tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413951
Tiểu thuyết
26.07.2012
Hoài Anh
Chim gọi nắng

II- Trong chợ Bến Thành, từng đoàn người lũ lượt chen chúc nhau lách qua những quầy bán đủ thứ mặt hàng từ vải lụa, giày dép, tạp hóa đến trái cây, thực phẩm. Ở một quầy bán giò chả, bà bán hàng gnồi chót vót trên cao sát nóc chợ, từng toán người mua đứng chầu chực, chẳng khác gì xếp hàng chờ lãnh chẩn...


Ở khu hàng rau và trái cây, một chiếc thùng được chuyển đi khắp các quầy hàng. Một chị tiểu thương nói:


- Mời chị em góp tiền giúp anh em thợ Ba Son...


Nhiều bàn tay bỏ tiền vào thùng.


Một phụ nữ áo dài kiểu Lơ-muya màu hột gà lợt ống quần trắng thêu ren, giày cao gót, đang mua trái cây, thấy có cuộc lạc quyên cũng ghé vào, rút ví đầm lấy tiền nhét vào thùng:


- Tôi cũng xin góp một phần tiền nhỏ vào việc nghĩa.


Chị Hai Sóc đứng sau chị tiểu thương, nhận ra người phụ nữ, mỉm cười:


- Chào chị Trinh!


Bà mụ Trinh cũng nhận ra chị Hai Sóc, toan kêu tên chị, nhưng chị kịp nháy mắt ra dấu khuyên giữ bí mật trước chỗ đông người.


Lúc này cô Năm Bắc cũng đi qua trước chợ để quan sát tình hình. Thấy cuộc lạc quyên có kết quả, cô yên tâm, vẫy một chiếc xe kéo, chạy về phía Chợ Lớn.


Vừa tới gần Chợ Lớn, đã nghe thấy những tiếng ồn ào huyên náo vang lên kéo dài không dứt. Những cầu cong cong vắt qua kênh lạch, những tấm biển các cửa tiệm viết vừa bằng chữ Hán vừa bằng chữ la-tinh dài dằng dặc, sơn màu lòe loẹt, những chiếc đèn lồng treo lủng lẳng trước các cửa tiệm bán đủ thứ mặt hàng. Những tiệm nhảy ánh đèn điện xanh đỏ chập chờn, những tiệm ăn tấp nập khách ra vào trước cửa có tấm bảng vẽ một tay đầu bếp béo mập nét mặt tươi cười nháy mắt cho khách chú ý đến đĩa vịt nướng kim linh hay da gà bát bửu nâng trên tay... Trong những căn nhà sâu thăm thẳm, thấp thoáng bóng những người đang gò lưng xoa mạt chược bên cạnh những ả xẩm ưỡn ẹo múa hát. Mùi thuốc phiện từ bên trong tỏa ra ngào ngạt.


Bước xuống xe kéo cô Năm Bắc phải chen chân mới có lối đi. Với bộ đồ xẩm, tóc tết bím, cô lẩn vào giữa dòng người Hoa Kiều đi đông nghịt ngoài đường. Lát sau cô dừng bước trước cửa một tiệm buôn, gõ trước năm tiếng sau ba tiếng theo đúng ám hiệu. Người làm công ra mở cửa dẫn cô đi qua căn nhà ống dài sâu thẳm vào tới gian trong cùng. Anh Lê Hồng Phong mặc âu phục, đeo kính trắng, có vẻ như một giáo sư trung học, đang đọc một tờ báo Pháp nét mặt phong sương hơn hồi còn gặp anh ở Ngã Sáu năm trước. Cô tiến lại chỗ anh, giọng lạc hẳn đi vì quá xúc động:


- Anh! Anh đã về!


Lê Hồng Phong nắm lấy hai cánh tay vợ:


- Minh Khai! Em hơi gầy!


Minh Khai ngả đầu vào ngực chồng:


- Em vẫn bình thường. Thế còn anh, chúng nó đày đọa anh nhiều lắm phải không?


Lê Hồng Phong vuốt tóc vợ:


- Không sao em ạ. Chúng nó đầy đọa bao nhiêu anh cũng chịu đựng được hết, chỉ buồn vì nhớ em thôi...


- Em cũng nhớ anh lắm. Thầy mẹ ở quê nhà có được mạnh khỏe không anh? Còn các em ra sao?


- Các cụ vẫn mạnh khỏe và gửi lời hỏi thăm em. Các em nó cứ thắc mắc vì không được biết mặt chị dâu...


- Thế hả anh? Nhưng anh làm sao mà vô được đây? Đi đường nguy hiểm lắm phải không anh?


Lê Hồng Phong nhìn vợ đầy thông cảm về sự quan tâm lo lắng của chị đối với anh. Giọng anh bình tĩnh và ấm áp:


- Anh em công nhân xe lửa bố trí cho anh làm phụ đốt than ở đầu máy đi suốt vào đây. Dọc đường tụi nó khám xét mấy lần nhưng lần nào anh em cũng giấu được anh vào chỗ kín đáo, tụi nó không phát giác được...


- Nguy hiểm thật. Có lẽ còn gay hơn hồi Lê-nin đi xe lửa từ Phần Lan về Nga có phải không anh?


Lê Hồng Phong cười. Minh Khai nói tiếp:


- Nói đến nước Nga em lại chợt nhớ, anh có được tin gì về đồng chí Nguyễn Ái Quốc không? Em nhớ đồng chí Nguyễn quá!


Minh Khai nhớ lại bữa đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi giữa đường phố Mát-xcơ-va. Hai người ngắm nhìn ánh bình minh giát vàng trên hai mươi nóc tháp ở điện Crem-li và những bức tường răng cưa cổ kính. Khẩu đại bác bằng đồng đỏ đặt trên giá súng bằng gang, cạnh đó để những viên đạn tròn cũ cũng bằng gang. Những đám mây trắng bay trên bầu trời xanh nhạt. Ngôi sao đỏ lấp lánh trên nóc điện Crem-li, như lời kêu gọi con người đi đến một tương lai tươi sáng. Nhìn lá cây xanh rờn lao xao trong làn gió nhẹ, đồng chí Nguyễn Ái Quốc nói với Minh Khai:


- Cô Duy à, cũng may mà cô tới Mạc Tư Khoa vào mùa xuân, chớ nếu vào mùa đông như ngày tôi mới tới đây lần đầu thì rét lắm. Tôi nhớ ngày đó lạnh tới bốn mươi hai độ, đường phố phủ đầy tuyết, gió buốt thổi đến từng cơn. Nhưng cái giá lạnh bên ngoài cũng không thấm vào đâu với cái giá lạnh trong lòng: Lê-nin vừa mất. Trên các đường phố Mạc Tư Khoa đã đốt những đống lửa. Mọi người kéo về phía trụ sở công đoàn thành những chuỗi dài vô tận. Suốt ngày suốt đêm. Họ sưởi bên cạnh những đống lửa một lát rồi lại đi tiếp, hoặc đứng giậm chân tại chỗ để khỏi bị lạnh chân, trong khi hàng người chỉ nhích lên từng bước nhỏ. Vừa mới đặt chân tới khách sạn, mặc dầu chưa đủ áo ấm, tôi vẫn ăn mặc phong phanh dưới trời gió tuyết để đến viếng Lê-nin vì không thể nào nán tới ngày hôm sau được...


Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Minh Khai nối bước theo đoàn người vào thăm lăng Lê-nin, bên cạnh Hồng Trường. Ba mươi sáu cột đá hoa cương đỡ khối đá nóc lăng, trước ngưỡng cửa ra vào có đề hai chữ “Lê-nin” giản dị mà trang nghiêm. Nhìn qua nắp quan tài thủy tinh, Minh Khai xúc động trước di hài Lê-nin với vầng trán cao rộng, khuôn mặt hiền hòa, nước da vẫn hồng hào tưởng chừng như Người chỉ vừa chợp mắt ngủ. Tràn ngập niềm thương tiếc và kính mến vị lãnh tụ anh minh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, Minh Khai thầm nghĩ trước di hài Lê-nin vĩ đại:


- Xin hứa trước Người trọn đời đi theo con đường Người đã vạch ra, sống và chết như một người cộng sản!


Đồng chí Nguyễn Ái Quốc dáng cao cao thanh thanh, đôi mắt ngời sáng, trở thành một ấn tượng mãi mãi ghi sâu trong đầu óc Minh Khai không bao giờ phai mờ đi được...


Nghe Minh Khai nhắc đến đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong cũng thấy lòng dâng lên một niềm xúc động khó tả. Anh nhớ lại lần mới đến Quảng Châu, gặp một người dong dỏng cao, mặc áo dài, tính tình hòa nhã, ôn tồn hỏi anh em đi đường có vất vả không, khiến mọi người cảm động như khi trở về nhà gặp người thân. Mấy hôm sau ông đưa anh em vào lớp huấn luyện, ông có tài nói những vấn đề phức tạp một cách dễ hiểu, giờ giấc lại khít khao, kim đồng hồ chỉ đến giờ đã nghe thấy tiếng giày vải của ông ngoài hiên, đến hết giờ ông cũng vừa giảng trọn bài và điếu thuốc lá cuối cùng vừa hết... Lúc ấy anh chỉ biết tên ông là đồng chí Vương, mãi sau này mới biết đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Ông Nguyễn khuyên mọi người đoàn kết thương yêu nhau. Ai lỗi lầm ông thao thức suốt đêm, tìm lời dịu dàng khuyên nhủ.


Lúc này giọng anh vừa trang nghiêm vừa ấm áp:


- Anh chỉ nhớ lần cuối cùng được gặp đồng chí Nguyễn ở nước Nga, đồng chí Nguyễn khuyên anh phải gắng sức học lái máy bay cho giỏi để sau này về nước huấn luyện cho không quân Việt Nam. Anh còn nhớ lời đồng chí nói: “Xưa Thánh Gióng đánh giặc xong rồi bay lên trời còn sau này chúng ta phải bay lên trời mà đánh giặc. Thánh Gióng bay lên trời rồi mất hút nhưng chúng ta bay lên trời là để tạo thế đứng vững vàng trên mặt đất”.


Minh Khai xúc động:


- Lời đồng chí Nguyễn quả là sâu sắc. Chúng ta bay lên trời là để trở về...


- Cũng như anh đã bay lên trời nhìn suốt cả một dải đất Liên Xô bao la hùng vĩ là để trở về mảnh đất Việt Nam đau thương, nô lệ thức tỉnh đồng bào đứng lên cứu nước...


Minh Khai mỉm cười hỏi chồng:


- Chứ không phải để trở về với em sao?


- Anh trở về với tình yêu em mà tình yêu em nằm trong tình yêu đất nước. Thế nào, trả lời như vậy em đã thỏa mãn chưa?


- Em ngỡ đồng chí đại tá không quân đã lọt vào mắt xanh cô gái Nga nào rồi?


- Anh lái máy bay trên trời nhưng vẫn nhớ em ở dưới mặt đất. Đã bao giờ anh thoát ra khỏi sức hút của trái đất đâu. Anh chẳng hạ cánh xuống phi trường mang tên... Minh Khai là gì?


Hai người cùng cười. Chợt nhớ đến nhiệm vụ. Lê Hồng Phong nói:


- Tình hình thế giới có nhiều chuyển biến lắm em ạ. Hiểm họa phát xít đang đến gần, chính phủ Pháp đang ra sức bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, tăng cường bóc lột nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa, chuẩn bị chiến tranh. Anh vào đây là để bàn bạc với các đồng chí ra một bản tuyên bố kêu gọi các từng lớp nhân dân thống nhất hành động đòi quyền tự do dân chủ, chống nguy cơ chiến tranh, tẩy trừ bọn tờ-rốt-kít...


- Trước mắt ta phải viết ngay một loạt bài báo cho các tờ Lơ-Pơp-bơ-lơ, Dân chúng, Lao động anh à...


- Không những ta viết, mà còn nên vận động các anh em trí thức có cảm tình với Đảng viết nữa.


- Đúng đấy anh à. Thôi em phải về không có vào đây lâu quá, tụi chó nó đánh hơi thấy thì nguy:


- Ừ, em về...


Hai người dung dằng chưa nỡ rời tay. Có tiếng động hai người vội rời nhau ra. Minh Khai. Lê Hồng Phong nhìn theo.


Đọc báo Phụ nữ Tân văn số 39, Minh Khai thấy có bài khuyên chị em phụ nữ không nên làm quốc sự bằng cách vận động chính trị. Vì theo tác giả bài báo, thì “giữ gìn quốc hồn, chăm lo học nghiệp, để cho trong bọn lầu son gác tía, cũng nảy ra hạng học rộng tài cao, mở mặt cho chị em, giúp ích cho xã hội, cũng là quốc sự, biết lo về ruộng nương, gắng công về nghề nghiệp để cho trong nước được giàu thịnh cũng là quốc sự. Những việc của cá nhân mà có ích hoặc gần hoặc xa cho nhân quần xã hội đều là quốc sự cả”.


Trên tuần báo Đọc số 19 lại đăng bài “Đàn bà và con gái nhà Nam” ký tên nữ sĩ Tuyết Dung phê bình phong trào phụ nữ như sau: “Chị em chạy xô cả vào việc thể dục, việc viết sách viết báo, lại còn tổ chức công này việc khác, diễn thuyết vấn đề nọ vấn đề kia, nhẽ tất nhiên chốn buồng the, nơi bếp núc thiếu hẳn tay tề gia nội trợ...”. Đến câu kết tác giả lại viết: “Ôi, người đàn bà con gái nếu giúp đặng ông chồng mọi việc trong gia đình cho ổn, cố trong gia đình lúc nào cũng được hòa thuận, đầy vẻ xuân phong, mỗi khi đức ông chồng làm việc gì hay, lại khéo bề khuyến khích, khéo lời an ủi, làm cho ông chồng mình được vui lòng nức chí, phấn đấu việc đời, há chẳng phải chị em đã cho quốc gia xã hội một người công dân đầy đủ bổn phạn đấy ư?


Đó là chị em đã trọn vẹn bổn phận làm một người hiền phụ rồi. Lại đến khi sinh ra con, chị em thay chồng chăm chỉ dạy dỗ con vào trong khuôn khổ phép giáo dục. Chị em thi hành cái nghĩa vụ tự nhiên nuôi dạy con lớn khôn, mạnh giỏi khiến cho con đều trở thành những bậc đại quốc dân cả”.


Những lời lẽ này không những sặc mùi đạo lý phong kiến mà còn rất giống luận điệu của bọn phát xít. Tờ Le Lutteur Libre([1]) cơ quan của bọn Hít-le đã viết: “Chúng tôi muốn có những người đàn bà đẻ ra các anh hùng Đức, chứ không muốn những đàn bà trơ trẽn, quên mất thiên chức thiêng liêng của họ, chính vì chúng tôi chỉ muốn những người mẹ thôi, nên chúng tôi không muốn cho đàn bà con gái tham dự vào việc sản xuất. Sở dĩ chúng tôi không muốn cho đàn bà có một ghế nào ở nghị trường, là vì chúng tôi muốn cho đàn bà làm trọn cái thiên chức “người mẹ Đức”. Mút-xô-li-ai đã tuyên bố với các nhà báo: “Chúng tôi đặt người đàn bà ở hẳn trong gia đình”.


Nhận thấy tình chất nguy hiểm của những luận điểm nói trên, Minh Khai đã viết bài báo Thảo luận vấn đề phụ nữ với nữ sĩ Tuyết Dung đăng báo Dân chúng số 16, ngày 14 - 9 - 1938. Đoạn kết bài báo viết: “Một dân tộc mà bọn tu mi còn nằm khoanh tay trong xó bếp chưa biết quan tâm tới tiền đồ quốc gia, xã hội, và phụ nữ đang bị giam hãm nơi gia đình, xó bếp, mà nữ sĩ Tuyết Dung lại xướng to lên cái thuyết “phụ nữ hồi gia” đó, thiệt là trái ngược với thế giới trào lưu về trình độ dân tộc tiến hóa, nên chi tôi và chị em Sài thành phải tuyên chiến với nữ sĩ Tuyết Dung, tức là tuyên chiến với học thuyết phản động của phong kiến, của tư bản, của phát xít vậy”.


Nữ sĩ Tuyết Dung thật ra là “nữ sĩ có râu” do nhóm tờ-rốt-kít của Tạ Thu Thâu viết ký tên phụ nữ. Sau khi đọc bài này, Tạ Thu Thâu dẫy lên như đỉa phải vôi. Từ đó Thâu chăm chú đọc những bài trên Dân chúng cơ quan của nhóm Đệ tam, để tìm cách đối phó, xuyên tạc. Đọc dến bài Vấn đề phụ nữ giải phóng, đăng số 35, ngày 7 - 12 - 1938 thấy có đoạn viết: “... Cũng như đàn ông, bạn gái cũng có một trách nhiệm cũng phải mật thiết tham gia phong trào xã hội.


Chen vai thích cánh với bạn trai, chị em phải liên hiệp với họ, cùng tranh đấu trong hàng ngũ của họ để cải tạo cái chế độ xã hội, để tiêu diệt giai cấp, để thủ tiêu áp bức, các mâu thuẫn hiện tại, để kiến thiết cõi đời hoàn toàn bình đẳng, tự do và hạnh phúc.


Không những chỉ giải thoát riêng cho giới mình, bạn gái cũng như bạn trai, phải tranh đấu để giải thoát chung cho cả nhân loại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm căn bản.


Bạn trai, bạn gái hết thảy như nhau, phải cùng liên kết, nỗ lực tranh đấu đạp đổ chế độ tư bản, đạp đổ giai cấp bóc lột, kiến thiết xã hội chủ nghĩa, kiến thiết cơ sở bình đẳng, bình quyền, tự do, hạnh phúc đến hoàn toàn triệt để. Sứ mạng thiêng liêng của phụ nữ trong cuộc vận động giải phóng không phải chỉ ở phương diện biệt giới (phụ nữ), mà quan trọng ở phương diện giai cấp chung của con người.


Chị em phải tham gia dự một cách hăng hái trong các phong trào tranh đấu của quần chúng, phải đứng chung hàng ngũ với anh em bạn trai, chống phản động tấn công, đàn áp, bóc lột của bọn phản động thuộc địa, cướp giựt lại các quyền lợi kinh tế, chính trị...”


Đọc tên ký Nguyễn Thị Kim Anh giống như trong bài thảo luận về các vấn đề phụ nữ, TạThu Thâu đoán chắc là bài báo của Nguyễn Thị Minh Khai, một tay lý luận sừng sỏ của nhóm Đệ tam.


Đến bài Mặt trận Dân chủ với Mặt trận công nông trong vụ tuyển cử Hội đồng quản hạt, đăng số 52, ngày 7 - 3 - 1939, thấy vạch đích danh minh, mặt Thâu tái hẳn đi.


“Trong vụ tuyển cử sắp tới, kẻ có tiền hiếu danh, họ không có mặt trận nào, mà chỉ có đổ tiền ra để lập thành mặt trận rượu thịt, đĩ điếm để cổ động và lôi kéo cử tri. Đó là phương pháp thông thường của họ, ngoài ra còn ai có chương trình ứng cử nào nữa thì chưa rõ, song hẳn rằng sẽ có. Đó là theo lệ thường...


Còn bọn tờ-rốt-kít xứ này thì đã đề ra số duy nhất của mặt trận Công nông, đứng đầu là Tạ Thu Thâu (lãnh tụ tờ-rốt-kít)và anh Nguyễn Văn Tạo, chiến sĩ của phái Đệ tam quốc tế.


Đứng về lập trường liên hợp các đảng phái, thì đề nghị của mấy ông tờ-rốt-kít giống như hợp thời, song xét kỹ thì họ chỉ là một mưu kế gian trá của bọn ấy mà thôi. Nếu quốc dân còn nhớ, thì mấy năm trước, bọn tờ-rốt-kít nhờ sự hợp tác sai lầm của phái Đệ tam ở tờ báo La Lutte([2]) và vụ tuyên cử Hội đồng thành phố mà bọn Thâu, Thạch đắc cử và lan rộng ảnh hưởng. Lần này chúng còn giở ngón cũ để lừa gạt, mong nhờ những vụ “lộn sòng” ấy để đánh lừa quần chúng, mong che đậy hành động và lý luận phá hoại phản động, mong gây thêm thế lực và ảnh hưởng của chúng ở xứ này cho có hiệu quả hơn.


Sự hòa hiệp với bọn tờ-rốt-kít trong thời kỳ đã qua là một sự sai lầm. Song nó cũng là một bước ngoặt phải trải qua để cho những kẻ còn lầm bọn tờ-rốt-kít có tính chất phản đế, cách mạng tả, sẽ do kinh nghiệm mà nhận thấy mặt thiệt của bọn tờ-rốt-kít và sẽ đủ chứng cớ để hiểu, con đường chính sách đúng đắn thành thật của chúng tôi.


Trên trường hoạt động chính trị, nhiều khi mặc dầu một chính đảng đã nhận rõ một vấn đề chính trị nào rồi, mà lúc thực hành còn cần phải lặp lại vấn đề ấy để cho quần chúng từ kinh nghiệm mà nhận rõ. Đối với bọn tờ-rốt-kít ở xứ này, kinh nghiệm đau đớn ấy cũng đủ rồi: như đoạt tờ báo La Lutte, cướp tờ báo Phổ thông([3]) một cách đê hèn, phá cuộc Đông Dương Đại hội bằng cách đăng bài khiêu khích hăm dọa mấy cậu cách mạng tả đầu môi để đuổi những phần tử dụ dư thoát ly Đại hội, kết quả làm lợi cho thế lực phản động, phá các cuộc bãi công, các cuộc mít tinh, v.v...


Bây giờ bọn tờ-rốt-kít ở Tạp chí Tháng Mười([4]) thì hô hào lập sổ tuyển cử duy nhất của Thâu- Tao; còn Tạ Thu Thâu thì tán thành đứng độc lập “tua” đầu, đến “tua” thứ nhì sẽ lập số duy nhất.


Đó lại là kế hoạch của họ. Chúng tôi không cần thí nghiệm nữa và quần chúng cũng thừa hiểu rồi.


Một lần nữa chúng tôi tuyên bố rằng: bọn tờ-rốt-kít ở các nước cũng như ở đây, họ hô hào cách mạng ở đầu miệng mà sự thực hành thì họ đã mật thiết liên lạc với bọn phản động phát xít, ăn tiền phụ cấp để do thám cho chúng v.v...


Chúng tôi đã nhiều lần tuyên bố rằng: trong lúc này, chúng tôi thành thật liên hợp với các đảng phái chính trị vô luận cách mạng hay cải lương, miễn là cách mạng thì phải thành thật cách mạng, cải lương thì phải thật lòng cải cách...


Dưới bài báo ký tên Trí Thành, Thâu mới biết đó là Nguyễn Văn Cừ, tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Thâu căm hận Nguyễn Văn Cừ đã nhìn rõ tim đen của mình, gỡ mặt nạ cách mạng của mình cho quần chúng thấy rõ. Nhưng sau khi biết Nguyễn Văn Cừ đã bị Pháp trục xuất ra Bắc kỳ, Thâu dồn hết nỗi căm hận vào Minh Khai mà hắn cho là bạn chiến đấu thân thiết của Nguyễn Văn Cừ.


Trong cuộc bẩu cử Hội đồng quản hạt tháng 4 năm 1936, những người của Mặt trận Dân chủ Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai bị thất bại, bọn tờ-rốt-kít Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch giành được các ghế Nghị viên. Thâu thừa thắng muốn tấn công tiêu diệt cánh Đệ tam, đối thủ chính trị trực tiếp và lợi hại của Đệ tứ.


Thâu tìm Phan Văn Hùm bàn bạc kế hoạch, nào ngờ gần đây Hùm say mê cái thuyết Trí lương tri của Vương Dương Minh và triết học Phật giáo ngồi nhà viết sách, không muốn dính vào vấn đề đảng tranh nữa.


Vợ Phan Văn Hùm là Mai Huỳnh Hoa, chị lại thuộc nhóm Đệ Tam. Chị là con gái nhà chí sĩ Mai Văn Ngọc, cháu ngoại của nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (con gái Nguyễn Đình Chiểu). Chính vì mối quan hệ họ hàng đó, Hùm đã viết được cuốn sách Nỗi lòng Đồ Chiểu, và chú thích sách Ngư tiều vấn đáp y thuật.


Sau khi đậu bằng Thành chung, Hùm ra Hà Nội theo học ngành công chính. Tốt nghiệp, Hùm trở về Nam Kỳ làm vườn, không ra làm công chức cho Pháp, Năm 1929, lấy cớ Hùm là bạn của Nguyễn An Ninh, thực dân bắt Hùm ở Bến Lức đưa vào tù Khám lớn Sài Gòn, ra tù, Hùm đã viết cuốn sách Ngồi tù Khám lớn.


Khi ở Khám lớn, Hùm gặp chị Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt([5]) bị bắt về vì tội ám sát Nguyễn Văn Phát một đảng viên phản bội ở số nhà 7 Barbier, Tân Định. Địch tung tin đây là một vụ giết người tình vì bị phụ bạc để làm giảm ảnh hưởng chính trị của việc thanh trừng nội bộ. Hùm đã làm một bài thơ tặng Nguyễn Trung Nguyệt:


“Trăng tròn” đâu sợ đám mây mù,


Một bức trình thư giả kẻ ngu.


Chịu tiếng lẳng lơ nhiều khuất phục,


Biết mình trong sạch chẳng tăm tu.


Anh hùng há luận cơn thành bại,


Chí sĩ đành cam kiếp tội tù.


Chỉ tiếc anh thơ công lỡ dở,


Thiếu người ra chấp búa Trình Chu.


Chị Nguyễn Trung Nguyệt đã họa lại:


Lao lung dài chặt khỏi mây mù,


Thất bại đành cam lựa trí ngu.


Cơm lức sơ sài tâm rán luyện,


Áo xanh tơ tải chí công tu.


Sông non ngót đã trăm năm tội,,


Nước lửa đành cam mấy kiếp tù.


Ánh Thái Dương còn, còn ước vọng,


Tre tàn măng mọc dễ gì tru!


Năm 1933, Hùm du học bên Pháp và học ban triết trường đại học Soóc-bon. Về nước, Hùm cùng Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch cộng tác với một số chiến sĩ Đệ Tam như Nguyễn Văn Tạo xuất bản tờ La Lúyttơ.


Trong một cuộc diễn thuyết tranh luận với nhóm Đệ Tam ở Tân Định, Hùm vừa mở miệng đã bị vợ nhảy lên diễn đàn bịt miệng không cho nói. Được vợ khuyên ngăn, Hùm cũng bớt đối đầu với Đệ tam. Năm 1935, Pháp bắt chị Hoa giam vào Khám lớn vì hoạt động cách mạng.


Năm 1939, Hùm lại bị vào tù vì một bài báo đăng trên La Lúyttơ.


Còn lại một mình Thâu vẫn nguyện một mất một còn với cánh Đệ tam. Hắn nảy ra một ý: phải mượn tay Pháp bắt hết cánh Đệ tam để trả thù. Dù có đê hèn, nhưng La cause justifie les moyens([6]) chẳng khác gì ta đưa vào phe Trục để giải phóng dân tộc khỏi tay Pháp vậy!


                                                (còn tiếp)


Nguồn: Chim gọi nắng. Quyển 16 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








([1]) Đấu sĩ tự do.




([2]) Báo La Lúyttơ (Tranh đấu) là cơ quan ngôn luận chung của mấy đảng viên Cộng sản hoạt động công khai với những người theo chủ nghĩa quốc gia và tờ-rốt-kít chủ trương, ra đời này 24-1-1933 đến 2-6-1933 ngừng một thời gian, rồi 4-10-1934 lại ra tiếp đến năm 1939. Từ tháng 6-1937 báo La Lúyttơ bị nhóm tờ-rốt-kít chiếm làm cơ quan chống Đệ tam quốc tế, chống Đảng cộng sản và Mặt trận Dân chủ Đông Dương.


 




([3]) Báo Phổ thông nguyên là của Lê Hoàng chủ trương số 1 ra ngày 16-10-1939. Đảng Cộng sản thuê tờ báo đó của Lê Hoàng chuyển thành báo cách mạng dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, ra số 1 ngày 18-2-1938 đến số 10 ra ngày 3-6-1938. Sau đó Lê Hoàng đòi lại tờ báo và cho nhóm Tờ-rốt-kít thuê; từ đó tờ Phổ thông trở thành báo phản động, chống cách mạng và Đảng cộng sản.




([4]) Tạp chí Tháng Mười là tạp chí của nhóm Tờ-rốt-kít đứng đầu là Hồ Hữu Tường chủ trương, ra tháng 9-1938 đến tháng 1-1939, có 4 số.




([5]) Chị Nguyễn Trung Nguyệt năm 17 tuổi, được tổ chức bố trí giả trai trốn xuống tàu, sang Quảng Châu dự lớp học của đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Sau lớp học, chị và một số đồng chí nam trong lớp được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội.




([6]) Cu cánh bin minh cho phương tin.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »