tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20029582
18.07.2012
Tư liệu
Nhà Kim, bộ tộc Nữ Chân (tiếp và hết)

Giáo dục khoa cử


Người Nữ Chân đã nhanh chóng nhận ra và sớm công nhận tầm quan trọng của hệ thống thi cử và giáo dục của Trung quốc trong việc tuyển lựa người vào bộ máy chính quyền. Hệ thống các trường Quốc tử giám (thành lập năm 1151) và Thái học (thành lập năm 1166) được tiếp quản từ người Khiết đan, Khổng Tử được đề cao là Thánh học, và văn học nghệ thuật Hán, triết học, tóan học, được cả dân chúng và quan lại tiếp thu. Kim Hy tông đích thân đến lễ miếu Khổng Tử và đọc rất nhiều sách của Nho gia như Luận ngữ, Thượng thư.


Năm 1123 bắt đầu mở khoa thi để chiêu nạp văn nhân Hán tộc chia ra 2 kỳ thi là từ phú và kinh nghĩa, người nào đậu thì gọi là từ phú tiến sĩ và kinh phú tiến sĩ. Các thí sinh được sát hạch ở cấp quận (hương thi), hạt (phủ thi) và cấp tỉnh (hội thi) và cấp cao nhất (đình thi). Các cuộc khảo thi đều được cấp chứng chỉ, và khác với triều đại của Liêu, nhà Kim cho phép người Nữ Chân tham dự vào hệ thống kiểm tra. Người tài được lựa chọn từ tầng lớp dưới và tráng niên, không dùng người thân. Tại các trường công (thái học) có tới 400 người theo học.


Hoàn Nhan Lượng mở rộng chế độ thi cử sang đến thời Kim Thế tông giáo dục càng được coi trọng. Tại kinh đô thành lập Nữ Chân Viên tử học, năm 1176 hệ thống các trường cấp lộ được thiết lập gọi là Nữ Chân phủ học, và năm 1189 hệ thống này được thiết lập tại cấp quận. Kim Hy tông đề cao và bảo vệ nền văn hóa Nữ Chân nên thiết lập khoa Nữ Chân tiến sĩ, dùng Nữ Chân văn làm bài thi sách luận, gọi là sách luận tiến sĩ, thí sinh dự thi phải là con em của Nữ Chân. Kim Thế tông cho giảng dạy các môn học này bằng tiếng Nữ Chân năm 1164, tiếng Hán được phiên âm sang tiếng Nữ Chân để người Nữ Chân có thể học tập. Từ Kim Thế tông trở đi các khoa cử đều dùng Nữ Chân văn, người Hán muốn gia nhập vào giới sĩ phu cũng phải theo con đường đó. Trong thời Kim có tới 16000 người đỗ tiến sĩ. Triều đình bắt buộc mọi người đều phải tham gia học tập, nhất là những người trong bộ máy hành chính. Sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người Nữ Chân và Hán càng thêm sâu sắc. Thêm nữa, nghiên cứu khoa học rất quan trọng nhất là trong y học. Nữ Chân có các thầy thuốc nổi tiếng như Lưu Hoàn Tố và Trương Nguyên Tố.


Trung kỳ


Hoàn Nhan Lượng


Năm 1149, Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng làm đảo chính, giết Kim Hi Tông, lên ngôi vua, giảm thế lực của hoàng gia, thanh trừng 155 quý tộc Nữ Chân trong đó có 70 người là con cháu của Kim Thái Tông, Kim Hi Tông. Tào vương Hoàn Nhan Tông Mẫn, Hữu thừa tướng Hoàn Nhan Bỉnh Đức và người cháu là Hoàn Nhan Tôn Hàn cũng bị giết, 30 người con của Hoàn Nhan Tôn Hàn cũng bị liên đới.


Hoàn Nhan Lượng bổ nhiệm những người không có gốc gác Nữ Chân vào các chức vụ trong triều. Đồng thời thành lập cải cách quan chế, bãi bỏ các cơ quan hành chính cũ, giữ lại Thượng thư tỉnh là cơ quan giúp việc hành chính, đổi cơ quan quân sự cao nhất là Đô nguyên soái phủ thành Khu mật viện giúp việc quân sự, tăng cường quyền lực nhà nước trung ương tập quyền.


 


Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng hạ lệnh phá hủy hoàn toàn nhà cửa, vườn tược của cung điện cũ và các nhà quý tộc ở Hội Ninh phủ, san phẳng làm ruộng cày, quyết tâm dời đô đến Yên Kinh, đóng góp vai trò tích cực nhất định trong sự phát triển của lịch sử xã hội vương triều Kim, lăng mộ các vua Kim cũng dời về Yên Kinh, đưa Khai Phong lên thành Nam Kinh. Trung tâm kinh tế của đế quốc Kim được chuyển đến phía bắc, và các tộc người phi Hán (Nữ Chân, Khiết Đan, Bột Hải) nhanh chóng hòa đồng, áp dụng ngôn ngữ và phong tục của người Hán.


Kim Thế Tông


Năm 1161, trong lúc quân Kim nam chinh, một cánh quân do tướng Hoàn Nhan Phúc Thọ chỉ huy, bao gồm gần 1 vạn người đã phản biến chạy về Đông Kinh Liêu Dương, giết quan Đông kinh phó lưu thủ là Cao Tồn Phúc và lập Đông kinh lưu thủ Hoàn Nhan Ung, (con của Hoàn Nhan Tông Nghiêu, cháu nội Kim Thái Tổ, nguyên là Thượng thư Bộ binh đời Kim Hi Tông), lên ngôi tức là Kim Thế Tông với niên hiệu Đại Định, bắt đầu thời kỳ thịnh trị của nhà Kim. Kim Thế Tông được sử sách ca ngợi là Tiểu Nghiêu Thuấn.


Kim Thế Tông phái Hữu phó Nguyên soái Hoàn Nhan Mưu Diễm đem quân đi trấn áp cuộc khởi nghĩa do Yilan Wowo lãnh đạo, những người theo hàng được hưởng chính sách khoan hồng, sau đó người Bột Hải, Khiết Đan, Hán được tham gia bộ máy triều chính. Sau khi quân Kim chiếm được đất Hoài Nam, nước Kim cùng Nam Tống bang giao hòa hiếu.


Trong thời gian trị vì gần 30 năm của Kim Thế Tông, sản lượng nông nghiệp thặng dư, thi hành các chính sách tiến bộ, khuyến khích các họat động văn hóa nghệ thuật của người Nữ Chân, sưu tầm các bài hát, thơ ca, vũ đạo của người Nữ Chân. Hoạt động này còn được tiếp tục trong thời Kim Chương Tông.


Mâu thuẫn giai cấp


Trong thời gian Kim Thế Tông trị vì, nhà Kim biên chế dân theo mưu khơ và mừng an. Để giám sát và đàn áp người Hán, người Nữ Chân cho các mưu khơ đến ở các đồn điền và lấy ruộng của người Hán chia cho họ. Người Nữ Chân không phải lao động mà bắt người Hán cày cấy, có nơi người Hán phải thuê lại ruộng và nộp tô trước 2, 3 năm. Người Nữ Chân cho rào ruộng của dân để làm nơi chăn thả và săn bắn làm cho nhiều ruộng đất bị bỏ hoang. Người Nữ Chân còn cưỡng bức người Hán làm nô tỳ, tại các hộ mưu khơ, mừng an đều có 1 hoặc 2 nô tỳ, nhà quý tộc có trên 100 nô lệ. Người Hán bị bắt đi lính phải tự lo lương thực và quần áo, có người đi lính suốt 10 năm không trở về, không rõ sống chết thế nào nhưng người nhà vẫn phải gửi áo quần hàng năm.


Vì mâu thuẫn giữa người Nữ Chân và người Hán luôn là mâu thuẫn đối kháng nên người Hán luôn đấu tranh chống lại ách thống trị của người Nữ Chân. Dưới ách thống trị của Kim, dân Hán liên tục khởi nghĩa chống lại. Cuộc đấu tranh chống Kim ở các nơi không bao giờ chấm dứt. Lúc Kim còn mạnh trung bình cứ 2 năm có 1 cuộc khởi nghĩa lớn.


 


Suy yếu


Từ đầu thế kỷ 13 nhà Kim đã bắt đầu suy yếu, năm 1194 sông Hoàng Hà thay đổi dòng đã phá vỡ hệ thống tưới tiêu của sông Hoài trong gần 700 năm sau gây ra tai họa lũ lụt khủng khiếp ở Sơn đông. Phù sa Hoàng Hà đã ngăn chặn dòng chảy của sông Hoài và làm hàng ngàn người mất nhà ở. Nạn lụt ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu nông dân, làm cho nạn đói xảy ra, khiến cho họ không thể trả tiền thuế giúp triều đình tăng cường khả năng quân sự. Từ năm 1200 nhà Kim phải ban hành lệnh thành lập các đồn điền để bù đắp chi phí ngày càng tăng.


Các cuộc nổi dậy liên tiếp của nông dân Hán làm kiệt sức nguồn lực quốc gia. Năm 1206 và 1208 nhà Kim phải chịu đựng những cuộc tấn công của nhà Tống tuy thắng nhưng thiệt hại cũng nhiều. Năm 1215 các nghĩa quân Hồng Y khởi nghĩa lớn ở Sơn Đông.


Việc người Đảng Hạng nổi dậy ở Nam Mãn châu, đã bị quân Mông cổ lợi dụng cơ hội đó. Nhà Kim phải đối phó với Mông cổ ở phía bắc, Nam Tống ở phía nam, người Khiết đan ở phía đông, Tây Hạ ở phía Tây, và quân Hồng Y trong nước. Quân Kim sau cuộc chiến năm 1161 kết thúc có thời gian nghỉ ngơi khá lâu, không được luyện tập, thiếu kinh nghiệm, không thích hợp khi giao chiến ở phía nam, trong khi đó kỵ binh lại bị hạn chế về số lượng và là nhược điểm của Kim (sức mạnh của quân Mông Cổ là kỵ binh). Trong quân ngũ chiến thuật không có gì mới, không đối phó được với quân Mông cổ. Sau một thời gian dài sống nhàn hạ, tầng lớp quý tộc Nữ Chân đã mất đi sức chiến đấu. Lúc bấy giờ, quân đội nước Kim quân luật lơi lỏng, sĩ khí rụng rơi, dưới sự tiến công như vũ bão của kỵ binh Mông Cổ đã dần dần bị đánh bại.


 


Tháng 11 năm 1208, Kim Chương tông Hoàn Nhan Cảnh bị bệnh chết. Hoàng thúc Vệ Thiệu vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế cùng đám thuộc hạ giả lập di chiếu, lên ngôi hoàng đế. Năm 1211, 10 vạn thiết kỵ của Mông Cổ chia làm ba đường tấn công vào nước Kim. Thành Cát Tư Hãn và Đà Lôi chịu trách nhiệm một mũi tiến quân. Họ lần lượt hạ Xương Châu, Đàn Châu, Phủ Châu. Giã Biệt, Gia Luật A Hải chịu trách nhiệm một mũi tiến công, đã dùng chiến thuật kỳ tập chiếm được Ô Nguyệt Danh, rồi lại tiến chiếm Ô Sa Bảo. Truật Xích, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài chịu trách nhiệm một mũi tiến công và đã chiếm được Vân Nội, Đông Thắng, v.v... Tháng 8 cùng năm, Thành Cát Tư Hãn xua quân bao vây Đại Đồng là Tây Kinh của nước Kim. Lưu thủ Tây kinh Hồ Sa Hổ chưa đánh nhau đã bỏ chạy, thế là Tây Kinh lại bị rơi vào tay Mông Cổ, làm cho cả triều đình và khắp dân gian đều kinh hoàng sợ hãi. Nhà Kim phải giảng hòa, cống nộp nhiều của cải, nhân lực, trong đó có công chúa Kỳ quốc.


 


Nội loạn trong triều nổ ra, Hồ Sa Hổ lợi dụng quân đội nắm trong tay phát động một cuộc chính biến. Hắn bắt vua Vĩnh Tế là ngươi từng khoan dung cho hắn nhiều lần đem nhốt vào thiên lao giết chết. Người con của Hoàn Nhan Doãn cung, cháu nội của Kim Thế tông, anh của Kim Chương tông là Phong vương Hoàn Nhan Tuần đang trấn thủ Hà bắc lên ngôi, tức vị Kim Tuyên tông. Kim Tuyên tông lấy Hồ Sa Hổ làm thái sư, thượng thư lệnh kiêm đô nguyên soái, phong làm Trạch vương. Cùng tháng, ông đổi niên hiệu thành Trinh Hữu. Tháng 9 nhuận, ông đổi lại tên cũ là Hoàn Nhan Tuần. Tháng 10, Truật Hổ Cao Kỳ giết Hồ Sa Hổ, ông miễn tội cho Cao Kỳ, phong làm tả phó nguyên soái.


 


Chính sách đối ngoại của Tuyên Tông cũng rất tệ hại, trực tiếp dẫn tới sự diệt vong của nhà Kim. Trước hết, ông hướng về phía đại hãn Mông Cổ là Thành Cát Tư Hãn, chịu khuất nhục cầu hòa, sau lại đoạn tuyệt quan hệ với Tây Hạ, mà chẳng cần xem xét các kiến nghị phản đối của đại thần Đồ Đan Dật. Tiếp đó, do kinh đô di chuyển từ Trung Đô về phía nam tới Biện Kinh nên ông đã phát động chiến tranh chống Nam Tống kéo dài từ năm 1217 tới đầu năm 1224, tạo ra thế nhà Kim phải chịu chiến trận từ ba phía, cũng như tăng thêm bất hòa trong nội bộ, sinh ra phản loạn. Nguy cơ mất nước đã lộ rõ. Kim Tuyên Tông đã sai lầm khi quyết định khước từ đề nghị chi viện của Tây Hạ khi Kim đồng thời có chiến tranh với người Mông ở phía bắc và nhà Nam Tống ở phía nam.


 


Các cuộc thay đổi chính quyền xảy ra do Truật hổ Cao kỳ (1213-1219), Pucha Guannu (1232-33), và Cui Li lãnh đạo (1233-34) là nguyên nhân làm suy yếu, mất ổn định, hao tổn trong nội bộ triều đình, thậm chí ngăn cản việc tổ chức lực lượng chống lại quân Mông cổ.


Chiến tranh Kim - Mông cổ


 


Đồng thời nhà Kim bắt đầu chịu áp lực từ người Mông Cổ ở phía bắc. Mặc dù lực lượng quân chỉ bằng 1/10 của Kim nhưng ba lần tấn công vào nước Kim, quân Mông Cổ đã làm quân Kim bị thiệt hại nặng nề.


Thất thủ Trung Đô, dời về Khai Phong


 


Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn thống lĩnh 5 vạn kỵ binh Mông Cổ xâm nhập đất Kim và lôi kéo người Khiết Đan và Tây Hạ nổi dậy. Tháng 8 năm 1211, Thành Cát Tư Hãn đóng quân ở Phủ Châu (Trương Bắc, Hà Bắc) ra lệnh tấn công mạnh vào quân chủ lực của nhà Kim ở Dã Cô Lãnh (tây bắc Trương Gia Khẩu, Hà Bắc). Dã Hồ Lãnh là một trận quyết chiến giữa quân Mông Cổ và triều đình nhà Kim. Triều đình nhà Kim đã học được bài học thất bại trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh là "chia mỏng quân đội để đóng giữ ở các cửa ải, các thành quách", bắt đầu áp dụng chiến lược "tập trung quân số” để đối phó với quân địch. Nhà Kim tập trung 45 vạn quân tinh nhuệ trên cả nước, dàn trận tại Dã Hồ Lãnh, với ý đồ dồn quân đội Mông Cổ vào con đường chết. Đây là một trận chiến có qui mô lớn nhất mà từ trước đến nay đối với quân Mông cổ. Thành Cát Tư Hãn đã tiếp nhận kiến nghị của Mộc Hoa Lê, trước tiên dùng đội quân cảm tử để thọc sâu vào Trung quân của Kim, rồi sau đó các cánh quân khác mới mở đường tấn công, tức tập trung 10 vạn quân để đánh thẳng vào một mục tiêu chủ yếu. Hơn nữa, chủ soái của Mông Cổ dù đứng trước mọi tình trạng nguy hiểm vẫn không hốt hoảng, vẫn bình tĩnh chỉ huy. Các tướng sĩ của Mông Cổ dám xông lên chiến đấu. Do vậy, chủ lực của triều đình nhà Kim mới bị đánh bại. Riêng quân Kim tiếp ứng chưa đánh đã bỏ chạy trước. Xác chết của quân Kim đã nằm rải rác trên một diện tích rộng hằng trăm dặm. Qua trận đánh này, binh lực súc tích cả trăm năm của triều đình nhà Kim đã bị đánh bại hoàn toàn, nên thế nước của họ ngày càng suy sụp. Trận đánh tại Dã Hồ Lãnh là một bước ngoặc đối với sự thất bại của triều đình nhà Kim và sự thắng lợi của quân Mông Cổ.


 


Trong 2 năm 1212-1213 quân Mông Cổ san bằng hơn 90 thành trì của nhà Kim. Năm 1213 Thành Cát Tư Hãn tập trung đại quân từ Dã Cô Lãnh tấn công và đập tan 30 vạn quân Kim ở Cối Hà Bảo (nam Vạn Toàn, Hà Bắc). Tháng 7 đại quân Mông cổ tiến thẳng tới Cư Dung Quan. Quân Kim quyết tâm cố thủ. Thành Cát Tư Hãn dùng mưu để bộ tướng của mình đánh nhau ở đó còn bản thân dẫn quân tinh nhuệ đang đêm theo đường nhỏ tập kích Tử Kinh Quan. Sáng sớm hôm sau quân thiết kỵ Mông cổ đã áp sát Tử Kinh Quan, quân Kim đại bại. Năm 1214 nhà Kim chuyển kinh đô về Biện Kinh (tức Khai Phong - kinh đô cũ nhà Tống) để tránh người Mông Cổ Tháng 6 năm 1214, quân Mông Cổ mở cuộc tấn công vào nước Kim lần thứ hai. Họ bắt đầu từ Bắc Khẩu tấn công Cảnh Châu, Kế Châu, Đàn Châu, Thuận Châu. v.v....Tháng 7, thái tử nước Kim là Hoàn Nhan Thủ Trung bỏ chạy khỏi Trung Đô. Tháng 10, Mộc Hoa Lê xua quân tấn công Liêu Đông. Tháng giêng năm 1215, Thạch Mạt Minh An, anh em Gia Luật xua quân tấn công thành trì. Quân Mông Cổ đánh chiếm được Thông Châu, áp sát Trung Đô.


 


Thành Cát Tư Hãn ra lệnh cho tướng Mộc Hoa Lê vây kín Yên Kinh, lại ra lệnh cho Triết Biệt đóng quân dọc đường từ Khai Phong tới Yên Kinh, chặn đánh tất cả các đoàn tiếp tế lương thảo. Về phía Kim, khi triều đình Kim rút lui, để Hoàn Nhan Thừa huy ở lại cố thủ. Một bên quyết bao vây, một bên quyết thủ. Hết mùa đông, sang mùa xuân thành Yên Kinh vẫn đứng vững. Nhưng lương thực trong thành ngày một cạn. Vì trước đây lương thực do hai nguồn tiếp tế; một là do các châu, huyện Hoa Bắc giao nộp, hai là tiếp tế từ Biện Lương lên. Nay tất cả các thành trì, châu, huyện trên vùng Hoa Bắc bị quân Mông Cổ kiểm soát. Nguồn tiếp tế từ miền nam lên bị chặn đánh. Tháng ba năm đó, Hoàn Nhan Thừa Huy gởi quyết thư đến Khai Phong để xin tăng viện. Nhà vua mới đã phái một quan văn giữ chức Ngự Sử Trung Thừa là Lý Anh tăng cường quân đội vận lương chi viện cho Trung Đô. Tháng 4, toán quân tăng viện bị quân Mông Cổ tiêu diệt tại Bá Châu. Trung Đô bị tuyệt lương nên vô cùng nguy ngập. Quá tuyệt vọng, Hoàn Nhan Thừa huy trấn thủ quyết xua quân đánh một trận phá vòng vây. Nhưng các tướng không tuân lệnh. Ông lấy máu viết biểu tố cáo việc này lên vua Kim, phân phát tài vật cho thuộc hạ, rồi uống thuốc độc tự tận. Ông chết rồi, đang đêm viên tướng trấn thủ mở cửa thành, cùng người ái thiếp bỏ trốn. Quân trong thành không tướng chỉ huy. Các tướng coi binh đoàn tranh quyền, đánh lẫn nhau, không ai giữ cửa thành. Một vài toán quân bị bại, mở toang cửa thành ra hàng Mông Cổ. Mộc Hoa Lê xua một vạn rưởi kị binh, dẫn theo 30 binh đoàn thân binh tràn vào thành. Kị binh phi trên xác quân lính, dân chúng. Họ đốt phá khắp nơi. Tính ra có tới 5 vạn quân Kim bị giết với khoảng 50 vạn dân chúng, gia đình chết trong loạn quân. Mười vạn phụ nữ lên thành nhảy xuống tự tử, vì sợ bị hãm hiếp. Trong ba tháng, thành Yên Kinh vẫn còn bốc cháy.


 


Tháng 3 năm Trinh Hữu thứ 2 (1214), Mông-Kim hòa nghị thành công, tháng 5 Tuyên Tông quyết định dời đô về Biện Kinh, nhưng sau đó chiến tranh Mông-Kim lại tái phát. Tháng 5 năm Trinh Hữu thứ 3 (1215), Trung Đô thất thủ. Tháng 10, Bồ Tiên Vạn Nô tại Liêu Đông tự lập làm vua.


 


Nước Kim từ đó liên tục thất bại, không kháng cự nổi. Các lực lượng vũ trang nông dân mặc áo đỏ nổi dậy chống lại nhà Kim, dưới tên gọi Hồng áo quân. Năm 1217, tướng Mộc Hoa Lê chỉ huy quân Mông Cổ tiếp tục xâm chiếm đất đai của Kim. Triều đình nhà Kim dưới sự lãnh đạo của tể tướng Truật hổ Cao kỳ tiếp tục rút về phía nam. Khi Truật hổ Cao kỳ nắm quyền triều chính năm 1217, ông ta đã sai lầm quyết định đánh Nam Tống và tiến vào vùng đất của Nam Tống, nhưng do thất bại nên năm 1218 Truật hổ Cao kỳ bị xử tử. Chiến sự nổ ra cho đến năm 1224 và quân Kim chịu tổn thất nặng. Năm 1224 Hoàn Nhan Thủ Tự tuyên bố Kim sẽ không bao giờ đánh Tống nữa. Quân Kim phải dàn quân cả ở phía nam và bắc và bị cô lập vì không liên kết được với Nam Tống chống quân Mông Cổ.


 


Nhận thấy nhà Kim đã suy yếu, Nam Tống liên kết với Tây Hạ để tấn công Kim vào năm 1220.


Năm 1223, Mộc Hoa Lê đánh vào Thiểm Tây, tấn công Trường An. Tại đây lực lượng của Kim rất mạnh, đông tới 20 vạn người do tướng Hoàn Nhan Hợp đạt chỉ huy. Mộc Hoa Lê chuyển sang bao vây Phượng Tường với lực lượng 10 vạn người. Cuộc bao vây kéo dài hơn 1 tháng và quân Mông Cổ bị quấy rối bởi các lực lượng địa phương trong khi quân tiếp viện của Tây Hạ không đến. Mộc Hoa Lê sau đó chết bệnh vì uất ức và quân Mông Cổ rút lui.


Khi hai bên giao chiến ở vùng Sơn Đông, dọc đường mười nhà thì chín nhà bỏ trống, người trên đường nhao nhao chạy nạn, quân Kim tan vỡ, quân lính thua trận chạy về cướp đoạt tiền bạc cưỡng dâm phụ nữ. Đà Lôi và Mộc Hoa Lê cầm quân đánh Kim, đại chiến mấy trận ở Sơn Đông đánh quân Kim đại bại tan rã. Quân sĩ còn lại của nước Kim tập trung ở cửa Đồng Quan, đóng chặt cửa quan cố thủ, không dám ra Sơn Đông nghênh chiến. Năm 1223, cả tướng Mông Cổ Mộc Hoa Lê và vua Kim Tuyên Tông đều chết. Kim Ai Tông Hoàn Nhan Thủ Tự lên kế vị và cố gắng huy động lực lượng chống lại sức mạnh của Mông Cổ.


 


Mông Cổ liên Tống diệt Kim


Năm 1227, trước khi chết Thành Cát Tư Hãn đưa ra ý tưởng: “Liên Tống diệt Kim”. Ông nói: “Tinh binh của Kim tập trung ở Đồng Quan (Đồng Quan, tỉnh Thiểm Tây), phía nam thì chiếm Liên Sơn, phía bắc thì ngăn bởi Đại Hà (tức sông Hoàng Hà) nên rất khó tiêu diệt. Vì Tống và Kim thù địch lâu đời nên nếu mượn đường của Tống đánh Kim, thì chắc là Tống sẽ cho, sau đó cho quân vòng qua Đường Châu (Đường Hà, tỉnh Hà Nam), Đặng Châu (huyện Đặng, tỉnh Hà Nam) rồi đánh thẳng vào Khai Phong. Kim sẽ lấy quân từ Đồng Quan sang chi viện. Quân Kim dù có mấy chục vạn nhưng hành quân đường xa, người, ngựa đều mệt mỏi, không thể tác chiến ngay được, đó là lúc ta đánh thắng được họ”.


Năm 1227, Mông Cổ tiêu diệt Tây Hạ, thiết lập liên minh của họ với Nam Tống đánh Kim.


Năm 1229, lần đầu tiên trong 20 năm giao chiến, 400 kị binh Trung hiệu quân của Kim bao gồm người Duy Ngô Nhĩ, Nãi Man, Khương đã đánh bại 8.000 quân Mông Cổ tại Dachangyuan (Thanh Dương, Cam Túc).


 


Trận chiến núi Tam Phong


Năm 1231, quân Mông Cổ quay trở lại đánh Phượng Tường và chiếm được. Lực lượng quân Kim đóng ở Trường An hoảng sợ, đem toàn bộ dân chúng rút khỏi thành chạy về Hà Nam. Một tháng sau, quân Mông Cổ đã chia quân 3 mặt tây, bắc, đông tấn công vào Khai Phong. Cánh quân phía tây do Đà Lôi chỉ huy có 4 vạn quân từ Phượng Tường tiến vào Đồng Quan, xuyên qua lãnh thổ của Nam Tống ở sông Hán gần Tương Dương áp sát Đặng Châu bất ngờ tấn công mặt nam của Khai Phong. Nhà Kim phái Bình chương chính sự Hoàn Nhan Khờ Tả, Khu mật sứ Di Sư Phủ Á cùng 17 đô úy thống lĩnh 15 vạn bộ binh và 2 vạn kỵ binh đến Thuận Dương (Triết Xuyên, Hà Nam) phía tây Đặng Châu. Hoàn Nhan Khờ Tả nắm bắt được tình hình và đưa 20 vạn quân nghênh chiến.


 


Tại Đặng Châu, Hoàn Nhan Khờ Tả cho người và ngựa mai phục sau núi, nhưng quân thám mã của Đà Lôi đã biết được. Đà Lôi cho một số kỵ binh chạy vòng trong thung lũng nghi binh và quân chủ lực tấn công quân Kim từ phía sau. Tại núi Yu, tây nam Đặng Châu quân hai bên giao chiến. Quân Kim chiếm ưu thế về người và chiến đấu rất hăng. Quân Mông Cổ phải lui về 30 dặm và thay đổi chiến thuật. Đà Lôi cho một số quân ở lại kìm chân quân Kim, còn đại quân chia nhỏ theo đường vòng tiến về phía bắc Khai Phong tránh không cho quân Kim biết.


 


Trên đường tiến quân từ Đặng Châu đến Khai Phong, quân Mông Cổ dễ dàng chiếm hết vùng này đến vùng khác, đốt cháy các thứ cướp được để ngăn Hoàn Nhan Khờ Tả cho quân đuổi theo. Hoàn Nhan Khờ Tả buộc phải rút lui và đụng độ dữ dội với quân Mông Cổ tại núi Tam Phong thuộc Điếu Châu (Vũ Châu, Hà Nam). Vào lúc đó quân Kim tại Hoàng Hà cũng rút về phía nam chặn cánh quân của Đà Lôi. Cánh quân trung lộ của Mông Cổ do hãn Oa Khoát Đài nắm lấy cơ hội vượt qua sông và hội quân với Đà Lôi cùng bao vây quân Km, tổng hợp cả 2 cánh quân cũng mới có 5 vạn quân. Cánh quân Kim của Hoàn Nhan Khờ Tả vẫn còn 10 vạn quân sau trận đánh trước và quân Mông Cổ chọn chiến thuật làm kiệt sức đối phương. Tại các vùng khác quân Kim chỉ còn lại ít và việc chuyển lương gặp nhiều khó khăn. Tinh thần quân lính suy sụp. Khi quân Kim tiến đến núi Tam Phong, bất ngờ có trận bão tuyết ập đến. Thời tiết quá lạnh nên mặt ai cũng trắng như người chết và tiến quân rất chậm. Lúc này quân Mông Cổ đã tập kích, hàng ngũ quân Kim tan rã nhanh chóng. Quân Mông Cổ tàn sát không thương tiếc quân Kim, Hoàn Nhan Khờ Tả và nhiều tướng khác bị tử thương. Gần như toàn bộ quân chủ lực của Kim ở Thiểm Tây và Hà Nam hầu như bị tiêu diệt trong trận này.


 


Tháng 4 năm 1233 thành Khai Phong thất thủ, Kim Ai Tông Hoàn Nhan Thủ Tự chạy đến Quy Đức, sau lại đến Thái Châu (Nhữ Nam, Hà Nam). Quân Mông Cổ tấn công kinh đô Biện Kinh của triều Kim và quân Mông Cổ đã bị người Kim chống trả ác liệt, khiến tướng sĩ Mông Cổ chết nhiều, tướng sĩ Mông Cổ đã đề nghị Oa Khoát Đài "làm cỏ" kinh thành Khai Phong để trả thù cho quân sĩ. Oa Khoát Đài ban đầu cũng đồng tình theo ý của viên tướng Tốc Bất Hợp nhưng Da Luật Sở Tài đã dùng lý lẽ can gián liên tiếp và Oa Khoát Đài nghe ra, cuối cùng chỉ cho giết những người là tay chân của vua Kim. Sự can gián của Da Luật Sở Tài đã cứu sống hơn 147 vạn dân vô tội trong thành Khai Phong. Nửa năm sau, tháng 1 năm 1234 liên quân Mông–Tống công hãm Thái Châu, nhà Nam Tống cho tướng Mạnh Kỳ dẫn 2 vạn quân và 30 vạn thạch lương đến hội quân, cùng công phá Thái Châu, quân Mông Cổ từ phía tây, quân Tống đánh vào từ phía nam, vua Kim tự tử, kết thúc vương triều Kim.


 


Nam Tống theo điều ước tiến quân lấy lại 3 kinh là Lạc Dương, Khai Phong, Quy Đức. Tại Lạc Dương khi quân Tống đến trong thành chỉ còn 300 hộ dân, quân Tống chỉ mang theo 5 ngày lương thảo nên chuyển đến Khai Phong, tại đây quân Mông Cổ đã tháo nước sông Hoàng Hà ngập chìm quân Tống dìm chết hàng mấy vạn quân Tống. Diệt xong Kim, Nam Tống trở thành miếng mồi xâm lược của vua Mông Cổ. Năm 1279, Nguyên Mông tiêu diệt Nam Tống, cai trị toàn bộ đất nước Trung Quốc.


 


Năm 1616, người Mãn Châu dưới sự lãnh đạo của Nỗ Nhĩ Cáp Xích thuộc dòng họ Ái Tân Giác La đã thiết lập triều đại nhà Hậu Kim, lấy tên vương triều của mình theo tên của vương triều này. Nhà Hậu Kim sau đó đổi tên thành nhà Thanh năm 1636 dưới triều vua Thanh Thái Tông (Hoàng Thái Cực), sau đó xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc của nhà Minh và trở thành vương triều cuối cùng của Trung Quốc phong kiến.


 


Lịch sử của nhà Kim được viết dưới thời nhà Nguyên. “Kim sử” là một sách lịch sử trong 24 sách của "Nhị thập tứ sử", do Thoát Thoát biên soạn năm 1345. Tổng cộng có 135 quyển và viết từ sự ra đời cho đến khi diệt vong của nhà Kim.


Các vua nhà Kim


Nhà Kim trải qua mười đời vua như bảng dưới đây.


Miếu hiệu          Thụy hiệu          Tên       Thời gian          Niên hiệu


Kim Thái Tổ                   Hoàn Nhan A Cốt Đả hay Hoàn Nhan Mân           1115-1123         Thu Quốc (115-1116)


Thiên Phụ (1117-1123) Kim Thái Tông Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi


hay Hoàn Nhan Thịnh     1123-1135         Thiên Hội (1123-1134)


Kim Hi Tông                  Hoàn Nhan Hợp Lạt


hay Hoàn Nhan Đản       1135-1149         Thiên Hội(1135-1138)


Thiên Quyến (1138-1141)


Hoàng Thống (1141-1149)


            Hải Lăng Vương            Hoàn Nhan Địch Cổ Nãi


hay Hoàn Nhan Lượng   1149-1161         Thiên Đức (1149-1153)


Trinh Nguyên (1153-1156)


Chính Long (1156-1161)


Kim Thế Tông                Hoàn Nhan Ô Lộc


hay Hoàn Nhan Ung       1161-1189         Đại Định (1161-1189)


Kim Chương Tông                     Hoàn Nhan Cảnh           1190-1208         Minh Xương (1190-1196)


Thừa An (1196-1200)


Thái Hòa (1201-1208)


            Vệ Thiệu Vương hay Vệ Vương             Hoàn Nhan Vĩnh Tế        1209-1213         Đại An (1209-1212)


Sùng Khánh (1212-1213)


Chí Ninh (1213)


Kim Tuyên Tông                        Hoàn Nhan Tuần            1213-1223         Trinh Hữu (1213-1217)


Hưng Định (1217-1222)


Nguyên Quang (1222-1223)


Kim Ai Tông                  Hoàn Nhan Thủ Tự         1224-1234         Chính Đại (1224-1232)


Khai Hưng (1232)


Thiên Hưng (1232-1234)


            Mạt Đế Hoàn Nhan Thừa Lân     1234     Thịnh Xương (1234)


_______


    ^ lưu vực A Thập Hà, Hắc Long Giang


    ^ Thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay


    ^ Tây nam huyện Bảo Kê, Thiểm Tây


    ^ nam huyện Huy, Cam Túc


    ^ nay thuộc huyện Tương Dương tỉnh Hà Bắc


    ^ nay là huyện Chung Tường tỉnh Hồ Bắc


    ^ nay là huyện Tuỳ tỉnh Hồ Bắc


    ^ Nay là huyện Đường tỉnh Hà Nam, Trung Quốc


    ^ Nay là huyện Tín Dương tỉnh Hà Nam


    ^ Túc châu, An Huy


    ^ huyện Thương, Thiểm Tây


    ^ Huyện Thiên Thủy, Cam Túc


    ^ Bí Dương, Hà Nam, Trung Quốc


Wikipedia


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tìm hiểu vụ ám sát Tạ Thu Thâu - Tư liệu 25.07.2017
Những nhà tù “ế ẩm” - Tư liệu 13.07.2017
Nhà thờ Chánh tòa nguy nga nhất Italia: Duomo ở Milan - Tư liệu sưu tầm 13.07.2017
Vành đai và Con đường dưới góc nhìn địa chiến lược - Joseph S. Nye 12.07.2017
30/11/1917: Đức chúc mừng Cách mạng Tháng Mười Nga - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Ngày 08/07/1918: Ernest Hemingway bị thương trên Mặt trận Ý - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Nỗi đau của chàng Vecte (Werther) & Faust - Johann Wolfgang von Goethe 07.07.2017
Văn hóa Ẩm thực: 18 địa chỉ ăn ngon, sạch nhất Sài Gòn và vùng phụ cận - Triệu Xuân 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (14) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (13) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
xem thêm »