tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21304877
Tiểu thuyết
16.03.2017
Hoài Anh
Chim gọi nắng



XII.


Trong buồng giấy Thống đốc Nam Kỳ, Hớp-phen đang lồng lộn như một con cọp nổi cơn điên. Trước mặt y, tên chánh mật thám Ác-nu mặt cắt không còn hột máu. Hớp-phen giận dữ:


- Các anh là một lũ ăn hại! Tôi dặn các anh là phải rình rập ngày đêm, bắt hết tất cả những tên sách động nổi loạn vậy mà các anh vẫn cứ để cho vụ khởi loạn nổ ra. Sài Gòn - Chợ Lớn là đầu mối của tổ chức cộng sản ở khắp các tỉnh Nam Kỳ, các anh không biết ngăn chặn ngay từ đầu nên nó mới lan tràn khắp xứ. Để xảy ra vụ khởi loạn trước hết là tội của anh. Anh trả lời sao với tôi về vụ này?


Ác-nu khúm núm:


- Bẩm ngài Thống đốc xét lại cho, chúng tôi đã giăng lưới dày đặc khắp nơi nên mới bắt được Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần là kẻ chủ mưu vụ khởi loạn. Tưởng như vậy là đã dập tắt được làn sóng chống đối, ai dè...


Hớp-phen nhíu mày:


- À, tôi nghe nói Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong phải không?


- Thưa ngài, đúng như vậy ạ.


- Lần trước bắt được Lê Hồng Phong, tôi biết anh ta là ủy viên dự khuyết của Quốc Tế Cộng Sản ở bên cạnh Đảng Cộng Sản Đông Dương nhưng không có đủ bằng cớ để kết án tử hình anh ta, vì theo luật xứ thuộc địa Nam Kỳ, chỉ có âm mưu nổi loạn chống nhà nước mới có thể xứ án chém. Tôi đã giao cho nhiều luật gia nghiên cứu hồ sơ, vẫn chưa kiếm được điều luật nào có thể áp dụng được trong trường hợp này. Mà nếu để anh ta sống thì đó là một mối nguy hiểm cho nhà đương cục Pháp ở đây. Nay đã bắt được Nguyễn Thị Minh Khai, anh có cách gì dụ dỗ thị khai ra Lê Hồng Phong là người xúi giục thị chủ trương nổi loạn được không?


Ác-nu lắc đầu chán nản:


- Bẩm, chúng tôi đã dùng đủ cực hình từ kiểu Trung cổ đến kiểu tối tân nhứt, khiến thị bao lần chết đi sống lại vậy mà thị vẫn không chịu khai tên một người dân bình thường chớ đừng nói là lại khai ra một người vừa là chồng vừa là thượng cấp. Tôi thấy việc dụ thị khai ra Lê Hồng Phong còn khó hơn đưa được một con lạc đà chui qua một lỗ kim...


Hớp-phen cười:


- Ấy thế mà vẫn có những cái bề ngoài tưởng khó khăn nhưng nếu biết cách thì lại rất dễ dàng. Ai cũng biết rằng những dây thần kinh của con người là nhạy bén nhất, nếu chạm đúng đầu dây thì cả toàn thân sẽ rung chuyển theo. Khi ta tra điện tức là làm dây thần kinh tê liệt đi, rồi không còn cảm giác nữa như vậy không mấy tác dụng. Phải để dây thần kinh hoạt động bình thường như vậy mới lợi hại hơn...


- Ngài nói như thế là thế nào?


- Tôi thấy ta nên đem tra tấn Lê Hồng Phong khiến cho thân thể bầm dập sau đó cho nó gặp Minh Khai. Khi nhìn thấy chồng trong trạng thái như vậy tất nhiên Minh Khai không cầm lòng được phải buột ra tiếng gọi chồng, như vậy ta có đủ bằng chứng hai người là vợ chồng rồi. Dầu chỉ một thoáng run nhẹ ở đầu mày hay một cái chớp nhanh trong khóe mắt cũng đủ tố cáo sự xúc động của Minh Khai trước mặt chồng. Từ phút mềm lòng đầu tiên ta sẽ tiếp tục thẩm vấn, tất Minh Khai không thể nào cứng cỏi mãi được. Trái tim con người có lúc rất rắn, nhưng cũng có lúc rất mềm, đó là cái tội tổ tông truyền của loài người, thứ sinh vật yếu đuối này. Anh hiểu chứ?


- Bẩm, quan Thống đốc quả là khôn ngoan và sâu sắc...


- Đó chẳng qua là do tôi đọc sách của Fơ-rớt nên mới chú ý đến hoạt động tinh thần vô thức của con người. Ta làm như vậy tức là đã bắt chợt cái vô thức, tiềm thức của Lê Hồng Phong và Minh Khai, cái tồn tại trong bản năng tăm tối của con người mà trong lúc đột ngột chưa kịp dùng lý trí để kiểm soát và chế ngự. Đối với tôi phát minh này còn quan trọng gấp mấy những ngón đòn tra tấn tối tân của các anh...


- Bẩm, ngài am tường cả khoa sinh lý lẫn tâm lý...


- Thời buổi kỹ thuật hiện đại mà, anh! Có lẽ cả thế giới chưa thể ngờ được là nhà bác học Sít-mun Fơ-rớt đáng kính lại trở thành cộng sự viên đắc lực của Sở mật thám!


Hai tên cùng cười.


Hôm sau, trong buồng giấy của Ác-nu, chánh sở mật thám Đông Dương. Trên cùng, treo bức ảnh Pê-tanh, dưới là dòng tiêu ngữ “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc”. Phía dưới, treo hai cây đại đao mà đao phủ thời Đàng Cựu dùng để chém đầu người ở pháp trường gần Chợ Cũ. Ác-nu ngồi đối diện với Minh Khai. Y trầm trồ:


- Chị Minh Khai, nói thiệt với chị, tôi làm cái nghề này đã mấy chục năm chưa thấy một người phụ nữ nào gan góc như chị. Nếu chị ở nước chúng tôi thì có lẽ tôi đã phải sùng bái chị chẳng khác gì Gian Đa ngày trước, nhưng vì chị ở xứ này nên chúng tôi buộc lòng phải xúc phạm đến chị...


Minh Khai giọng mỉa mai:


- Cũng vì các ông hiện giờ không còn sùng bái Gian Đa nữa cho nên bọn Pê-tanh, La-van mới có thể bán nước Pháp chó phát xít Đức chẳng khác gì những kẻ trước đây đã bán Gian Đa cho quân Anh.


- Chị có vẻ thông thạo lịch sử Pháp lắm nhỉ?


- Thì chính các ông vẫn dạy tổ tiên chúng tôi là người Gô-loa kia mà.- Minh Khai giọng đầy châm biếm.


Ác-nu sượng mặt, chống chế:


- Chị Minh Khai à, chị chống nước Pháp nhưng theo nước Nga thì cũng vậy thôi, cùng là nước ngoài cả.


- Chúng tôi không “theo nước Nga” theo cách hiểu thực dân đế quốc của ông mà theo tư tưởng Mác - Lê-nin. Mà Mác lại là người Đức, trong khi sáng tạo học thuyết thiên tài của mình đã tiếp thu mặt tích cực trong học thuyết của Xanh Xi-mông, Phua-ri-ê là người Pháp. Tư tưởng tiến bộ là của chung nhân loại chỉ có những kẻ chống lại nhân loại mới có thể bán mình cho bọn phát xít diệt chủng...


Ác-nu cười gằn:


- Tôi quên là mình đang nói chuyện với một sinh viên xuất sắc trường Đại học Đông phương. Xin lỗi nha! Nếu Clê-ô-pát-trơ xưa đã làm xiêu lòng Xê-da thì tài hùng biện của chị cũng làm cho tôi phải kính nể...


Giữa lúc đó, chúng cho giải anh Lê Hồng Phong ra, thân hình tiều tụy đầy vết đòn tím bầm và vết máu còn ri rỉ chảy, áo quần rách mướp, đôi chân khẳng khiu, xiềng xích nặng nề. Đoán biết âm mưu của kẻ thù, chị thản nhiên nhìn anh rồi lại nhìn đi nơi khác. Tên Ác-nu hỏi:


- Chị có biết người này không?


Minh Khai nhìn anh. Từ hôm gặp nhau ở Bà Điểm mới cách có mấy tháng mà anh gầy đi nhiều, nước da vốn hồng hào nay đã xám xanh, đôi gò má cao hóp lại. Biết kẻ thù đang rình rập từng chút sơ hở của mình, chị bình tĩnh nhìn vầng trán rộng, gương mặt hiền hậu đầy nghị lực của anh rồi dõng dạc trả lời:


- Tôi không biết người này!


Ác-nu lại quay sang Lê Hồng Phong:


- Thế anh có biết người này không?


Lê Hồng Phong cũng thản nhiên:


- Tôi không biết!


Nhìn đôi mắt hai người vẫn trong veo không một chút bóng mờ, mắt Ác-nu đảo lia đảo lịa tưởng lòi cả lòng trắng ra. Y gào lên:


- Ùa! Vợ chồng sao lại không nhận nhau? Người ta bảo cộng sản vô gia đình đúng lắm!


Minh Khai nghiêm nghị:


- Không phải thì nhận làm sao được? Đâu có như các ông nhận ẩu đất nước người làm của riêng mình!


Ác-nu quay sang Lê Hồng Phong:


- Chị ấy đã lòng dạ gỗ đá không chịu nhận anh chẳng lẽ anh cũng lại nỡ ngoảnh mặt làm ngơ trước người vợ của anh sao?


Lê Hồng Phong vẫn giữ dáng điệu thanh thản như từ lúc đầu. Anh nhớ lại một cảnh anh nhìn thấy hồi còn nhỏ. Một người làm nghề bẫy chim dùng con chim mái trong lồng làm mồi. Chim mái cất tiếng hót réo rắt, chim trống mê mẩn sà xuống quanh quẩn bên cạnh lồng rồi cầm lòng không đậu chui vào lồng thế là bẫy sập. Anh nhìn Ác-nu với vẻ khinh bỉ:


- Tôi không biết người này là ai chỉ biết đó cũng là người trong đại gia đình Việt Nam chung cảnh mất nước, tan nhà. Các ông chia rẽ gia đình của người khác, xâm lược tổ quốc của người khác thử hỏi có xứng đáng với cái chiêu bài “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc” mà các ông nêu ra hay không?


Ác-nu khịt mũi lia lịa bất giác nhìn lên dòng tiêu ngữ treo cạnh ảnh Pê-tanh trên tường mặt xám ngoét dần như của một xác chết.


Trên đường đi tới phòng hỏi cung. Minh Khai gặp ông Già Trầu ở hành lang. Chị thốt kêu:


- Anh Hai!


Người lính gác đã được Minh Khai cảm hóa nói nhỏ với chị:


- Chị cứ nói chuyện với ổng đi, tôi canh chừng cho.


Minh Khai gật đầu lại gần ông Già Trầu. Ông ghé tai Minh Khai:


- Tôi bị giam chung một khám với anh Phan Đăng Lưu. Anh cho biết anh mang lệnh của Trung ương vào hoãn cuộc khởi nghĩa nhưng vừa vô tới Sài Gòn thì bị bắt liền nên chưa kịp truyền đạt. Đồng chí ráng kiếm cách thông báo với bên ngoài chuyển hướng hoạt động cho phù hợp với tình hình mới.


Minh Khai gật đầu. Chị hỏi ông Già Trầu:


- Anh có biết tin gì về cô Mười ở Mỹ Tho không?


- Tôi được cơ sở báo cáo cho biết: chồng cô Mười là anh Năm Giác đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa. Cô vừa sanh con xong đã phải gởi về cho ông bà nội nó nuôi, nhưng địch theo dõi ngặt lắm nên nội nó không dám nuôi trong nhà. Đem cho bà Phước, bà Phước cũng không nhận vì đứa nhỏ không có giấy khai sanh. Mãi sau mới có một quần chúng tốt ở Long Định nhận mang thằng nhỏ về nuôi, để cho má nó yên tâm đi hoạt động...


Minh Khai thầm nghĩ cảnh Ngọc Tốt cũng giống hệt như cảnh mình, chỉ mừng là Ngọc Tốt chưa sa vào tay giặc, còn có thể làm được nhiều việc cho cách mệnh. Chợt nhớ đến ông Già Trầu cũng phải xa con, chị hỏi ông:


- Anh có được tin gì của các cháu không?


- Tôi được tin các cháu Siêng, Voi đều tham gia đoàn quân khởi nghĩa. Chúng biết đi theo con đường của cha như vậy tôi có hy sinh cũng thỏa lòng rồi. Còn cô có tin về bé Hồng Minh không?


Minh Khai khẽ lắc đầu buồn bã. Nghe tiếng giày đinh lộp cộp, người lính gác vội ra dấu cho Minh Khai đi. Chị gật đầu chào ông Già Trầu rồi đi theo người lính gác.


Buổi chiều về tới xà lim, Minh Khai cứ băn khoăn suy tính mãi. Liệu có thể nhờ người lính gác này đưa tin ra ngoài được không? Nếu để lộ chuyện thì hết sức huy hiểm. Buổi chiều ở xà lim. Thấy đứa nhỏ con một chị bạn tù đang ngủ chợt thức dậy, Minh Khai lấy bàn tay vỗ vỗ vào lưng nó ru nó ngủ lại. Người lính gác từ ngoài vào được chứng kiến cảnh ấy rơm rớm nước mắt vì xúc động. Anh ta hỏi Minh Khai:


- Chắc chị nhớ con chị lắm phải không?


Minh Khai gật đầu. Người lính gác lại nói:


- Mấy lần nghe chị nói chuyện tôi rất hiểu chị, cũng hiểu được là bao nhiêu cảnh khổ trên đời đều do dân mình mất nước mà nên. Tôi rất kính phục những người làm quốc sự như các anh các chị nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên không thể theo đòi được các anh các chị. Nhưng nếu các anh các chị cần việc gì mà sức tôi có thể giúp được tôi không dám quản ngại...


Minh Khai ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:


- Tôi biết cũng chỉ vì đồng lương nuôi vợ con mà các anh phải gắn chặt đời mình vào cái nghề này. Đã vậy mà bọn chỉ huy chúng còn đánh chửi và bạc đãi các anh, rủi có chiến tranh thì chúng lại đẩy các anh đi làm bia đỡ đạn chết thay cho chúng. Nếu anh muốn làm một việc gì giúp ích được cho dân cho nước thì tôi rất hoan nghênh. Tôi muốn nhờ anh một việc này nếu lát nữa có chị cao lớn vẫn mang đồ gởi vào cho tôi tới cửa khám thì anh chuyển giùm mảnh giấy này cho chị có được không?


Người lính gác đỡ lấy mảnh giấy gấp nhỏ lại nhét vào trong người, nói bằng một giọng chắc chắn:


- Chị cứ tin ở tôi.


Nhìn theo người lính gác dần khuất, Minh Khai khẽ mỉm cười.


Chập tối trong khám phụ nữ. Nghe tiếng kẻng lạnh lẽo cất lên và thấy đèn sáng ngoài hiên, biết bọn cai đội mắc đi điểm tù ở khắp các phòng, Minh Khai bắt đầu huấn luyện chính trị cho chị em. Giọng chị vừa rành rọt, vừa ấm áp:


- Bữa nay, tôi đọc cho các chị nghe một đoạn trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do Mác và Ăng-ghen thảo ra: “Lịch sử hết thảy mọi xã hội cho tới ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, trùm phường và thợ bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những kẻ bị áp bức, luôn luôn đối lập nhau, đã tiến hành một cuộc chiến tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc chiến tranh bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mệnh toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giai cấp đấu tranh với nhau... Những người cộng sản không thèm giấu giếm những ý kiến và dự định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng, mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ tất cả các trật tự xã hội từ xưa truyền lại. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ khi nghĩ đến một cuộc cách mệnh cộng sản. Trong cuộc cách mệnh ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Trong cuộc cách mệnh ấy, họ giành được cả một thế giới về mình...”.


Những cặp mắt dại đờ bỗng sáng long lanh khi nghe từng lời của Minh Khai. Chưa dứt lời đã có tiếng tấm tắc khen:


- Hay thiệt! Mình vô tù bị xiềng xích nhưng có ra tù vẫn không thoát khỏi cảnh xiềng xích. Mình đấu tranh rủi có chết cũng chỉ mất có xiềng xích thôi mà được thì đúng là được cả thế giới! Câu văn thâm thúy quá!


- Giờ tôi mới hiểu ra giữa địa chủ và nông dân có mối thù truyền kiếp, mình càng chịu lép nó càng đè nén, được đằng chân lân đằng đầu. Nhà tôi làm thuê được mấy thửa ruộng, địa chủ vét hết lúa. Tức nước vỡ bờ chỉ còn một cách vùng lên thôi!


Có tiếng động. Mọi người ngừng học, tiếp tục may vá quần áo. Cửa khám mở. Tên Gác-điêng đẩy chị Ba vào, đầu tóc rũ rượi, người đầy vết máu. Chị em xúm lại săn sóc, lau vết máu, xoa nắn chỗ đau cho chị. Bỗng Minh Khai nhận ra:


- Ua! Chị Ba! Chị cũng bị bắt vô đây hay sao?


Chị Ba từ từ mở mắt:


- Trời! Cô Năm Bắc!


Thấy hai người quen nhau, chị em tản đi để cho hai người tự nhiên trò chuyện. Chị Ba giọng hổn hển, đứt quãng:


- Đêm đó, đội du kích xã lên đánh dinh quận Hóc Môn sắp lấy được đồn thì hai cánh quân của giặc từ Thủ Dầu Một và Bà Chiểu kéo đến ứng cứu. Anh em bàn nhau rút lên Truông Mít lập chiến khu chống giặc. Tôi rút sau cùng nên bị chúng đuổi kịp, bắt mang về đây, cô à...


Nhìn thấy lỗ thủng trên lòng bàn tay chị Ba, thịt đã xám đen lại nhưng vẫn rỉ máu, Minh Khai kêu lên:


- Sao thế này, chị?


Chị Ba trầm giọng:


- Khi tôi bị giải về bót Bà Điểm, thằng cò Bê-tai lấy dây thép xâu tay tôi dằng với những người bị bắt khác cô à.


- Chị thiệt là dũng cảm. Còn anh Ba, Nam và Sáu hiện giờ ra sao?


- Cả mấy người đều đi cùng với đội du kích lên Truông Mít. Từ bữa đó tới nay tôi cũng chưa hay tin tức...


- Đồng chí và bà con bao nhiêu người liều mình đánh giặc vậy mà tôi không được sát cánh với mọi người! Tiếc quá!


Thì cô ở trong này không phải chiến đấu với tụi nó sao. Tôi hỏi thiệt nha, khi bị nó tra tấn có lúc nào cô thấy sợ không?


Minh Khai hơi mỉm cười:


- Rắn thì em sợ thiệt còn thằng Tây thì em không sợ chị a. Lâu nay chị có được tin gì về má Tư và bé Hồng Minh không?


- Không... À... có... có... Mới gần đây má Tư có nhắn tin lên cháu vẫn mạnh...


- Chị lại nói để cho em yên tâm chứ gì!


Chị Ba lúng túng. Minh Khai an ủi:


- Chị cứ tin ở em. Đến nỗi đau đớn vì phải xa chồng, xa con mà em còn chịu đựng được thì không nỗi đau đớn nào có thể đánh gục được em. Trong cuộc chiến đấu này không phải chỉ cần đứng vững bằng đầu gối mình mà phải đứng vững trên đầu mỗi dây thần kinh của mình, chị ạ...


Chị Ba ngước nhìn Minh Khai, đầy vẻ yêu thương, kính phục.


Người lính gác bữa trước lại vào nói với Minh Khai:


- Thằng cò Tây nó sắp tới kiểm tra khám này đó, mời các bà lại giả bộ như vẫn đang mang còng giùm tôi chút nghen!


Chị em tù lại ngồi vào chỗ cũ, tréo tay ra đằng sau dựa lưng sát tường. Tên cò Ba-danh cùng bọn lính kín đi qua, ngỡ mọi người vẫn đang mang còng, hắn gục gặc cái đầu tỏ vẻ thỏa mãn rồi lại lộp cộp bước qua. Người lính gác thở phào nhẹ nhõm.


Hôm sau, trong khi bọn lính đưa Minh Khai sang tòa án xử, chị em tù ngồi nói chuyện với chị Ba, một chị nói:


- Thiệt trên đời tôi chưa thấy người nào gan góc như chị Năm Bắc. Bị gí điện vào chỗ hiểm, lấy kim đâm mười đầu ngón tay, rồi nào lôn mề gà, nào đi tàu bay, giã gạo chày ba... vậy mà chị vẫn không hề khai một tiếng...


- Từ ngày chị bày vẽ cho bọn tôi cách thức đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù, tụi tôi cũng dễ thở hơn trước. Trước đây một tuần lễ thì sáu ngày cơm gạo lứt mục, chỉ có một ngày chúa nhựt được hai miếng thịt bò già bằng hai đốt ngón tay mỏng như tờ giấy, cơm thì đổ vô thùng như thùng cho vịt tàu ăn. Vậy mà bây giờ một thùng cơm được nửa ca nước mắm mười khúc cá khô. Một tháng được một tờ giấy viết thư lại được nhận đồ từ ngoài gởi vào...


Chị còn cảm hóa được cả bọn lính gác nữa, bọn họ mang đồ từ ngoài gởi vào cho chị, chị chia đều tất “xan”. Hình như bọn họ còn mang cả sách báo và tin tức từ ngoài vào cho chị nữa.


Chị Ba bật kêu lên:


- Hèn chi mà tin tức khởi nghĩa ở bên ngoài tôi chưa cần nói mà chị đã biết hết. Chưa biết chừng chị còn rành hơn tôi nữa đó.


- Biết đâu chị chẳng từ trong chỉ đạo ra bên ngoài...


Mọi người lặng đi trong niềm thương yêu và kính phục sâu sắc. Bỗng một giọng run run cất lên:


- Không biết lần này chúng khép cho chị cái án gì?


Chị Ba nói:


- Chưa chắc nó đã dám xử nặng chị đâu...


Một chị khác:


- Biết đâu đấy. Tụi Pháp hiểm độc khôn lường. Tụi nó quỳ gối trước phát xít Nhật nhưng lại âm mưu diệt hết những người cộng sản.


- Thì chị Năm chẳng có lần cắt nghĩa cho tụi mình: bọn Nhật bất quá chỉ cướp giựt trên tay bọn Pháp thôi còn những người cách mệnh mới là những người đào mồ chôn cả thực dân Pháp lẫn phát xít Nhật.


- Cũng vì vậy mà bọn Nhật nó làm ngơ cho Pháp khủng bố cộng sản không những thế chúng còn tiếp tay cho Pháp làm chuyện đó nữa...


Chị Ba cười:


- Các chị chánh trị cao ghê! Tôi được gần cô Năm từ trước mà tới giờ đâm ra thụt lùi rồi, nghe chuyện chánh trị cứ ù càng cạc như vịt nghe sấm! Thời cuộc biến chuyển mau lẹ thiệt không có cô Năm ở bên cạnh chỉ dẫn cho thì không biết đâu mà lần. Vô đây lại được gần cô Năm học tập thêm trong cái rủi lại có cái may...


- Chị Năm vẫn nhắc nhở chúng tôi phải ráng học tập văn hóa, chánh trị, trau dồi đạo đức để khi ra khỏi tù còn hoạt động. Nói thiệt với chị Ba, khi vô tù tôi là một thường phạm không biết chữ vậy mà giờ đây đã đọc được nhựt trình am tường chuyện năm châu bốn biển rồi đó.


- Tôi nhớ nhứt câu chuyện mà chị Năm nòila được nghe chính bà vợ của Lê-nin kể cho nghe khi chị gặp bà trong Đại hội Quốc Tế Cộng Sản. Bà nói trước khi Lê-nin mất, bà còn đọc Người nghe câu chuyện: “Tình yêu cuộc sống”. Một người đang chết đói băng qua sa mạc tuyết. Người đó bị yếu đến nỗi không thể đi được mà phải bò trên tuyết. Bên cạnh đó có một con chó sói cũng bò lê, nó bị ốm và cũng sắp chết. Giữa con chó sói và con người bắt đầu có cuộc đấu tranh. Ai sẽ thắng? Chẳng lẽ chó sói ư? Không. Con người đã thắng. Tình yêu cuộc sống khát khao đã tiếp thêm sức cho con người. Con người có mục đích - chiếc tàu biển đã hiện ra ở cuối sa mạc cạnh bờ biển. Ở đó là cuộc sống. Và con người đã cố bò tới đó...


Mọi người xúc động, những cặp môi nứt nẻ vết máu, lẩm nhẩm:


- Con người đã thắng!


Một cháu gái nhỏ chạy vào hỏi mẹ:


- Cô Năm chưa về a má?


Người mẹ nói:


- Cô Năm đi chút rồi cô về. Con cứ ngủ trước đi.


- Không. Con đợi cô Năm về con mới ngủ cơ...


Người mẹ quay lại nói với chị em:


- Con nhỏ này mến chị Năm lắm, đêm nào cũng phải có chị Năm vỗ vô lưng nó ru nó mới chịu ngủ...


Bỗng cửa khám mở. Người lính gác xuất hiện. Một chị hỏi:


- Chị Năm chưa về hả ông?


Người lính gác đứng lặng một hồi mới nói được:


- Tôi về... chuyển đồ của chị sang bên xà lim án chém.


Đứa nhỏ bỗng khóc ré lên:


- Cô Năm không về a má! Con không chịu đâu! Không chịu đâu.


Cả khám bỗng vang lên những tiếng khóc sụt sịt. Người lính gác đứng nhìn lấy tay áo thấm nước mắt.


Nghe tin Minh Khai bị bắt, cả gia đình chị lo lắng cử Quang Thái, em chị vào thăm chị và mượn thầy kiện cãi cho chị. Mẹ chị đưa cho Thái một ít tiền lo việc chạy thầy kiện.


Quang Thái vào Sài Gòn việc đầu tiên cô vào thăm cơ sở liên lạc của Đảng đặt tại đường Lagrandière([1]) do chị Lê Thị Huệ trông nom. Cô đã đến tận nơi và góp ý với chị Huệ:


- Cơ sở của mình ở đây không được, bên ngoài là hiệu giặt là, có nhiều người đến giao dịch rất không tiện, sẽ lộ bí mật, hai nữa lại không có cửa sau để thoát khi có động, chị nên tìm nơi khác chuyển đi.


Chị Huệ tiếp thu ngay và đã tìm một nơi kín đáo hơn. Sau đó Quang Thái tìm đến nhà bạn thân là chị Liễu. Cô nói với bạn:


- Tao vào thăm chị Minh Khai. Mày sửa soạn cho tao giống người Sài Gòn để còn đi nơi này nơi kia.


Chị Liễu vui vẻ:


- Được, để đó tao làm cho.


Quang Thái ngồi xuống ghế. Chị Liễu đã rẽ ngôi cho bạn, chải đầu cho bạn thật khéo và búi tóc kiểu Sài Gòn cho bạn. Chị đưa cho Thái chiếc áo màu hoàng yến cho bạn mặc, đoạn chị ngắm nghía bạn và nói:


- Được, bây giờ mày giống hệt người Sài Gòn rồi đó.


Trở về, Thái nhờ chị Huệ mua cho một “cần xé” trái cây, thuốc lá Bastos mang vào cho chị Minh Khai. Quang Thái vượt sáu lần cửa của khám lớn Sài Gòn với tư thế đàng hoàng trong chiếc áo dài màu hoàng yến, cách chải tóc, che ô hệt như một phụ nữ Sài Gòn.


Bữa đó, gần như cả khám đổ ra xem mặt Quang Thái, người em gái của Minh Khai, cô gái rất xinh, nước da trắng trẻo, đôi mắt mở to trong sáng. Lúc cửa khám mở ra, hai chị em ôm chầm lấy nhau, hai khuôn mặt áp vào nhau nghẹn ngào, sung sướng.


(còn tiếp)


Nguồn: Chim gọi nắng. Quyển 16 trong bộ Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







([1]) Nay là đường Nguyễn Huệ.




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »