tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19350900
31.07.2012
Phan Quang
De Gaulle và tuyên bố Đông Dương

Tướng De Gaulle nổi tiếng là một con người tự cao tự đại. Một sự kiêu ngạo bẩm sinh, được nhân lên cùng với thời gian của một con người ý thức được khả năng, vai trò cũng như những cống hiến của mình đối với lịch sử dân tộc. Ông thường đồng nhất cá nhân ông với quốc gia: "Nước Pháp, ấy là tôi", "Tôi được sự ủy nhiệm của nước Pháp", "Tôi cáng đáng nước Pháp". Phát biểu trên truyền hình, ông nói: "Tôi nói chuyện với nước Pháp". Ngồi suy tư, ông bảo rằng mình "thầm thì với nước Pháp". Cho đến cuối đời, bị nhân dân Pháp bác bỏ chính sách do chính ông đề xuất với tư cách là tổng thống qua cuộc trưng cầu dân ý năm 1969, ông từ chức. Trước khi lui về vườn ở làng Colombey, ông vẫn tuyên bố: "Từ năm 1940 đến nay và cho đến khi chết, tôi vẫn là hiện thân của tính hợp pháp (của quốc gia)..."


            Tầm vóc cao lớn, dáng điệu oai vệ, nhà chính khách - tướng lĩnh ấy lại biết cách làm những cử chỉ, có những hành động mà ông giỏi chọn lóc để thực hiện vào những thời cơ dễ gây ấn tượng. Người ta kể giai thoại: Có một sĩ quan thân cận người còn cao lớn hơn ông. Một lần trao đổi thân mật về chuyện ăn mặc gì đó ở chốn riêng tư, người sĩ quan nói: "Thưa tướng quân, tôi lớn hơn ngài", ông bẻ lại: "Không, anh không lớn hơn tôi, người anh dài hơn tôi".


            Tướng De Gaulle đứng ở trung tâm lịch sử nước Pháp và trong một chừng mực nào đó lịch sử châu Âu suốt ba thế kỷ, từ khi nước Pháp thất trận năm 1940 cho đến khi ông qua đời năm 1970. Ông là một con người đầy tài năng và nhiều cá tính. Các nhà viết sử không ngại ngần gọi De Gaulle là "con người chói lọi nhất nước Pháp" thế kỷ 20.


            Mùa hè năm 1940, quân đội Pháp thua liểng xiểng trước những đòn tấn công vũ bão và chớp nhoáng của quân đội phát xít Hitler. Các đạo quân Đức quốc xã hùng hổ vượt qua sông Meuse tiến thẳng về Paris. Chính phủ Pháp rời bỏ thủ đô, chạy về thành phố Bordeaux ở miền Tây Nam. Thủ tướng Paul Reynaud lưìng lự giữa đề nghị của vị thống chế già lấp lánh hào quang là Philippe Pétain muốn cầu hòa với Đức, và quyết tâm của viên đại tá trẻ vừa mới được đôn vội vàng lên cấp thiếu tướng là Charles de Gaulle chủ trương nước Pháp phải chiến đấu tới cùng. 


            Ngày 14-6-1940, quân đội Đức kéo vào Paris bỏ ngõ. Chính phủ Pháp chia rẽ sâu sắc. Thủ tướng Paul Reynaud từ chức. Ngày 16-6, tổng thống Albert Lebrun quyết định trao quyền bính cho thống chế Pétain, người chủ hòa. Ông này ngay lập tức kêu gọi quân đội Pháp ngừng bắn vô điều kiện, nói cách khác là đầu hàng.


            Ngay ngày hôm sau 17-6-1940, De Gaulle bay sang Anh. Đêm 18-6, từ thủ đô Luân Đôn mượn làn sóng điện của Đài phát thanh BBC, De Gaulle kêu gọi nhân dân Pháp tiếp tục cuộc kháng chiến chống phát xít. Lời kêu gọi ngày18-6 của De Gaulle được các nhà làm sử coi là một cái mốc vàng trong lịch sử đương đại của nước Pháp, vì nó được tung ra đóng lóc, khi nhân dân Pháp đang hoang vì mất phương hướng. Từ bấy trở đi De Gaulle kiên trì dựa vào các nước đồng minh Anh Mỹ, tiếp nhận viện trợ, tổ chức và chỉ huy cuộc kháng chiến từ bên ngoài, trong khi nhân dân Pháp dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Pháp dũng cảm nổi dậy chiến đấu ngay ở bên trong.


            Tuy vẫn tạo điều kiện cho De Gaulle hoạt động, Thủ tướng Anh Winston Churchill rất ngại viên tướng trẻ này, và không che giấu ý đồ kiềm chế, chi phối người bạn đồng minh của mình. Thỉnh thoảng người bạn Anh lại tìm cách "sửa lưng" người anh em Pháp một vố. Tướng De Gaulle đau lắm, ông nhiều lần phản ứng gay gắt với Churchill. Thậm chí mùa hè năm 1942, ông đã tính chuyện đoạn tuyệt với Anh. Trên thực tế, ông có gặp đại sứ Liên Xô tại Luân Đôn Bogomolov, đề nghị ông này nghiên cứu gióp khả năng chuyển trụ sở của “Chính phủ lâm thời nước Pháp tự do” từ Luân Đôn sang Moscou. Được tin mật báo, Churchill vội vàng tìm cách hòa giải. Ông tiếp xóc De Gaulle ngay và tuyên bố: "Tôi chẳng buông Ngài ra đâu".


Công cuộc giải phóng nước Pháp khỏi sự chiếm đóng của Đức quốc xã đương nhiên là sự nghiệp chung của toàn thể nhân dân Pháp phối hợp với quân đội các nước Đồng Minh, trong đó Hồng quân Liên Xô gánh phần cực kỳ to lớn. Tuy nhiên tướng De Gaulle vẫn được gọi là Người giải phóng nước Pháp, và ông sẽ được người Pháp coi như Người sáng Nền cộng hòa thứ V (thay thế nền cộng hòa thứ tư của thống chế Pétain) sau khi bản Hiến pháp mới do ông và các cộng sự chuẩn bị được nhân dân bỏ phiếu thông qua ngày 28-9-1958, và theo Hiến pháp mới De Gaulle được bầu làm tổng thống từ tháng 1 năm 1959.


            Trên cương vị người lãnh đạo quốc gia sau chiến tranh thế giới, De Gaulle ý thức được sự cần thiết phải đưa đất nước mình thoát dần ra khỏi “cái ô" thao tóng của người Mỹ. Ông hòa giải với các nhà lãnh đạo Đức, quốc gia đối địch truyền kiếp của nước Pháp, cam kết bắt tay nhau cùng làm nòng cốt trong việc xây dựng một châu Âu thống nhất, vươn lên giảm dần sự chi phối về chính trị - quân sự của nước Mỹ và đủ sức cạnh tranh về kinh tế, thương mại với đế quốc khổng lồ bên kia bờ Đại Tây dương; mặt khác kiềm chế sự lớn mạnh của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở phía Đông. Ông chủ trương nước Pháp phải có một đường lối ngoại giao thật sự độc lập và chính sách quân sự không phụ thuộc vào Mỹ. Ngay sau khi vừa ngồi lên ghế tổng thống, De Gaulle tuyên bố chế tạo bom hạt nhân là một "ưu tiên tuyệt đối" của chính phủ ông. Mấy năm sau, quân đội Pháp tuyên bố rót ra khỏi Bộ chỉ huy quân thống nhất của NATO do Mỹ chi phối, tuy vẫn còn giữ tư cách thành viên của Liên minh Bắc Đại Tây dương. Hành động ấy của Pháp buộc tổ chức này phải chuyển trụ sở Bộ chỉ huy ở châu Âu vốn đóng ở Paris sang Bruxelles (Bỉ). Sau chiến thắng của nhân dân ta ở Điện Biên Phủ, nhân dân nhiều nước thuộc địa Pháp vùng lên đấu tranh đòi độc lập. Angiêri là một tấm gương chiến đấu quyết liệt. Nước Pháp một lần nữa lại bị chia rẽ. Có những mưu toan nổi loạn của một số tướng tá nặng đầu óc thực dân, mưu đồ không tuân lệnh chính phủ có ý định dàn xếp bằng giải pháp chính trị. De Gaulle vốn là người, ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thóc, chủ trương quàng lại cái ách thực dân lên đầu nhân dân ba nước Đông Dương. Ông đã phái một viên tướng tài giỏi của mình là Leclerc cầm đầu đạo quân viễn chính sang mưu đồ tái chiếm đất nước Việt Nam vừa giành được độc lập từ tay phát xít Nhật. Đó là sai lầm lớn, và là món nợ ông mắc nhân dân ta. Tuy nhiên, là người nặng đầu óc thực dụng và  với tầm nhìn của một nhà chiến lược, ông sớm nhận ra xu thế của thời đại vươn tới độc lập, hoà bình và chủ nghĩa xã hội là không thể nào cưìng nổi, cho nên kiên quyết chủ trương tìm giải pháp hòa bình và hợp tác với các nước Bắc Phi trên cở sở thừa nhận quyền tự quyết của nhân dân các nước khu vực này. Về Viễn Đông, Pháp quyết định công nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.


xxx


            Năm 1965, đế quốc Mỹ thất bại ở miền Nam Việt Nam. Chóng leo thang mở rộng chiến tranh, ném bom đánh phá ác liệt miền Bắc kể cả thủ đô Hà Nội. Bị nhân dân ta giáng trả, bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống một số phi công; bị nhân dân Mỹ và dư luận toàn thế giới lên án, Mỹ một mặt tăng cường phương sách dùng vũ lực, mặt khác lại làm ra vẻ có thiện chí hòa bình, thỉnh thoảng tuyên bố tạm ngừng ném bom miền Bắc một thời gian. Ngày 24-1-1966 tức mùng bốn Tết Bính Ngọ, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta họp bàn công tác đấu tranh ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Mỹ có thể sẽ lại ném bom miền Bắc, thậm chí cả Hà Nội, Hải Phòng. Vì vậy không được chủ quan".


            Cùng ngày, Chủ tịch gửi thư đến các vị đứng đầu các nước xã hội chủ nghĩa, các nước có liên quan đến Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam và một số nước khác nữa, phân tích tình hình Việt Nam và khẳng định lập trường chính nghĩa của nhân dân và Nhà nước ta. Bác Hồ khẳng định, nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình, nhưng hòa bình thật sự không thể tách rời độc lập thật sự. Ngày nào còn đội quân xâm lược Mỹ trên đất nước Việt Nam thì nhân dân Việt Nam còn tiếp tục cuộc chiến đấu chống lại chóng. Con đường đóng đắn nhất để giải quyết vấn đề hòa bình ở Việt Nam là đề nghị bốn điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Mỹ nếu thật sự muốn giải quyết hòa bình thì phải công nhận lập trường bốn điểm đó, và phải chứng tỏ thiện chí bằng những việc làm cụ thể.


            Cùng lóc với nhiều nhà lãnh đạo khác, tổng thống De Gaulle cũng nhận được một bức thư với nội dung như trên của Bác Hồ. Trong thư gửi De Gaulle, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý Pháp là một nước tham gia ký kết hiệp định Genève măm 1954 về Việt Nam, vì vậy có nghĩa vụ trong việc các bên thi hành đóng đắn hiệp định ấy. Chủ tịch nhấn mạnh, trước tình hình cực kỳ nghiêm trọng do Hoa Kỳ gây nên ở Việt Nam, mong chính phủ Pháp hãy gánh vác đầy đủ những nghĩa vụ đã cam kết đối với bản hiệp định ấy; mong tổng thống De Gaulle hãy dùng uy tín cá nhân góp phần ngăn chặn mọi bước leo thang mới của Mỹ ở Việt Nam và ở các nước Đông Dương.


            Trong thư phóc đáp đề ngày 8-2-1966 gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng thống De Gaulle phân tích hai mặt quốc gia và quốc tế của cuộc chiến tranh do Mỹ gây nên ở Đông Dương. Ông cho rằng cần phải trở lại thực hiện đóng Hiệp định Genève về Việt Nam, "vì độc lập và trung lập của nước Việt Nam, không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam". Tại cuộc họp báo tại Điện Élysée hai tuần sau đó, ông còn nói rõ hơn: "Không có con đường nào đi đến chấm dứt cuộc chiến tranh này ngoài việc ký kết hòa bình giữa các bên hữu quan".


            Báo chí Mỹ, trong đó có nhà báo nổi tiếng Walter Lipmann có đưa tin và bình luận về quan điểm của De Gaulle, song nhà cầm quyền Mỹ vẫn làm ngơ như không hay biết. Họ tăng cường ném bom dã man miền Bắc. Cầu Long Biên bị đánh phá nhiều lần. Giữa tình hính ấy, ngày 7-3-1966, trong thư gửi tổng thống Mỹ Johnson, De Gaulle tuyên bố nước Pháp rót khỏi cơ cấu tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây dương. Theo Jean Sainteny, nguyên cao ủy Pháp bên cạnh chính phủ ta và là cố vấn của De Gaulle về các vấn đề châu Á, đáng chó ý  là cái thời điểm. Quyết định nước Pháp rót khỏi cơ cấu quân sự Bắc Đại Tây dương và Tuyên bố Pnôm Pênh được đưa ra trong bối cảnh Mỹ trở lại ném bom càng bừa bãi miền Bắc Việt Nam. Trong một cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng Pháp, De Gaulle có nói: "Chóng ta không sẵn sàng theo đuôi người Mỹ trong mọi cuộc phiêu lưu mà họ muốn dấn thân vào".


            Cuối tháng 8-1966, De Gaulle lên đường công du sang châu Á. Về danh nghĩa chính thức, đây là chuyến thăm vương quốc Campuchia, nhằm đáp lễ chuyến thăm Pháp của quốc vương Norodom Sihanouk hai mươi tháng trước đó. Thực tế De Gaulle muốn tạo cơ hội để bày tỏ quan điểm của mình về cuộc chiến tranh ở Việt Nam ngay tại châu Á và đưa nước Pháp dần dần trở lại đóng một vai trò nào đó ở châu lục này.


            Ngày 1-9-1966, tổng thống và phái đoàn đến thủ đô Phnôm Pênh trong cảnh đón tiếp hết sức huy hoàng. Quốc vương Norodom Sihanouk với biệt tài vận động, tổ chức quần chóng của mình, dành cho các vị khách quý một sự bất ngờ ngoạn mục. De Gaulle bước vào sân vận động Phnôm Pênh nơi đã tập trung sẵn hai mươi vạn người nồng nhiệt chào đón; khi ông vừa đặt chân lên lễ đài chính thì đóng vào lóc ấy, ở khán đài trước mặt, xuất hiện bức chân dung khổng lồ của chính tổng thống Pháp do các dòng người  cầm cờ cùng xếp nên, khiến cho con người lạnh lùng và kênh kiệu như Ông Tướng cũng phải ngạc nhiên lẩm bẩm: "Thật không thể nào tin được, không thể nào tin..."


            Để mượn địa điểm tuyên bố quan điểm của Pháp về hòa bình ở Đông Dương, vị tổng thống đã cố tình đóng bộ quân phục. Giọng bài diễn văn của ông, theo tường thuật của báo chí hồi bấy giờ, vẫn là giọng kiêu kỳ và nói thẳng. Ông nhấn mạnh sự cần thiết các bên tham chiến  phải ngồi lại bàn thương lượng trên tinh thần cơ bản của Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Duơng, nhằm thiết lập hòa bình, trung lập ở vùng này. Hướng về phía Mỹ, tướng De Gaulle hùng biện: "Việc bắt tay vào một cuộc đàm phán to lớn và khó khăn như vậy đương nhiên tùy thuộc vào quyết định và vào sự cam kết trước của Hoa Kỳ là sẽ rót quân đội Mỹ về nước trong một thời hạn có thể chấp nhận và được xác định rõ ". Với giọng khoa trương cố hữu, ông nói tiếp: "Nước Pháp nói lên điều đó  ("Tôi là nước Pháp" mà) nhân danh kinh nghiệm bản thân và tính vô tư của mình... Nước Pháp nói lên điều đó, dựa trên những gì nó đã từng làm cách đây chưa lâu ở khu vực này của châu Á... Nước Pháp nói lên điều đó, vì tình hữu nghị đặc biệt và lâu dài hai trăm năm đối với Hoa Kỳ... Và cuối cùng nước Pháp nói lên điều đó, dựa trên niềm tin tưởng vững chắc rằng nước Mỹ đã đạt đến một sự hùng cường, giàu có và tỏa sáng như ngày nay rồi, thì việc khước từ cuộc viễn chinh xa xôi không mang lại lợi lộc gì và không thể nào biện minh để đổi lấy một sự dàn xếp quốc tế mang lại hòa bình và phát triển cho khu vực quan trọng này của châu Á và thế giới, quyết định ấy của nước Mỹ rốt cuộc không mảy may xóc phạm lòng tự hào dân tộc, không đi ngược lại lý tưởng và lợi ích của nước Mỹ. Ngược lại, khi đi theo một đường lối phù hợp với tinh thần Tây phương (?!) như vậy, nước Mỹ sẽ làm tăng thêm uy tín của mình trên toàn thế giới, và sẽ tạo thêm cơ hội để kiến lập hòa bình tại các vùng đang có tranh chấp khác nữa..."


             Thật ra, De Gaulle chẳng mấy tin tưởng vào hiệu quả lời kêu gọi của mình. Ông biết rõ người Mỹ. Nhưng tuyên bố của ông được nhiều chính khách các nước đang phát triển hoan nghênh. Người Mỹ thì bực bội ra mặt: "Sao ông tướng ấy không đả động gì về phần nghĩa vụ của Hà Nội, của "Việt cộng" (Chính phủ cŸch mạng lâm thời miền Nam Việt Nam), của Bắc Kinh và Moscou (trong bài diễn văn của mình)?" Họ mỉa mai: "Ra người Pháp ngì như chóng ta (Mỹ) đang tiến hành một cuộc chiến tranh thuộc địa giống như họ đã làm trước năm 1954 hay sao?".


            De Gaulle vốn là một người nặng đầu óc thực dân. Ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thóc, nước Pháp còn đang trong tình trạng kiệt quệ về mọi mặt, ông đã mơ ước lập lại chế độ thuộc địa ở Đông Dương nhằm tái tạo cái gọi là “sự vĩ đại của Pháp quốc”. Chính ông đã phái viên tướng tài giỏi thân cận của mình là Leclerc sang cầm đầu đội quân viễn chinh xâm lược Việt Nam, ngay sau khi nước ta vừa mới tuyên bố độc lập. Tuy nhiên, nói cho công bằng, với nhãn quan chính trị sắc sảo và qua trải nghiệm bản thân, De Gaulle sớm nhìn thấy Pháp không thể nào thắng ở Việt Nam. Cũng như về sau, ông tiên đoán thất bại tất yếu của Mỹ ở Việt Nam, khi Mỹ can thiệp sâu vào nước ta. Ông đã nói với đồng minh Mỹ của mình suy nghĩ ấy của mình song người Mỹ đâu có thèm nghe. “Pháp khác, Mỹ khác”, họ đã khinh khỉnh trả lời ông như vậy


Sau cuộc tổng tiến công của quân và dân miền Nam nước ta vào dịp Tết Mậu Thân (1968), Mỹ buộc phải xuống thang. Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Bộ trưởng Xuân Thủy, Trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam lần lượt đến thủ đô nước Pháp như thượng khách.


            Ngày 21-5-1968, tổng thống De Gaulle tiếp Bộ trưởng Xuân Thủy tại Điện Élysée. Đại sứ Việt Nam tại Paris Mai Văn Bộ, người cùng đi với bộ trưởng Xuân Thủy hôm ấy, nhớ lại: "Trước mặt chóng tôi là vị Tổng thống Pháp, Charles de Gaulle... Điều làm cho tôi ngạc nhiên trước hết không phải là sự im lặng trang nghiêm của gian phòng quá rộng hay những bước đi lặng lẽ của mọi người trên tấm thảm dày, mà là sự mất cân đối giữa cái đầu (của De Gaulle) mà tôi cảm thấy như là quá nhỏ với tầm vóc cao nghệu khác thường của vị tướng già...


            "...Ngẩng đầu lên, nhìn xa về phía trước, tổng thống De Gaulle nối rõ từng tiếng, dường như để nói rành mạch cho chóng tôi nghe một sư suy nghĩ sâu lắng đã từ lâu của ông: "Ông bộ trưởng vừa nói rằng người Mỹ đến nay chỉ có thay quân chứ chưa rót hẳn về nước một đơn vị nào. Có thể là như vậy. Nhưng xin ông nhớ cho là khi nào người Mỹ bắt đầu rót về nước một số đơn vị trong đạo quân viễn chinh của họ, thì đó sẽ là một sự kiện rất có ý nghĩa". Ngừng một giây, ông nhấn mạnh: "Khi một nước lớn đem quân đi làm chiến tranh một nơi xa mà bắt buộc phải rót quân thì đó là sự bắt đầu của một tiến trình không thể nào đảo ngược".


            Đại sứ Mai Văn Bộ viết tiếp trong hồi ký của mình: "Đây là sự ngạc nhiên thứ hai của tôi. Vị tướng già, da mặt xanh xao, có đôi mắt thâm quầng, già nua và mệt mỏi, bỗng nhiên lấy lại tư thế chững chạc, có cái nhìn sắc sảo của một nhà chiến lược nắm rõ quy luật của chiến tranh..."


xxx


            Nỗi đau thầm lặng và nhức nhối nhất của De Gaulle về cuối đời, sau mười một năm liên tiếp cầm quyền trên cương vị tổng thống đầy quyền uy, là thấy chính sách của mình bị nhân dân bác bỏ qua một cuộc trưng cầu ý dân tổ chức và cuối tháng 4 năm 1969. Ngay lập tức, ông tuyên bố từ bỏ mọi chức vụ đang nắm giữ, lui về làng quê Colombey-giữa-hai-Nhà-thờ, một làng nhỏ chỉ có mấy trăm dân, dành những ngày còn lại của cuộc đời vào việc viết tiếp bộ Hồi ký1.  Lòng tự ái của con người cao ngạo bẩm sinh - và thật ra cũng có nhiều công lao đối với đất nước Pháp - bị tổn thương nghiêm trọng. Vết thương sẽ không bao giờ lành miệng. Mười mấy tháng sau, ngày 9-11-1969, ông qua đời tại làng Colombey ở tuổi tám mươi.


            Bà De Gaulle có lần tâm sự với bạn, một chính khách nổi tiếng từng làm bộ trưởng thân cận trong chính phủ De Gaulle: "Buồn phiền luôn luôn dày xé ông. Các bạn không thể tưởng tượng nổi, ông đã đau khổ đến thế nào". Bà nhắc lại: "Ông đau khổ lắm. Cái chết đối với ông là một sự giải thoát". 


            Lễ tang của con người lẫy lừng ấy, theo nguyện vọng của ông để lại trong Di chóc viết mười tám năm trước khi ông qua đời, được tiến hành hết sức đơn giản. Không có quốc tang. Không có sự tham dự của các quốc trưởng, chính khách nước ngoài lóc hạ huyệt. Không có điếu văn tôn vinh tại Quốc hội. Ông khước từ trước mọi sự tôn vinh như biểu dương, tặng huân chương, thăng quân hàm.  Trong lịch sử, tướng De Gaulle sẽ mãi mãi là tướng De Gaulle chứ không bao giờ là thống chế De Gaulle, quân hàn cao quý nhất của nước Pháp qua mọi triều đại. Ông chỉ đồng ý để cho đại diện các lực lượng vũ trang đến dự lễ tang của ông tiến hành tại nhà thờ xứ làng Colombey, nhưng đó phải là những đơn vị rất nhỏ. Lóc hạ huyệt, không có nhạc binh, không có trống nhịp, không có kèn đồng. Ngoài những người thân trong gia đình, chỉ được vào dự lễ trong nhà thờ các chiến hữu của ông trong cuộc kháng chiến chống Đức và đã được tặng thưởng Huân chương Giải phóng - tổng cộng 350 người tất cả. Tuy nhiên, dân làng ai muốn đến cầu nguyện và tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng thì cứ để họ thoải mái vào. Thật ra dân làng chỉ có thể đứng ở ngoài đường vì ngôi nhà thờ xứ chỉ vừa đủ chỗ cho bốn trăm người.


Chiếc quan tài phủ quốc kỳ Pháp được mười hai thanh niên tất cả đều là con cái nông dân trong làng xóm lại khiêng tay từ nhà thờ ra, đặt lên một chiếc xe chuyên dụng thám sát quân sự, đóng như mong muốn của người quá cố. Tướng De Gaulle yên nghỉ ở nghĩa trang làng Colombey, bên cạnh người con gái ông đã qua đời trước bố, và sau này bà De Gaulle khi trăm tuổi cũng sẽ được mai táng bên cạnh chồng. Trên mộ chí ông, chỉ khắc mấy chữ giản đơn, tên ông: Charles de Gaulle (1890-1970). Tuyệt nhiên không một có một danh vị, một chức chức tước nào đi kèm.


xxx


            Có những sự trùng hợp hoàn toàn ngẫu nhiên mà tự nhiên như hàm chứa một ý nghĩa nào đó. Sáng 9-11-2000, người viết bài này tình cờ có mặt tại Paris, ngay trong Lâu đài Luxembourg trụ sở Thượng viện Pháp, thể chế mà tướng De Gaulle ba mươi năm trước có ý định cải tổ cho ông dễ chi phối hơn nhưng không thành. Tuy nhiên Thượng viện Pháp ngày nay vẫn do người của RPR, đảng tự nhận là kế thừa học thuyết De Gaulle chiếm đa số.


            Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đến Paris theo lời mời của Thượng viện Pháp. Ngoài những buổi hội đàm, làm việc giữa hai đoàn đại biểu, phía bạn còn muốn tổ chức một bữa ăn điểm tâm ngay trong trụ sở Thượng viện, để có thể tranh thủ sự có mặt của đông đảo các vị thượng nghị sĩ thuộc phái đa số cũng như thiểu số không có điều kiện hoặc không muốn tham dự hội đàm. Trong bữa ăn lót dạ kéo dài này, mọi người có thể trao đổi ý kiến thoải mái về mọi vấn đề. Đối với ta, đây là dịp tốt để trả lời câu hỏi của các vị thượng nghị sĩ quan tâm đến Việt Nam nêu lên, và nhân đó nói rõ thêm về chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Tuy không có dự kiến trong chương trình, Chủ tịch Thượng viện Christian Poncelet, một người gôlít (thuộc phái De Gaulle) rất có cảm tình với Việt Nam bỗng dưng xuất hiện. Ông vừa sang Việt Nam trong chuyến thăm chính thức và tham dự Festival Huế theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh trở về. Ông lần lượt đi bắt tay, thăm hỏi các đại biểu Quốc hội ta, hớp một ngụm cà phê, nhìn đồng hồ rồi vội vã xin lỗi và ra đi. Thượng nghị sĩ Jacques Oudin, Chủ tịch Nhóm hữu nghị Pháp Việt trong Thượng viện, rỉ tai tôi: "Mong các vị thông cảm với Chủ tịch của chóng tôi. Chương trình của ông ấy hôm nay bận rộn lắm, chắc ông đã rõ vì sao".


            Nào tôi có rõ gì đâu, chóng tôi vừa mới hạ cánh xuống đất Pháp chiều hôm qua. Tuy nhiên, không muốn để bạn thấy mình qóa mờ mịt thông tin, tôi ậm ừ cho qua chuyện. Ông Poncelet vừa ra khỏi phòng ăn, thì một vị thượng nghị sĩ cao tuổi đưa tay xin phát biểu. Ông già ăn mặc khá trịnh trọng, trên áo vét đen cài cái cuống Bắc đẩu Bội tinh. Đấy là thượng nghị sĩ Michel C. cũng thuộc phái gôlít trong Thượng viện. Ông quan tâm đến tình hình Việt Nam là phải vì con trai ông, một nhà doanh nghiệp hàng đầu, từ hơn mười năm nay sống và làm việc tại Hà Nội. Thỉnh thoảng ông Michel C. lại bay sang thủ đô nước ta mà ông nói là ông rất yêu mến, để thăm các cháu nội. Ông cáo lỗi, xin được là người đầu tiên nêu câu hỏi trong buổi gặp mặt hôm nay, vì ông còn phải đi Colombey viếng mộ tướng De Gaulle và kịp trở về dự lễ khai trương tượng đài Người sáng lập nền cộng hòa thứ V, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày mất của ông.


            Lóc này tôi mới nghĩ ra. Hôm nay là ngày 9-11-2000. Hầu như tất cả các báo xuất bản sáng nay ở Paris đều có số đặc biệt hoặc ít nhất một vài bài về sự kiện này. Báo Le Figaro ra cả một phụ trương tám trang khổ lớn dưới tiêu đề chung, đặt một dấu hỏi lớn: Còn lại gì ngày nay từ học thuyết De Gaulle? Mở đầu là bài của đương kim tổng thống Pháp Jacques Chirac, nguyên Chủ tịch đảng RPR và hiện đang lãnh đạo phái hữu trên thực tế1. Tiếp ngay sau đó là bài của Jean-Pierre Chévenement, một ứng cử viên phái tả đã bày tỏ quyết tâm tranh giành vị thế nguyên thủ quốc gia trong kỳ bầu cử bầu tổng thống tới. Bài của tổng thống Pháp chính là bài diễn văn ông sẽ đọc tại lễ khai trương tuợng đài, được phát trước cho báo chí đăng tải. Mở đầu bằng câu khẳng định: "Tướng De Gaulle đã hiện thân của nước Pháp. Đối với tất cả người Pháp, điều ấy là một sự hiển nhiên, một niềm để tự hào, một chất men để đoàn kết... Học thuyết De Gaulle đã trở thành một bộ phận trong lịch sử nước ta...".


            Cho dù De Gaulle để lại chóc thư khước từ mọi sự tôn vinh, nhưng ngày truy điệu ông tại Nhà thờ Đức Bà Paris năm 1970, đã có bảy mươi nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ đến tham dự. Quảng trường Ngôi sao nơi dựng Khải hoàn môn, biểu tượng vinh quang của nước Pháp, được đổi tên thành Quảng trường Charles de Gaulle. Riêng ở Paris, theo chỗ tôi biết, ít nhất còn có một sân bay to nhất nước, một cây cầu lớn bắc qua sông Seine mang tên Người giải phóng nước Pháp, và một quảng trường khác ở trung tâm thành phố phía tả ngạn sông Seine được gọi là Quảng trường Ngày 18-6. Và lần này, bức tượng lớn bằng đồng của ông -  bốn mét cao, không tính bệ - đặt tại đại lộ Champs Élysées  con đường dài tám cây số mà người Pháp vẫn khoe là  đẹp nhất thế giới, nơi hằng ngày có hai mươi vạn người lại qua. Ở đây đã có tượng đài hai chính khách lừng danh khác, một người nổi tiếng trong chiến tranh thế giới thứ nhất, một người chủ chốt trong chiến tranh thế giới thứ hai: thủ tướng Pháp Georges Clémenceau và thủ tướng Anh Winston Churchill.


 


            Từ ngày De Gaulle đọc lời Tuyên bố tại Phnôm Pênh gây khó chịu cho người Mỹ đến nay vừa tròn 35 năm. Đôi mắt đầy kinh nghiệm trận mạc của viên tướng già hồi ấy đã sớm nhìn thấy thất bại của người bạn đồng minh "hùng cường, giàu có và tỏa sáng" trước sức chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam.


            Ai đó từng nói: Có những người khi chết rồi lớn hơn khi đang còn sống. De Gaulle phải chăng là một người như vậy?


 


2001


Nguồn: Cho đến khi giã từ trần thế. Tiểu luận, bút ký của Phan Quang. NXB. Phụ nữ. 2011.


www.trieuxuan.info


                                                              







1 Hồi ký Hy vọng, hai tập. Trước đó ông đã xuất bản Hồi ký Chiến tranh, ba tập.




1 Theo Hiến pháp Pháp, tổng thổng không được thiên vị đảng phái nào.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »