. Chu, Jin Li viết tiếp: “Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á đi tới Australia; 40.000 năm trước tới New Guinea và sau đó lan toả ra các đảo ngoài khơi …”


 Các tác giả này còn cho biết: khoảng 40.000 năm trước, khi băng hà tan, trời ấm lại, người từ Đông Nam Á đi lên phía Bắc, khoảng 30.000 năm trước vượt eo Bering sang chiếm lĩnh châu Mỹ.


 Trên đây là những thông tin ngắn gọn nhưng vô cùng quan trọng, có ý nghĩa như một cửa mở giúp chúng ta bước vào tiền sử của Đông Nam Á. Nhưng muốn đi sâu hơn, cần phải bỏ ra nhiều công sức và trí tuệ.


 Chúng tôi hình dung ra hành trình người Đông Nam Á đi lên phía Bắc như sau:


 Đại bộ phận đi theo con đường ven biển, chiếm lĩnh lưu vực sông Trường Giang rồi sông Hoàng Hà. Một bộ phận ngược dòng sông Hồng, sông Dương Tử lên chinh phục miền Tây Nam Trung Quốc. Đây là một cuộc mở đất liên tục của hàng nghìn thế hệ. Những lớp người đi muộn hơn, sau 20.000 năm, mang thành quả của Văn hoá Hoà Bình như lúa nước, khoai sọ, gà, chó… lên phương Bắc. Nhờ những tiến bộ kỹ thuật này mà chất lượng cuộc sống được cải thiện, nhân số gia tăng.


 Khoảng 12.000 đến 8.000 năm trước, do tác động của Đại Hồng Thuỷ, mực nước dâng cao tới tận Việt Trì, đồng bằng Sundaland và Nanhailand bị nhấn chìm. Nhiều lớp cư dân hai đồng bằng trên và của các đảo ngoài khơi di cư lên miền đất cao của Việt Nam, dùng thuyền bè đi về phía Tây sang tận Trung Đông, Madagascar. Một bộ phận quan trọng lên hướng bắc, gia nhập khối dân cư phía Nam lục địa Trung Hoa. Thời gian này, người Đông Nam Á, mà lịch sử gọi là Bách Việt, quần tụ tại hai trung tâm chính: Thái Sơn ở phía Bắc và Ngũ Lĩnh phía Nam. Dân Bách Việt tôn những người tài giỏi như Toại Nhân (làm ra lửa) Phục Hy (làm ra kinh Dịch), Thần Nông (dạy nghề nông, làm thuốc) làm những vị thần tổ của mình. Cho đến thiên niên kỷ thứ IV TCN, người Bách Việt sống trên duyên hải Biển Đông với diện tích 5% Trái đất nhưng có nhân số chiếm tới 54% nhân số thế giới (Fuller Buckminster, dẫn theo Vũ Hữu San: Vịnh Bắc Việt tái bản 2004. Tripod.com.), có nền văn hoá vật chất và phi vật chất cao nhất thế giới cổ đại.


2. Khoảng thiên niên kỷ thứ III TCN, người Mongoloid phương Bắc, là những bộ lạc du mục, số dân không nhiều, văn hoá chậm phát triển, nhưng là những chiến binh tinh nhuệ với ngọn thương và cung nỏ trên mình ngựa, từ vùng ngày nay là Thiểm Tây, Cam Túc bắt đầu nhòm ngó giống người da sậm, tóc xoăn làm ruộng nước sống cuộc sống sung túc ở phía Nam sông Hoàng. Nhiều cuộc xâm lấn diễn ra trong hàng trăm năm. Có những vùng đất bị chiếm, lương thực, gia súc bị cướp, nhiều người bị bắt làm nô lệ… Cho đến khoảng 2600 TCN, bằng trận quyết chiến Trác Lộc, họ Hiên Viên của người phương Bắc toàn thắng, được tôn làm Hoàng Đế.


 Là người chiến thắng nhưng nhân số ít, văn hoá chưa phát triển, người Mongoloid phương Bắc không thể tiêu diệt hay bắt tất cả kẻ thua cuộc làm nô lệ nên đã chủ trương chính sách cai trị khôn ngoan: để cho người bản địa làm những việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi, đi lính, còn giữ cho mình độc quyền những việc nhẹ nhàng mà thu nhập cao hơn là công nghiệp và thương mại. Người thắng cuộc cũng tiếp thu văn hoá bản địa với Toại Nhân, Phục Hy và vật tổ Rồng vừa để mị dân vừa bổ sung cho nền văn hoá còn nghèo nàn của mình. Trí thức người Việt cũng được huy động làm việc này. Trong quá trình chung đụng, nảy sinh cuộc lai giống giữa người Mongoloid phương Bắc với người Bách Việt, tạo nên chủng mới: Mongoloid phương Nam. Dường như ở đây phép màu kỳ diệu của Tạo hoá xảy ra: hàng vạn năm, chủng Mongoloid phương Bắc sống trong vùng thời tiết khắc nghiệt nên sinh suất thấp. Xuống phía Nam, gặp điều kiện sống thuận lợi, lương thực đầy đủ… nên xảy ra sự bùng nổ sinh sản: lớp con lai với người bản địa hưởng được những phẩm chất di truyền vượt trội. Chính những thế hệ lai hay chủng Mongoloid phương Nam, sau này được gọi là người Hán đã tạo nên thời hoàng kim (Nghiêu, Thuấn, Vũ) trong lịch sử Trung Hoa.


 Đến đây, một vấn đề cần được làm rõ: người Mongoloid phương Bắc là ai?


 Các tác giả của nhóm Tư Tưởng, sau khi nghiên cứu kỹ những tài liệu của Y. Chu, Jin Li, đã khẳng định, đó không phải thuộc người Altaic, cũng không phải từ phía Tây sang. Đấy là bước tiến vượt khỏi quan niệm cũ. Nhưng rõ ràng các tác giả của nhóm Tư Tưởng lại chệch hướng khi nghi ngờ người Ðông Nam Á có nguồn gốc Mông Cổ phương Nam. Đây là ngã rẽ có tính chất quyết định.


 Chúng tôi đồng ý với Ballinger cho rằng, người Đông Nam Á có nguồn gốc Mông Cổ phương Nam (were observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians- Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45)


Điều này chỉ có thể khi người Mông Cổ phương Bắc cũng từ Đông Nam Á đi lên.


 Có thể giả định như sau: người hiện đại thiên di tới Đông Nam Á gồm hai đại chủng, trong cuộc hành trình tự phát, và theo những con đường riêng biệt. Có những nhóm Mongoloid thuần chủng đến được Đông Nam Á, rồi cũng theo cách thức đó họ lên tận Tây Bắc Trung Quốc, định cư tại vùng Thiểm Tây, Cam Túc. Đó chính là tổ tiên của người Mongoloid phương Bắc. Khảo cổ học cũng tìm được vết tích của cuộc thiên di này qua xương một vài sọ tiền (proto) Mongoloid trên địa bàn Mông Cổ và Tây Bắc Trung Hoa như dẫn chứng trong bài viết của Nguyễn Quang Trọng: "Ðiều khó khăn nhất là rất ít sọ người được tìm ra ở đấy, dù có di chỉ đồ đá ở Mông Cổ (văn hóa Hetao) và ở bắc Trung Hoa vào hậu kỳ đá cũ. Ngoài ba sọ thuộc lớp khảo cổ trên ở trong hang Zhoukoudian xem như thuộc chủng tiền (proto) Mongoloid, người ta chỉ tìm được sọ Liujiang (Quảng Tây). Sọ này có tuổi định khá trẻ (10.000 năm trước), nhưng di vật trong Bailiandong (Bạch Liên động) gần đó lại có tuổi 30.000 năm trước.” Dù rất hiếm hoi nhưng những dấu vết trên cho thấy: thực sự có người Mongoloid từ Ðông Nam Á theo hành lang phía tây lên Tây bắc Trung Quốc. Việc nghèo nàn di vật cũng nói lên một điều: nhóm người này tuy đi làm nhiều đợt nhưng vì số lượng không nhiều nên chỉ tạo được quần thể thiểu số Mongoloid phương Bắc.


3. Thua trận Trác Lộc, Đế Lai bị giết, Lạc Long Quân cùng bộ phận người Việt dông thuyền xuôi sông Hoàng Hà ra biển, theo gió Bắc xuống phía Nam, đổ bộ vào miền Trung Việt Nam tại Rào Rum-Ngàn Hống (sông Lam núi Hồng) lập nhà nước Văn Lang. Về đây là người Lạc Việt tìm về quê cũ của mình. Có thể xác định về huyết thống, thành phần chủ yếu của họ vẫn là Indonesien, Melanesien. Cùng dòng tộc, cùng ngôn ngữ, người trở về cùng người bám trụ không khó gì trong việc bắt tay chung sức xây dựng nhà nước của mình.


 Trong khi đó, tại Trung Nguyên, việc lai giống giữa dân Bách Việt với Mongoloid phương Bắc bùng phát theo phản ứng dây chuyền đã chuyển đổi đại bộ phận người Bách Việt (cả trong vùng bị chiếm, cả ở vùng đất còn tự do) thành chủng Mongoloid phương Nam sống khắp lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Sang thiên niên kỷ II TCN, đế quốc của người Hán đã hùng mạnh, bành trướng xuống phía Nam, dồn một bộ phận dân Bách Việt mới, chữ Việt với bộ Tẩu – dân Mongoloid phương Nam- chạy trở lại Việt Nam cùng các nước Đông Nam Á. Chính những người trở về mái nhà xưa của tổ tiên này đã đem nguồn gene mới về làm thay đổi di truyền của người Lạc Việt, biến người Lạc Việt từ Indonesien, Melanesien trở thành Mongoloid phương Nam. Trong cuốn sách đã dẫn, Nguyễn Đình Khoa đưa ra thí dụ thuyết phục về khu mộ cổ trong đó có xương nhiều chủng người nhưng chúng tôi muốn nêu phát hiện khảo cổ gần đây nhất là di chỉ Mán Bạc ở Ninh Bình. Ở đây các nhà khảo cổ tìm được 30 di cốt của người Indonesien, Melanesien và cả người Mongoloid phương Nam cách nay 3500-4000 năm. Từ phát hiện này, tiến sĩ M. Oxenham của Đại học Quốc gia Úc nhận định: “Người Việt từ trước thời đá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu [Nam đảo] hay Đa đảo Melanesian, nhưng người Việt từ đầu thời Đồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hoà giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt hiện thời, vốn đã tương đối ổn định khoảng năm 2000 TCN.”(Lê Anh Vũ- Tin BBC hay tin Oxenham-Talawas 3.3.05)


 Điều này càng khẳng định ý kiến của Nguyễn Đình Khoa gần 30 năm trước: “Như vậy, sang thời đại Đồng -Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân ở Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư, hoặc do đồng hoá.”(sđd tr.106) Nhờ tiến bộ của khoa học, đến nay chúng ta biết chắc rằng, việc biến đổi di truyền như vậy của cộng đồng người Việt là kết quả của quá trình hoà huyết do sự thiên cư của người Việt từ Trung Quốc trở về.


 Cũng từ xác nhận của Oxenham: “có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt hiện thời, vốn đã tương đối ổn định khoảng năm 2000 TCN,” ta có thể và cần phải điều chỉnh lại một quan niệm sai lầm dai dẳng: người Việt bị Hán hoá. Không biết từ đâu và bao giờ, chúng ta nhiễm cái quan niệm sai lầm này, không chỉ trong sách sử mà còn cả trong mặc cảm của người dân bình thường. Năm 2003, trong một cuộc trả lời phỏng vấn Đài BBC, nhà sử học hàng đầu của chúng ta Trần Quốc Vượng có nói, đại ý:“ Tôi đã nói với ông Phạm Văn Đồng rằng, chúng ta bị nghìn năm Bắc thuộc, tính cách nào thì cũng nghìn năm. Trong suốt nghìn năm đó, quan lại sang này, rồi lính tới này… cho nên chúng ta bị Hán hoá đứt đuôi!” Rõ ràng điều đó không đúng. Nếu lầm lẫn cho rằng, việc người Indonesien, Melanesien đậm yếu tố Australoid chuyển hoá thành chủng Mongoloid phương Nam là sự Hán hoá thì điều này cũng diễn ra từ rất lâu để hoàn tất vào khoảng 2000 năm TCN, chứ không phải vào 1000 năm Sau Công lịch! Thêm nữa, quá trình chuyển đổi di truyền ấy không phải là Hán hoá mà khoa học gọi là Đông Nam Á hoá, một sự biến đổi chung cho toàn bộ Á Đông, cả người Hán cả người Việt và những sắc dân Đông Á khác- những đất nước không hề bị Trung Quốc chiếm đóng. Đúng là chúng ta bị 1000 năm Bắc thuộc, quan rồi lính Trung Quốc có sang và có sự hoà huyết. Nhưng những người Trung Quốc ấy chủ yếu là người phía Nam sông Dương Tử, họ là người gốc Việt, hay nói theo khoa học, họ là người cùng một chủng Mongoloid phương Nam hay nhóm loại hình Đông Nam Á với người Việt ta. Do lẽ đó, chúng ta có thể khẳng định: không hề có việc Hán hoá nòi giống của chúng ta.


Có thể đoán định rằng, bị người Hán xua đuổi, cũng có những lớp người Bách Việt Mongoloid phương Nam theo chân tổ tiên từ xa xưa, đã dùng thuyền vượt biển lên phía Bắc, sang châu Mỹ. Chính những người này, trong điều kiện tự nhiên của châu Mỹ, làm biến đổi di truyền của người bản địa châu Mỹ (những người Indonesien, Melanesien tới vào 30.000 năm trước) thành người thổ dân da đỏ như người Maya, Indien hiện nay... Việc hình thành dân cư của đảo Nhật Bản, Triều Tiên có lẽ cũng diễn ra tương tự.


 Nhân đây chúng tôi cũng xin đề nghị điều chỉnh lại quan niệm sai lầm vẫn thịnh hành cho rằng, các tộc Việt khác đã bị đồng hoá, chỉ có người Lạc Việt là giữ được dòng giống và đất đai của mình. Một quan niệm nhuốm màu sôvanh do chưa thấu hiểu lịch sử.


 Ta vẫn nói Bách Việt là trăm tộc Việt nhưng theo một tài liệu, chỉ có 20 bộ tộc. Có thể có những bộ tộc bị diệt chủng, bị đồng hoá nhưng nhiều bộ tộc giống như Lạc Việt, đã trở về mái nhà xưa của mình: người Thái về đất Thái, người Lào, người Miến Điện, Khmer, Mã Lai, Indonesia… cũng từ Nam Trung Quốc trở về đất cũ lập quốc gia của mình. Có điều, họ tự gọi bằng tên riêng của họ mà không dùng tên Việt. Như vậy dù không dùng tên Việt, họ vẫn là anh em bà con sát cánh cùng người Việt mở mang đất Trung Hoa, cùng chịu chung số phận lịch sử với chúng ta. Và cũng như ta, họ giữ được dòng giống và cương thổ riêng của họ.


 4. Từ những luận điểm trên, ta có thể phát biểu về hai giai đoạn của lịch sử người Việt như sau:


 Người Việt có mặt trên đất Việt khoảng 60.000 năm trước. Sau đó 10.000 năm, một bộ phận người Việt thiên di sang châu Úc, muộn hơn tới New Guinea và các đảo ngoài khơi Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, người Việt cùng nhiều cộng đồng Đông Nam Á khác đi lên khai phá phần đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Tại đây, dưới sự lãnh đạo của người Lạc Việt, người Bách Việt xây dựng nền văn minh lúa nước phát triển với hai trung tâm là Thái Sơn và Ngũ Lĩnh. Đây có thể coi là giai đoạn Bắc tiến trong lịch sử người Việt. Vào đầu thiên niên kỷ thứ III TCN, người Mongoloid tràn qua Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Do sự tiếp xúc về nhân chủng, một bộ phận lớn người Việt chuyển hoá về di truyền thành chủng Mongoloid phương Nam. Từ giữa thiên niên kỷ thứ III đến giữa thiên niên kỷ thứ II TCN, người Việt Mongoloid phương Nam từ phía Nam sông Dương Tử trở lại Việt Nam, xây dựng đất nước Văn Lang và làm chuyển hoá di truyền của đại bộ phận người Việt sang chủng Mongoloid phương Nam, hay còn gọi là nhóm loại hình Đông Nam Á. Đấy là thời kỳ mà sử sách quen gọi là Nam tiến.


 Phải chăng là, với những biện luận trên, vấn đề về cội nguồn người Việt đã được minh định?


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
xem thêm »