tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19732735
19.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (9)

PHẦN II ĐỐI THOẠI 


TRIỆU ÐÀ NGÀI LÀ AI?


Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Ðà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế (Ðại Việt sử ký toàn thư). Ðại Việt sử ký toàn thư ghi: "Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng." Sử gia Lê Văn Hưu nói: "Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy." Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: "Triệu Ðà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít." Ðiều này chứng tỏ Triệu Ðà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Ðến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Trải Triệu, Ðinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.” Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Ðà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.


 Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Ðến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) trong Việt sử tiêu án viết: "Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Ðường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Ðà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Ðến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Ðà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Ðặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Ðà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng." Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Ðà vẫn có hai luồng ý kiến trái ngược. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, tôi chỉ xin lục ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.


 Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: "Vua Nam Việt họ Triệu tên là Ðà, người huyện Chân Ðịnh, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Ðà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Ðà bèn tự tôn làm "Nam Việt Vũ đế", đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Ðà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Ðất đai của Ðà chiều ngang có hơn vạn đặm, Ðà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là "chế", chẳng kém gì Trung Quốc." "Ðến thời Hiếu Cảnh, Ðà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu "đế" như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng "vương", triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu."


Triệu Ðà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm.


 Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Ðôn ghi: "Ðem số hộ khẩu chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Ðông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba."


 Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía nam sông Dương Tử, và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Ðà cát cứ. Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An Dương vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Ðà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Ðà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!


 Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán) là người Ba Thục trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Tục Pắn bị xem là kẻ thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây Thành Cổ Loa bị đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng Triệu Ðà, đã được nhân dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Ðà dùng mưu thôn tính. Ðúng là Triệu Ðà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc thôn tính các nước Yên, Hàn, Tề, Triệu... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Ðà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Ðiều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Ðây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Năm 43 khi hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân Nam Việt cũ từ miền Trung, miền Bắc Việt Nam đến vùng Lưỡng Quảng sang tận Hải Nam đều hưởng ứng... Sau này, khi qua khảo sát ở vùng đất phía Nam Trung Quốc, bác sĩ Trần Ðại Sĩ thống kê được 200 địa điểm có đền thờ hai Bà Trưng. Không thể có việc này nếu không có thời kỳ Nam Việt.


 Ngày nay, theo công pháp quốc tế, Triệu Ðà tuy là người gốc Hán nhưng đã lấy vợ Việt, sống theo phong tục Việt, cai trị nước Việt thời gian dài ngót trăm năm: cai trị bằng tập tục, bằng luật pháp Việt Nam, bằng các quan lại người Việt trong một quốc gia độc lập không hề phụ thuộc phương Bắc. Ðiều này càng chứng tỏ ông là vị vua hợp pháp của một quốc gia độc lập. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Ðà sau đó thôn tính Âu Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!


Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên... đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết: "Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả," đã tỏ ra bất cập. So với một quốc gia còn trong tình trạng sơ khai với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói "thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán" cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Ðà làm vua, quan hệ Việt, Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Ðà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Ðà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần dân tộc hẹp hòi, ông không chịu một người Hán làm vua nước Việt! Trong lịch sử thế giới, một người nước này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, tới cuối thế kỷ XVIII, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Còn với chúng ta thì đúng Triệu Ðà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta. Mặt khác, vợ ông là Trình thị người Ðường Thâm, Giao Chỉ (nay là Ðồng Xâm, Thái Bình) nên con ông, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần máu Việt, còn cháu ông là Triệu Hồ có một phần máu Việt, đến Anh Tề, phần máu Việt cao hơn. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc mới của mình!


 Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Ðà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược. Vậy ông là ai?!


NHÌN LẠI VỀ SĨ NHIẾP


Không lâu trước đây, mỗi khi nghe ai nói “ Sĩ vương” hay “Nam Giao học tổ”, trong tôi lại dội lên sự bức bối rất lạ. Tôi như nổi khùng, tự cãi với người vô hình nào đó: “Ông ta làm vua bao giờ mà gọi là vương? Nước Việt ta phải mãi tới lúc đó mới có sự học sao mà ông ta lại là học tổ?” Tâm thức tự tôn lịch sử ấy được củng cố thêm khi đọc trong sách sử: “Việt sử thông giám cương mục (phàm lệ) có nhận xét: “Sĩ Nhiếp theo lệnh triều đình Trung Quốc phái sang làm Thái thú, không từng xưng vương bao giờ, thế mà sử cũ cũng chép riêng thành một kỷ, nay tước bỏ đi, chỉ chép thẳng công việc thời ấy để ghi lấy sự thực…” (Đại Việt sử ký toàn thư. NXB Văn hoá Thông tin năm 2000, tr 222). Rồi: “ Sĩ Nhiếp là viên quan đô hộ của nhà Hán đã cai trị lâu năm ở nước ta và đã truyền bá Nho giáo, lập trường dạy chữ Hán… Vì vậy các môn đệ Nho giáo ở nước ta đã suy tôn Sĩ Nhiếp là Sĩ Vương, coi là “Nam giao học tổ”. Cũng trong tinh thần đó, Đại Việt sử ký toàn thư đã viết thành “kỷ Sĩ Vương” và cả Lê Văn Hưu lẫn Ngô Sĩ Liên đều hết lời ca ngợi!”(sđd, Tr 105-106)


 Nhưng rồi không biết từ bao giờ, tôi chợt ngộ ra: chuyện đời không đơn giản vậy!


 Đúng, Sĩ Nhiếp là viên quan do nhà Hán đưa sang nhưng ông không phải người Hán mà là người Việt (tổ là người nước Lỗ sang Giao Châu, tới ông đã 6 đời). Sinh đẻ khôn lớn tại Giao Chỉ rồi ông sang Bắc Kinh du học, được làm quan, về nhậm chức ở quê quán. Suốt trong 40 năm ông giữ chức là thời kỳ Trung Quốc tao loạn. Ông đã khéo lèo lái, tránh cho Giao Châu khỏi lâm vào vòng tranh chấp giữa các thế lực Ngụy- Ngô. Trong bàn cờ thế cuộc lúc đó, Giao Châu tồn tại như một quốc gia tự quản, phụ thuộc lỏng lẻo các thế lực phương Bắc: khi thì nộp cống cho Hán, khi thì nộp cống cho Ngô. Nhờ thế Sĩ Nhiếp đã giữ cho Giao Châu sự ổn định, hòa bình, thịnh vượng gần nửa thế kỷ. Không chỉ nhiều người phương Bắc chạy loạn tới sinh sống mà còn là nơi dung thân của hơn trăm kẻ sĩ người Hán. Trên thực tế, Sĩ Nhiếp giữ vai trò của ông vua không ngai trong vương quốc của mình.


 Một câu hỏi đặt ra: Vì sao Sĩ Nhiếp không xưng vương?


 Trong hoàn cảnh lúc đó, việc xưng vương không khó, không cần người thật bản lĩnh cũng làm được, giống như dựng một vở tuồng. Nhưng việc không xưng vương hình như cần bản lĩnh cao hơn! Và may mắn mà Sĩ Nhiếp là người có bản lĩnh đó. Ông hiểu rằng, Giao Châu quá nhỏ so với phương Bắc. Sở dĩ ông tồn tại được là nhờ các thế lực phương Bắc chia rẽ đánh lẫn nhau. Trong bối cảnh đó, ông đã khôn khéo làm cho cả 3 đều không coi ông là kẻ thù cần đối phó mà là phiên thần cần “nuôi nấng bảo vệ”. Một khi ông xưng vương, thì tự nhiên Giao Châu thành quốc gia ly khai, trở nên thù địch với cả Thục, cả Ngô, cả Nguỵ. Cái tiểu quốc của ông trở thành bãi chiến trường, dân bị đẩy vào vòng chém giết và nước cũng mất trong một sớm một chiều! Hình như việc không xưng vương của Sĩ Nhiếp tỏ ra ông có bản lĩnh hơn con người gian hùng nhiều tham vọng Hồ Quý Ly. Nếu có bản lĩnh như Tào Tháo giữ Hiến đế hay như họ Trịnh giữ vua Lê thì họ Hồ cứ việc kê cao gối mà ngủ, còn đất nước cũng tránh được họa xâm lăng! Không xưng vương là Sĩ Nhiếp đã thực sự biết mình biết người vậy!


 Một câu hỏi cũng tự nhiên nảy sinh: vì sao dân Việt tôn ông là Vương? Nói rằng các nho sĩ vì muốn nâng uy tín của thầy mà tôn xưng cũng có lý. Nhưng nho sĩ là ai? Đó chẳng phải là tầng lớp biểu trưng cho lương tri, cho trí tuệ của dân tộc sao? Như vậy là lương tri và trí tuệ dân tộc Việt đã tôn xưng Sĩ Nhiếp.


 Nhưng có thể cũng còn vì lý do khác: dân tôn ông làm Vương để tự đề cao mình. Bởi lẽ có vương tất phải có quốc! Đất thì vẫn có đấy, chính là đất Nam Việt của Triệu Võ đế xưa. Nhưng trăm năm rồi dưới sự cai quản của những thái thú ngoại bang. Đến bây giờ, đất được tự quản, gần như độc lập, lại do một minh chúa “người mình” thống lĩnh. Vậy dại gì không tôn ông ta làm vua để trên danh tiếng có một quốc gia, được là dân của một nước độc lập? Làm sao mà biết tâm trạng người xưa nhưng ai dám bảo không có ý như vậy? Dân tôn Sĩ Nhiếp làm vua cũng chính vì mình! Viết điều đó vào chính sử là điều không phải hạng thợ chép sử tầm thường có thể làm!


 Nghĩ vậy, tôi một lần nữa đem sách sử ra đọc:


Viên Huy nhà Hán gửi thư cho Thượng thư lệnh là Tuân Úc rằng:“ Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn 20 năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn… Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư truyện. Phàm những chỗ ghi chép không rõ ràng trong sách Xuân Thu tả thị truyện (tôi đã hỏi), đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy… Lại như sách Thượng thư, cả cổ văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết tường tận, đầy đủ. Anh em ông làm quan coi quận, hùng trưởng một châu, ở lánh ngoài muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có mấy mươi người; vợ cả vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Uý Đà cũng không hơn được.”


 Qua lời của một kẻ sĩ Bắc quốc hiện lên chân dung lồ lộ con người và phẩm cách của Sĩ Nhiếp. Ngoài đức và trí ra thì cuộc sống thực của ông có khác gì một ông vua? Dân gọi ông là Vương không phải là không có lý.


 Và đây là lời sử gia Lê Văn Hưu:


 “Sĩ Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt đến thịnh một thời. Lại hiểu nghĩa, thức thời, tuy tài và dũng không bằng Triệu Vũ đế, nhưng chịu nhín mà thờ nước lớn, để giữ vẹn bờ cõi, có thể gọi là người trí…”


 Còn đây là nhận xét của sử gia Ngô Sĩ Liên:


 “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không ngừng chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao?”


 Tôi từng nghiên cứu về cội nguồn văn hoá Việt, nền văn hoá phát triển sớm và rực rỡ, cũng từng biết, thời Triệu Đà chữ Hán được truyền sang… Nhưng cái sự học trở nên quy củ phải nói là từ Sĩ Nhiếp. Nếu không phải ông thì ai là người đặt nền móng cho việc học ở nước ta? Vậy gọi ông là học tổ đâu phải chuyện hoang đường?


 Chép những lời trên vào chính sử, cả họ Lê cả họ Ngô đều chẳng phải tự mình nghĩ được mà là lắng nghe trong sâu thẳm lòng người từ nghìn xưa vọng lại… Ngẫm ra mới biết trí tuệ của dân muôn đời sáng láng thay!


Sài Gòn, tháng Tư Bính Tuất


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »