tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003279
Tiểu thuyết
27.07.2012
Hoài Anh
Chim gọi nắng

III- Tạ Thu Thâu con một ông thợ mộc ở Long Xuyên, nhà nghèo nhưng cố chí học, đỗ brevet élémentaire và đi dạy học ở một trường công lớn. Năm 1926, Thâu 20 tuổi gia nhập Đảng Jeune Annam (Thanh Niên An Nam) của Trần Huy Liệu, viết cho nhiều báo, trong đó có báo l’Annam của Phan Văn Trường. Thâu quen Nguyễn An Ninh từ năm 1923, lúc đó Thâu chưa lập gia đình, sống với người chị là cô Ba Chuẩn, cũng làm cô giáo, nhà ở phía sau Lăng Ông Bà Chiểu. Năm 1927, Thâu theo Ninh sang Pháp, học thi bằng Tú tài Toán học. Ninh giới thiệu Thâu với Nguyễn Thế Truyền người mới lập đàng PAI (An Nam độc lập) ở Paris. Bản thân Thâu khi làm việc cho đảng PAI thì hãy còn trong trắng về chính trị và đảng PAI lúc đó gồm những người yêu nước. Mối quan hệ bạn bè không chọn lọc giữa một môi trường chính trị phức tạp đã đưa Thâu đến với những người tờ-rốt-kít ở Pháp, biến dần đảng PAI thành cực tả nên đảng viên dần dần ly khai gia nhập Đảng Cộng sản.


Năm 1930, Thâu cùng 19 thanh niên Việt Nam trong đó có Trần Văn Giàu, Trần Văn Thạch, Huỳnh Văn Phương biểu tình trước điện Élysée đòi quyền độc lập cho Việt Nam, bị trục xuất về nước.


Sau khi về nước, Thâu đi dạy học và viết bài cho một số báo. Đồng thời Thâu bí mật tổ chức có sở tài chánh cho nhóm tờ-rốt-kít hoạt động. Giữa năm 1931, thì tổ chức này bị mật thám khám phá. Thâu bị bắt giam tại Khám lớn với tội danh lập Đảng Cộng sản cánh tả theo đường lối tờ-rốt-kít. Đến năm 1933 thì Thâu được thả ra. Thâu bây giờ công khai là lãnh tụ tờ-rốt-kít hay gọi là Đệ tứ không bí mật như hai năm trước mà nhiều người đã tưởng Thâu đã thôi hoạt động chính trị.


Thâu muốn ra một tờ báo công khai bằng tiếng Pháp, còn muốn tiếp tục phát huy danh tiếng tờ La Lutte do Nguyễn An Ninh sáng lập năm 1933, vì vậy Thâu đến gặp Ninh để xin ý kiến.


Lúc đó Nguyễn An Ninh không có tiền, đồng chí Nguyễn Văn Tạo trong nhóm cộng sản cũng vậy. Tạo đã cộng tác với tờ La Lutte của Ninh từ lúc mới ra đời. Ninh quen với đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn ở Mỹ Tho. Nguyễn là bà con bạn dì với vợ ông Mai Văn Ngọc, người cùng Ninh thành lập Đảng Thanh niên Cao vọng, sau vào Đảng Cộng sản. Nguyễn là một trong những người cộng sản đầu tiên ở Mỹ Tho, Ninh quen biết Dương Bạch Mai từ lúc Mai còn ở bên Pháp với Tạo. Cả Tạo và Mai đều là đảng viên đảng Cộng sản Pháp, về nước gặp lúc Trung ương không còn nên các anh chưa có liên hệ gì về công tác với Đảng Cộng sản Đông Dương. Còn Nguyễn Văn Nguyễn mới ra tù, đang tìm cách bắt liên lạc với số anh em còn lại trong Xứ ủy Nam kỳ.


Giữa Tạo và Thâu có mối bất đồng sâu sắc về quan điểm chính trị họ đã từng tranh cãi nảy lửa trên các diễn đàn ở Paris. Ninh bàn với Tạo, nếu Tạo, Mai đồng ý thì mới thêm Nguyễn cùng ra báo La Lutte với nhóm tờ-rốt-kít của Thâu. Sau khi các nhóm Nguyễn, Tạo và Mai đồng ý với nhóm tờ-rốt-kít ra báo La Lutte, Ninh gặp Thâu thuyết phục nếu nhóm tờ-rốt-kít nhận liên kết với nhóm cộng sản thì Ninh nhận lời. Ninh thảo bản cam kết chung giữa hai nhóm:


- Thống nhất liên kết trong cuộc đấu tranh với kẻ thù chung là chánh quyền thực dân Pháp và bọn tay sai Lập hiến;


- Cùng nhau truyền bá lý luận và hệ tư tưởng Mác-xít;


- Bảo vệ quyền lợi thợ thuyền dân quê;


- Không chống Đệ Tam quốc tế, không chống chủ nghĩa Stalin, hay chủ nghĩa tờ-rốt-kít, không chống Đảng Cộng sản;


- Không được đề cao cá nhân. Bài viết không đề tên tác giả;


- Bài đăng báo phải được cả hai bên đồng ý.


Ninh đóng vai trò hòa giải khi có mâu thuẫn. Bên cộng sản có Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn... bên tờ-rốt-kít có Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Lê Văn Thử.


Báo La Lutte ra đời lần này, tiền bạc, nhà in, trụ sở đều do nhóm tờ-rốt-kít lo... Trụ sở tại đường Lagrandière, thuê mướn mỗi lần ba tháng trả tiền một lúc. Vợ chồng Thâu cũng mướn nhà ở đường Lagrandière, mở tiệm bán chiếu thảm, lấy tên “Fabrinat”.


Giữa năm 1935, để chống hiểm họa phát xít tấn công Liên Xô, thành trì của phong trào cách mạng toàn thế giới, Quốc tế Cộng sản đã đề ra nhiệm vụ trước mắt chưa phải đánh đổ chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới như trước đây mà là thành lập mặt trận nhân dân chống phát xít. Mở đầu phong trào chống phát xít là hiệp ước Nga Pháp liên kết phát triển lực lượng quân sự. Ở Pháp Đảng Cộng sản liên minh với Đảng Xã hội và Đảng Xã hội Cấp tiến thành lập mặt trận Bình dân, được nhân dân Pháp ủng hộ.


Sự kiện này đã châm ngòi cho số tờ-rốt-kít của nhóm La Lutte chống cộng sản. Bọn tờ-rốt-kít cho rằng Quốc tế Cộng sản câu kết với bọn tư bản phản bội lời thề với giai cấp vô sản, còn Đảng cộng sản Pháp là tay sai của Quốc tế Cộng sản, phản bội nhân dân Pháp. Tình hình nội bộ nhóm La Lutte lúc này căng thẳng. Các đồng chí cộng sản túc trực ngày đêm tại nhà in, sợ nhóm tờ-rốt-kít không giữ đúng cam kết viết bài công kích lên báo gây hoang mang trong dân chúng, có hại cho uy tín của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản.


Sau Đại hội ở Macao, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này lúc này từ nước ngoài về đóng tại Bà Điểm. Tổng bí thư là đồng chí Hà Huy Tập. Ngày mới lên Hốc Môn, anh Tập ở nhà bác Mười Đối, được vài hôm lại chuyển chỗ ở hoặc ở nhà chị Hai Sóc.


Đồng chí Võ Văn Ngân1 sau chuyến đi Macao về bịnh rất nặng nên thường xuyên nằm trị ở địa bàn Hốc Môn do chị Tư Giả và chị Hai Sóc chăm sóc.


Anh Tập và anh Ngân đã mời các anh Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo lên Hốc Môn gặp. Từ ngày về nước năm 1932, lần đầu tiên hai người cộng sản của Đảng Pháp trực tiếp làm việc với lãnh tụ Đảng Cộng sản Đông Dương, đề nhận sự chỉ đạo của Đảng.


Anh Tập cũng giao cho chị Tám Lựu nhiệm vụ “phải tranh thủ Nguyễn An Ninh”.


Lúc này ở Pháp, Mặt trận Bình dân thắng thăm trong tổng tuyển cử, đứng ra lập chính phủ, do thủ lĩnh Đảng Xã hội là ông Léon Blum làm thủ tướng Bộ trưởng Bộ Thuộc địa là ông Moutet cũng là người của Đảng Xã hội.


Bộ Thuộc địa dự định lập một ủy ban điều tra các nguyện vọng chính đáng của nhân dân các nước thuộc địa trong đó có Đông Dương. Phái đoàn điều tra sang Đông Dương sẽ do một nghị sĩ cộng sản Pháp dẫn đầu.


Một ủy ban Hành động Trung ương chuẩn bị cho Đông dương đại hội, gồm 19 người được thành lập nhằm thu thập dân nguyện giửu cho Phái đoàn điều tra từ Pháp sang. Ngoài các đồng chí cộng sản như Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Hiển, chị Tám Lựu, chị Năm Lượng, còn có ông Võ Công Tồn, Nguyễn An Ninh và Lê Quang Liêm. Trần Văn Khá, Nguyễn Văn Sâm, Trương Công Thuận, Nguyễn Phan Long, Trịnh Hưng Ngẫu, Đào Hưng Long, Trần Văn Thạch, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Bùi Thế Kỷ, Jean Bâtie Đồng.


Lúc này số tờ-rốt-kít quá khích cho ra những bài báo nhấn mạnh quyền lợi của giai cấp vô sản không thể hòa hợp với giai cấp hữu sản.


Bọn Lập hiến đã vịn vào những ý kiến này để phao vu nhóm La Lutte không thật tình đoàn kết trong phòng trào Đại hội. Vì vậy bọn chúng tuyên bố ly khai với Đại hội, rút ra khỏi Dân ủy... Ngày 13 - 9 trên các báo của Lập hiến đăng bức thư ly khai. Đây là hành động mở màn chống phá Đại hội.


Sự thật là nhà cầm quyền lo sợ phong trào Đại hội lớn mạnh, nên thống đốc Nam kỳ chỉ thị cho bọn Lập hiến rút khỏi Dân ủy. Mặt khác họ báo cáo sang chánh phủ Pháp là nhân dân Đông dương nổi loạn với con số 600. Ủy ban mọc lên ở mọi nơi, gây náo loạn các làng xóm, các ban hội tề không còn hoạt động.


Ngày 15 - 9 - 1936, từ Paris, Bộ trưởng Bộ thuộc địa lại tức tốc gửi công điện sang cho Toàn quyền Đông dương:


“Tôi được tin có sự lộn xộn về việc tổ chức các ủy ban Hành động lập bản dân nguyện để đưa lên Phái đoàn Điều tra. Cho đến nay Thượng nghị viện vẫn chưa thảo luận và chưa chuẩn y về Phái đoàn Điều tra. Tổ chức để đón tiếp Phái đoàn màkhông đạt mục đích thì vô nghĩa. Còn lấy cớ đón tiếp để làm ồn ào gây tai hại làm ảnh hưởng đến chánh sách của chánh phủ là không cho phép. Chánh phủ yêu cầu ông ngăn chặn bạo động hoặc xúi giục bạo động. Phải dùng những biện pháp mà luật pháp đã ban hành để giữ gìn trật tự.


Tôi ra lệnh công bố bức điện này cho dân chúng được biết: chúng tôi rất quan tâm đến việc cải cách kinh tế và chính trị cho họ. Nhưng phải bảo đảm trật tự ở Đông dương và ở mọi nơi.”


Ngày 21-1-1936, Thống đốc Nam kỳ gửi tối hậu thư cho Nguyễn An Ninh và bốn vị trong Ban Thường trực Lâm ủy yêu cầu phải trao cho y trong thời hạn ngắn nhất, bốn tập thỉnh cầu cầu mà Ủy ban Trung ương đã lập ra để soạn thảo.


Yêu cầu không được đáp ứng, chúng bắt Ninh, Tạo, Thâu giam vào Khám lớn.


Khi Ninh, Tạo, Thâu đang ngồi tù, thì nhóm tờ-rốt-kít xé rào vi phạm những điều cam kết đăng bài chống Stalin, Đảng Cộng sản Pháp trên báo La Lutte. Sau khi ra tù, Tạ Thu Thâu ra điều kiện với nhóm La Lutte: Hết tháng 11, chánh phủ Mặt trận Bình dân không giữ lời hứa cải cách ở Đông dương, không cử Phái đoàn điều tra sang, Đảng Cộng sản Pháp không ngăn chặn được đàn áp ở Đông dương thì báo La Lutte sẽ công khai vạch trần bộ mặt của họ trước dư luận quần chúng.


Nguyễn An Ninh sau khi ra tù, ở nhà bắt đầu viết quyển “Phê bình Phật giáo”. Thỉnh thoảng nhóm La Lutte lại mời ông xuống họp. Tình hình đấu tranh về quan điểm chính trị của nội bộ nhóm La Lutte ngày càng căng thẳng.


Thâu yêu cầu vạch mặt phản động của chánh phủ Mặt trận Bình dân Pháp đã đàn áp phong trào Đại hội ở Đông dương. Tạo bác bỏ vì cho rằng dù chánh phủ Mặt trận Bình dân không giữ lời hứa cũng không nên gộp chánh phủ Mặt trận Bình dân với bọn thực dân Pháp làm một, phải tranh thủ chánh phủ Bình dân, có lợi cho phong trào ở Đông dương. Kẻ thù chung của nhân dân thế giới là bọn phát xít, chúng âm mưu bành trướng xâm lược các nước Nga, Trung Quốc, Đông Âu. Phải chĩa mũi nhọn vào bọn phát xít.


Thâu cho rằng nói họa phát xít là quá sớm, là thổi phồng. Trước mắt làm cách mạng là phải vạch mặt chánh phủ tiếp đó Bình dân. Tạo cho rằng lên án chánh phủ Bình dân là gây chia rẽ có lợi cho bọn đế quốc và bọn phát xít. Ai gây chia rẽ khối đoàn kết chống phát xít là phản động.


Ngày 7-3-1937, Nguyễn An Ninh viết bài đăng báo La Lutte nhan đề “Đông Dương hãy cảnh giác”. Sau đó Ninh viết bài kêu gọi hình thành Mặt trận Nhân dân Đông dương không phân biệt chủng tộc và giai cấp. Tạ Thu Thâu liền viết bài bác bỏ mặt trận này. Thâu thẳng thừng tuyên bố “Liên minh trên những việc cụ thể thì đồng ý còn Liên minh các giai cấp thì không bao giờ”.


Thâu còn chất vấn:


“Tôi cho rằng việc tập hợp các thành phần cánh tả sẽ diễn ra trong bầu không khí chân thực và ý chí tiến bộ chứ không phải trong bầu không khí thỏa hiệp với bọn tòng phạm của chủ nghĩa phát xít và phong kiến. Tôi cũng muốn biết đồng chí Nguyễn An Ninh muốn hình thành Mặt trận Nhân dân Đông dương dưới hình thức nào và với những thành phần nào?” Trên báo La Lutte số 138 ngày 1-4-1937, Ninh kịch liệt phê phán Tạ Thu Thâu:


“Tôi không thích cung cách ít hào hiệp của đồng chí Thâu khi bóp méo tư tưởng của tôi, gán cho những ý tưởng mà tôi không hề có với mục đích duy nhất là dễ dàng đi đến những kết luận có tính lăng nhục... Tại sao lại phải tung ra hàng loạt những câu nói bóng nói gió, không một chút nào mang tính chính trực của người trí thức.


... Về sự khiêu khích của đồng chí Thâu, tôi để cho công chúng phán xét. Đối với tôi, câu trả lời của Thâu chỉ là một dấu hiệu tức tối, không thuyết phục được tôi chút nào.


Tiếp đó, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Văn Nguyễn bị vu cáo về tội xúi giục dân chúng biểu tình ở Càng Long ngày 7-5-1937 bị bắt và kết án 5 năm tù, 10 năm biệt xứ về tội hoạt động lật đổ, đến đầu năm 1938, Tòa án bên Pháp hạ mức án xuống còn hai năm tù và năm năm biệt xứ. Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Tạ Thu Thâu cũng bị bắt kết án tù về tội hoạt động lật đổ bằng báo chí. Ngày 19-2-1939, Ninh, Tạo, Mai, Thâu được ra tù trước thời hạn, Nguyễn vài tháng sau mới được thả.


Năm 1939 lại có cuộc tổng tuyển cử Hội đồng Quản hạt Nam kỳ. Lần này có rất nhiều liên danh, chung quy có bốn sổ đối đầu nhau. Sổ Lập hiến của Lê Quang Liêm, sổ Tranh đấu của Tạ Thu Thâu, sổ Dân chúng của Đảng Cộng sản và sổ Tư Bản của bọn tay sai thực dân do Michel Mỹ đứng đầu.


Trong các sổ thì Đảng Cộng sản chỉ ngại sổ Tranh đấu vì lâu nay dân chúng vẫn nghĩ nhóm Tạ Thu Thâu là nhóm La Lutte, là những người yêu nước bênh vực quyền lợi cho dân chúng. Đồng bào chưa hiểu rõ nhóm La Lutte trước đây gồm cả những người cộng sản và tờ-rốt-kít. Ở nông thôn, phong trào cách mạng lên mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì vậy bà con nông thôn chỉ biết có Đảng Cộng sản. Ở nông thôn, Đảng thắng thăm là chắc chắn, nhưng ở thành phố thì đáng lo ngại.


Theo chỉ đạo của Trung ương, Xứ ủy họp mở rộng bàn về Liên danh của sổ Dân chúng. Đứng đầu liên danh là Nguyễn Văn Tạo đã ba lần thắng thăm trong kỳ bầu Hội đồng Thành phố. Mời Nguyễn An Ninh vào liên danh thì chắc chắn thắng thăm rồi, nhưng liệu Nguyễn An Ninh có chịu ra ứng cử không? Còn người thứ ba? Có ý kiến đề Dương Bạch Mai vì Mai cũng đã hai lần thắng thăm ở Hội đồng Thành phố. Nhưng có ý kiến cho rằng trước đây đứng chung sổ với tờ-rốt-kít, còn bây giờ phải chọn người hơn hẳn tờ-rốt-kít, phải có uy tín lớn trong quần chúng. Và hai người được hội nghị bàn đến là ông hội đồng Võ Công Tồn và Nguyễn Phan Long. Lý do đưa Nguyễn Phan Long ra vì cho rằng ông ta có uy tín trong giới nhà báo, hồi Đông dương Đại hội ông ta đứng về phía quần chúng ly khai với bọn Lập hiến, ông ta không chống cộng sản.


Cuối cùng Xứ ủy quyết định cử Minh Khai gặp Nguyễn An Ninh thuyết phục ra ứng cử. Phải mời cho được Nguyễn An Ninh và tham khảo ý kiến ông Ninh về nhân vật thứ ba.


Khi đó nhà Nguyễn An Ninh đã dọn xuống Mỹ Tho, bà Ninh lúc này còn đang dang dở việc buôn bán vựa củi nên phải lên xuống Mỹ Tho - Chợ Lớn đôi ba lần trong tuần. Một hôm chị Nguyễn Thị Một, cháu bà, là vợ anh Trương Văn Bang lúc này là Tỉnh ủy ủy viên Chợ Lớn dẫn chị Minh Khai đến tìm bà Ninh ở Chợ Lớn. Minh Khai nhờ bà Ninh chuyển lời xin lỗi ông Ninh vì không đến gặp được. Lúc ông Ninh còn ở Hóc Môn, có việc gì cần là các đồng chí cho liên lạc đến trước và trực tiếp bàn chuyện với ông Ninh. Còn bây giờ ở xa quá, nhờ bà Ninh chuyển lời Xứ ủy mời ông Ninh ra ứng cử Hội đồng Quản hạt Nam kỳ trong liên danh của Sổ Dân chúng. Liên danh gồm Tạo, Ninh, Đảng đã nhất trí rồi. Còn nhân vật thứ ba thì chưa chọn ai giữa Dương Bạch Mai, Võ Công Tồn và Nguyễn Phan Long.


Nghe bà Ninh kể lại, ông Ninh buồn, suy nghĩ rồi dặn bà Ninh:


- Em có gặp cô Năm chuyển lời là anh từ chối việc ứng cử Hội đồng quản hạt Nam kỳ.


- Nếu cô ấy hỏi tại sao?


- Xưa nay anh có ra ứng cử Hội đồng bao giờ. Anh không thích hợp vị trí của mấy ông Hội đồng.


- Nhưng Đảng lo thất thăm ở Thành phố nên mời anh:


- Sợ thất thăm mà tính liên danh cùng Nguyễn Phan Long càng mất thăm. Dân chúng ở xứ Nam kỳ này đều biết Bùi Quang Chiêu lãnh tụ Lập hiến là bán nước rồi:


- Nghe cô Năm nói năm 1936, Nguyễn Phan Long đã ly khai với tụi Lập hiến và có uy tín với tụi nhà báo Nam kỳ.


- Đánh giá Nguyễn Phan Long như vậy là ấu trĩ, còn liên danh với ông ta là tự hạ mình. Nguyễn Phan Long là “con điếm chính trị” hôm nay đi với dân chúng nhưng ngày mai cặp với thực dân. Trong phong trào Đông dương Đại hội không ai mời ông ta, ông ta tự đứng ra triệu tập hội nghị và phủ nhận vai trò quần chúng. Khi phong trào quần chúng lên và do bị Bùi Quang Chiêu đả kích, ông ta mới ly khai. Sở dĩ trong Đông dương Đại hội mình hợp tác với ông ta vì ông ta chủ trì họp hành, chịu mọi tốn kém chỉ cơ lợi cho mình chứ có hại gì. Mọi chủ trương của ông ta đều bị anh em mình bác bỏ, còn Đảng Lập hiến thì bị phân hóa. Nhưng trong liên danh hội đồng đa số là người của thực dân, mình không thể làm gì được, nhiều lắm là có tiếng nói phản đối nữhng điều vô lý. Lợi đâu chưa thấy, trước mắt quần chúng sẽ nghi ngờ còn tờ-rốt-kít tha hồ mạt sát.


Sau đó bà Ninh gặp chị Minh Khai và chuyển lời của ông Ninh thì lần này chị Minh Khai đích thân xuống Mỹ Tho gặp ông Ninh để trao đổi:


- Xứ ủy vẫn quyết định mời anh ra ứng cử mặc dầu biết anh không đồng tình... Nếu không có anh nhất định sẽ thua thăm bọn tờ-rốt-kít:


- Sao cô lại nói như vậy? Chưa chắc tên của Nguyễn An Ninh đã thu hút thăm, còn tùy thuộc danh sách của liên danh như thế nào:


- Anh muốn nói trường hợp của Nguyễn Phan Long? Vấn đề này Xứ ủy sẽ bàn lại. Đây là quyết định của Đảng, mong anh đồng ý.


- Nếu Đảng đã quyết thì tôi chấp hành. Còn nếu là tham khảo thêm ý của tôi thì tôi đã phát biểu rồi. Dân chúng xứ này biết rõ Nguyễn Phan Long là ai.


- Như vậy là anh đồng ý. Tôi xin thay mặt Xứ ủy cám ơn anh...


Danh sách cuối cùng được cổ động cho liên danh sổ Dân chúng gồm có Tạo, Ninh, Mai đối đầu với liên danh sổ Tranh đấu Thâu, Hùm, Thạch tại Quận nhì.


Theo yêu cầu của Xứ ủy, Ninh và Tạo cần viết một số bài để cổ động. Tháng 4-1939, trên báo Dân chúng của Đảng có đăng “Lời tuyên bố của Nguyễn An Ninh”. Ninh nói rõ vì sao ra tranh cử Hội đồng, vì sao ông không nói cách mạng vô sản mà nói quốc gia dân chủ, vì sao phải chống bọn phát xít v.v.... Khi nói về nhóm tờ-rốt-kít, Ninh gọi họ là quốc gia mù mờ và cách mạng đầu lưỡi. Ninh đã viết như sau:


... “Có kẻ ở bờ sông bên này muốn qua bờ sông bên kia. Thay vì phải nhào xuống sông để lội, phải lao vào thực tế để tìm cách làm chủ được nó, thì kẻ đó lại la lên “không được đâu, vì đó là tự sát, là sẽ bị chết đắm”. Kẻ ấy lại kêu những người can đảm muốn giải phóng lấy mình các anh không nên nghe lời bọn điên vì các anh sẽ bị chết trôi đó”. Lời khuyên ấy mới nghe qua dường như có lý vì nhào xuống sông mà không thể lội qua sông thì có thể chết trôi. Song không nhào xuống sông thì không thể lội sang bờ bên kia được. Công lao, sự hay dở của bọn làm cách mạng là ở trong cái tài biết lội đó. Không lội nổi là phải chết chìm, có là tất nhiên. Song nói vậy là nói bóng thôi. Vì thực tế nó lôi cuốn tất cả mọi người, không để một ai bình yên đứng trên bờ không cho một người cách mạng nào giữ được địa vị của người ngoài cuộc. Thái độ phản đối xuông của bọn “trí thức cách mạng” làm cho họ mộng tưởng rằng họ không bị thực tế lôi cuốn”.


Thống đốc Nam kỳ Rivoal lại kiếm chuyện để xóa sổ Dân chúng và Tranh đấu với lý do Tạo, Mai, Ninh, Thâu đang bị án biệt xứ không có quyền ứng cử. Hắn cho thu hồi hết các thăm có tên những người này.


Hai liên danh của Tạo và Thâu điện cho Toàn quyền Brévié và Bộ trưởng Thuộc địa Moutet phản kháng. Còn quần chúng thì biểu tình đòi quyền tự do ứng cử, đòi phổ thông đầu phiếu. Mãi gần tới giờ khui thăm vòng một, chánh phủ Pháp mới điện sang đồng ý cho những người này ứng cử. Quần chúng không hay tin kịp nên ở Quận nhì, hai sổ Dân chúng và Tranh đấu thiếu thăm phải bầu lại vòng hai.


Bọn Lập hiến và bọn Michel Mỹ thì ngay vòng một đã có kết quả. Lập hiến thắng còn Michel Mỹ rớt.


Sổ Dân chúng đang bị thất thế là Tạo, Ninh, Mai đang bị lưu đầy nên cả ba người không được phép đi lại hội họp để cổ động. Còn sổ Tranh đấu chỉ có mình Thâu bị lưu đày, Hùm, Thạch vẫn tự do mở các cuộc họp. Hùm đã mời cả chục tờ báo đến họp, vận động bỏ thăm cho số Tranh đấu. Vì vậy Sổ Tranh đấu thắng thăm vòng hai. Số thăm tập trung nhiều ở Thành phố còn ở các tỉnh tỷ lệ thăm Sổ Dân chúng đạt cao hơn nhưng số lượng thăm lại ít.


Thâu dò biết Minh Khai đã đến vận động Ninh ra ứng cử khiến Sổ Tranh đấu suýt nữa thất bại nên rát căm giận Minh Khai. Nhưng Thâu muốn dùng cái sách “Tào Tháo mượn tay Lưu Hiểu giết Nễ Hành” mượn tay người khác hại Minh Khai. Nhưng báo bắt Minh Khai lúc này chưa đủ chứng cớ để khép Minh Khai vào tội tử hình hay chung thân.


Đến khi Thâu nghe tin Lê Hồng Phong đã trở về Sài Gòn, Lê Hồng Phong là ủy viên Quốc tế cộng sản, đã từng bị án tù nay lại về Sài Gòn tiếp tục hoạt động, như vậy đủ ghép vào tội chung thân ít ra cũng bị đầy ra Côn đảo. Thâu bỗng nghĩ đến Đinh Nho Hàng.


Hàng là giáo sư dạy ở trường Taberd, có nhiều tiền. Từ lúc nhóm La Lutte, Hằng hay đến tòa soạn chơi. Trước Hàng quen với Lê Văn Thử chỉ đến thăm và nói chuyện. Sau Hàng kết thân với Thâu, Hùm, Thạch rồi quen cả tòa soạn. Hàng ăn nói rất đàng hoàng, nhiều lúc rủ cả nhóm La Lutte đi ăn cơm. Qua nhiều lần tranh cãi trong nhóm La Lutte. Hàng biết, giả bộ nghiêng về nhóm Đệ tam nên kết thân với Nguyễn Văn Nguyễn. Hàng biết nhóm Đệ tam nghèo nên có bao nhiêu tiền Hàng dốc túi cho để trả tiền nhà, để trả tiền cơm tháng nên nhóm Đệ tam tin Hàng lắm, nhất là Nguyễn. Khi Lê Hồng Phong đến gặp anh em ở ngôi nhà này, Hàng gặp đã làm quen với Lê Hồng Phong, rồi mượn cớ viết bài cho La Lutte, nhờ Lê Hồng Phong sửa cho. Lúc đó Thâu đã ngờ Hàng là mật thám nhưng cứ lờ đi. “Dĩ độc trị độc”.


Thâu khoái chí tự thưởng cho mình một ly mác-ten vì đã nghĩ ra cái triết lý vạn năng để tự biện hộ cho mình. Người xưa chẳng dạy “Bất độc bất anh hùng” là gì!


Trong ngôi nhà đồ đạc cố làm ra sơ sài giản dị, Thâu đang tiếp chuyện Dinh Nho Hàng.


Vừa phả một hơi thuốc thơm Ca-men, Hàng vừa hỏi Thâu:


- Hồi này ông còn dạy trường Lê Bá Cang nữa không?


Thâu cười, khuôn mặt mập mạp của y lộ vẻ tự mãn:


- Ồ không, hồi này tôi nghỉ dạy để tập trung hoạt động chánh trị. Tụi tôi mới nắm thêm được mấy tờ báo La Lúyttơ, Tháng Mười, Phổ Thông. Phụ nữ thời đàm... Tha hồ chơi nhau với bọn Đệ Tam...


Thâu vừa nói vừa gỡ cặp kiếng trắng ra lau. Hàng hỏi:


- Vừa rồi ở Ba Son có cuộc đình công, ý ông về chuyện này như thế nào?


Thâu đeo lại kiếng lên mắt:


- Ồ, anh còn lạ gì nữa, muốn thực hiện chủ nghĩa Mác ở xứ này thì phải làm thẳng cách mệnh vô sản chớ đòi cải cách mà làm gì? Trong chế độ tư bổn hiện thời, những khẩu hiệu dân chủ làm sao mà thực hiện đặng? Dầu có đấu tranh cũng không thể đòi được sự gì hết, mà lại còn bị tư bổn khủng bố là đằng khác nữa...


Hàng gật đầu:


- Ông nói đúng lắm! Mình phải làm mệnh thường trực chớ vận động đình công như kiểu bọn Đệ Tam là thỏa hiệp với tư bổn.


Tạ Thu Thâu hỏi nhỏ Đinh Nho Hàng:


- Anh biết chắc Lê Hồng Phong đã về tới đây rồi à?


Đinh Nho Hàng cũng nhỏ giọng:


- Thì trước đây tôi thường lui tới chỗ Lê Hồng Phong hoài mà. Mới đây mặc dầu Lê Hồng Phong đã cải trang làm người làm công cho tiệm buôn Hoa kiều, tôi vẫn nhận được mặt...


- Nếu vậy anh dò xem Lê Hồng Phong ở đâu rồi, tìm đến nối liên lạc lại đi. Lê Hồng Phong vắng mặt ở Nam kỳ một thời gian chưa biết anh đứng về phía tụi tôi đâu. Anh cứ tìm cách nhờ Lê Hồng Phong sửa giùm những bài báo tiếng Tây anh viết cho La Lúyttơ như ngày trước, vậy là ăn thua. Trong những bài báo đưa cho Phong sửa, anh cứ đả tụi tôi thiệt mạnh vào, không sao hết. Có như vậy mới mua được lòng tin của bọn Đệ Tam...


- Nếu ông cho phép như vậy thì còn gì bằng...


- Tôi căm thù bọn Đệ Tam đến tận xương tủy. Chỉ cần diệt hết bọn Đệ Tam là cách mệnh vô sản ở Đông Dương sẽ thành công ngay...


Đinh Nho Hàng hơi đắn đo:


- Nhưng ông cho phép tôi hỏi, nếu dựa vào Nhật thì cách mệnh vô sản thành công thế nào được.


Tạ Thu Thâu cười to:


- Anh ngây thơ quá. Mình chỉ dựa vào Nhật để lật đổ Pháp mà thôi, muốn làm cách mệnh vô sản thì phải lật đổ tư bổn là Pháp chớ. Còn Nhật cũng là một nước ở Đông Á, đâu có phải là phát xít, đó chẳng qua là điều bịa đặt của bọn Đệ Tam để làm cho dân chúng hoang mang, lo lắng mà thôi...


Đinh Nho Hàng hớn hở:


- Ông có giảng giải như vậy tôi mới hiểu ra. Tôi sẽ ráng kiếm bằng được Lê Hồng Phong sớm giờ nào hay giờ ấy.


Tạ Thu Thâu hoan hỉ vỗ vai Đinh Nho Hàng.


(còn tiếp)


Nguồn: Chim gọi nắng. Quyển 16 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







1 Em đồng chí Võ Văn Tần, ủy viên trung ương Đảng.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »