tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19660367
18.07.2012
Tư liệu
Nhà Kim, bộ tộc Nữ Chân (1)

Nhà Kim (, pinyin: Jīn; Anchu trong tiếng của người Nữ Chân) tồn tại từ 1115 đến 1234, là vương triều của người Nữ Chân, được họ Hoàn Nhan (, Wányán) sáng lập, đây cũng là tổ tiên của những người Mãn Châu đã sáng lập ra triều đại nhà Thanh - ban đầu xưng là Hậu Kim - khoảng 500 năm sau.


Từ ngàn xưa, các bộ tộc Mãn Châu thường sống du mục theo đôi bờ Hắc Long Giang, có khi vượt qua phía Tây đến biên giới Mông Cổ. Người Nữ Chân là một dân tộc thiểu số rất lâu đời ở trong nội địa nước Trung Quốc. Tổ tiên của họ là người Túc Thận thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đến đời Đông Hán, Tam Quốc, họ được gọi là “Ấp Lâu”. Đời Bắc Ngụy được gọi là “Vật Cát”. Đời nhà Tùy, nhà Đường gọi là "Mô Hơ".


 


Đến năm Thiên Phục thứ ba đời Đường Chiêu Tông (903) trở về sau, tộc này mới chính thức được gọi là "Nữ Chân". Trong lịch sử Trung Quốc, nước Bột Hải trong đời Đường là chính quyền do dân tộc thiểu số Nữ Chân đã lần lượt thành lập. Thời Liêu, họ sống ở giữa vùng Hắc Thủy và Bạch Sơn, sau đó nhà Liêu di dời một bộ phận đến vùng Liêu Ninh sinh sống định cư nông nghiệp nên được gọi là Thục Nữ Chân. Một bộ phận khác ở sông Tùng Hoa từ hạ lưu Hắc Long Giang kéo dài đến biển, sống du mục, thay đổi nơi ở theo con nước và đồng cỏ, gọi là Sinh Nữ Chân. Trong nội bộ Sinh Nữ Chân có bộ lạc Hoàn Nhan vào thế kỷ thứ 10 định cư bên cạnh vùng An Xuất Hổ Thủy[1] lớn mạnh.


 


Người Nữ Chân vẫn trong xã hội nô lệ thị tộc trước khi vào Trung Nguyên gồm có 5 bộ: Punuli, Tieli, Yuelidu, Aolimi, và Puali, đặt dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Wanyan Wugunai (颜乌骨迺, Hoàn Nhan Ô Cốt Nãi, hoặc 颜乌古迺, Hoàn Nhan Ô Cổ Nãi) và người trợ thủ Wanyan Yada (完顏雅達, Hoàn Nhan Nhã Đạt). Wugunai được nhà Liêu phong làm Tiết độ sứ vùng Đông bắc. Sau khi Wugunai chết, con trai là Helibo (劾里, Hặc Lý Bát) (sau này được nhà Kim truy phong là Thế tổ) kế nghiệp với sự trợ giúp của em trai là Polashu (頗刺淑, Pha Thứ Thục). Năm 1092, Polashu lên làm thủ lĩnh, sau đó em trai là Yingge (盈歌, Doanh Ca) kế nhiệm năm 1095. Vào lúc này 3 bộ tộc Nữ Chân khác nổi lên chống lại bộ Hoàn Nhan gồm Tudan, Wugulun, và Pucha. Các anh em thủ lĩnh bộ Hoàn Nhan là Wuyashu (烏雅束, Ô Nhã Thúc), Aguda (阿骨打, A Cốt Đả) và Wuqimai (吳乞買, Ngô Khất Mãi) đã đánh bại các bộ tộc đó. Năm 1103, Hoàn Nhan Ô Nhã Thúc trở thành thủ lĩnh của liên minh các bộ tộc Nữ Chân, đến năm 1113 A Cốt Đả lên thay, nắm giữ chức đại bối lặc (tức đại tù trưởng).


 


A Cốt Đả là em trai của Hoàn Nhan Ô Nhã Thúc. Ông nổi tiếng là người dũng cảm và đã tham gia nhiều cuộc chiến chống lại bộ lạc Nữ Chân dưới sự chỉ huy của nhà Liêu. Năm 1109, lúc đỉnh điểm của nạn đói hoành hành, A Cốt Đả đã giúp anh mình Ô Nhã Thúc thuần phục các chiến binh bị nạn đói của các bộ lạc khác để tăng sức mạnh cho bộ lạc mình.


Tổ chức Meng'an-Mouke


 


A Cốt Đả tổ chức lại các bộ tộc Nữ Chân theo mô hình "Mãnh an Mưu khắc" (猛安謀克, Meng'an-Mouke). Cứ 100 hộ Nữ Chân hợp lại thành một Mouke (người Hán gọi là Bách hộ). Cứ 10 mouke thì hợp lại thành 1 Meng'an (hay Thiên hộ). Hệ thống Meng'an-Mouke này tồn tại cho đến khi kết thúc triều đại là đơn vị hành chính địa phương nhỏ nhất. Thủ lĩnh của meng'an cũng là người chỉ huy quân đội của bộ lạc, thủ lĩnh của mouke cũng chính là trưởng thị tộc đó. Các hộ trong Meng'an-Mouke được huấn luyện quân sự trong thời bình, thời gian rảnh rỗi thì cày cấy sản xuất, khi có chiến tranh thì tráng đinh bị trưng dụng, tự mua sắm khí giới yên mã ra chiến trường còn những người khác trong gia đình thì vẫn ở nhà sản xuất. Tất cả tài sản lương thực thu được đều là của chung, không có sở hữu riêng.


Diệt Liêu và Bắc Tống, thành lập quốc gia


Nhà Liêu bắt người Nữ Chân phải cống nộp vàng bạc, châu ngọc, ngựa tốt và diều hâu. Sự bóc lột hà khắc của nhà Liêu đối với các bộ tộc người Nữ Chân làm sự bất mãn của họ ngày một tăng.


 


Chính quyền của người Nữ Chân được thành lập năm 1115 tại miền bắc Trung Quốc và người Nữ Chân dần dần mạnh lên. Họ lần lượt xâm lấn và cuối cùng đã tiêu diệt vương triều nhà Liêu của người Khất Đan (Khiết Đan) vào năm 1125 (liên minh cùng nhà Tống để diệt Liêu), những người đã thống trị khu vực Mãn Châu và biên giới phía bắc Trung Quốc trong vài thế kỷ trước.


Năm 1113 A Cốt Đả (1068 – 1123) đã được bầu làm đại bối lặc (tù trưởng các bộ lạc). Năm 1114 ông lãnh đạo 2500[cần dẫn nguồn] người Nữ Chân tại Lưu Thủy (sông Lalin gần Fuyu Weizitun, Cát Lâm) nổi dậy chống lại nhà Liêu. Đội kỵ binh chiếm Ninh giang châu (Fuyu Weizitun, Cát Lâm) và đánh bại 7 ngàn quân Liêu tại trận Chuhedian vào tháng 11. Sau những thắng lợi liên tiếp tháng 1 năm 1115 A Cốt Đả tuyên bố lên ngôi vua Kim, đóng đô ở Hội Ninh phủ (Hắc Long Giang).


 


Vào tháng 8 năm 1115, quân Kim chiếm được Hoàng Long phủ (Nongan, Cát Lâm) và đánh bại 70 vạn quân Liêu chỉ với 2 vạn kỵ binh tại trận Hubudagang. Năm 1116 Thiên tộ đế nhà Liêu thân chinh dẫn hơn 10 vạn quân xuất phát từ Trường xuân hòng tiêu diệt quân Kim. Quân Kim quyết chiến đánh cho Liêu đại bại, Thiên tộ đế bỏ chạy trong một đêm hơn 500 dặm về Trường Xuân, Kim chiếm được 45 châu của nước Liêu, vùng bán đảo Liêu đông trong đó có Liêu dương, kinh đô phía đông của Liêu và đã lần lượt chiếm được các kinh đô của Liêu và cuối cùng đã tiêu diệt vương triều nhà Liêu của người Khất Đan (Khiết Đan) vào năm 1125 (liên minh cùng nhà Tống để diệt Liêu), những người đã thống trị khu vực Mãn Châu và biên giới phía bắc Trung Quốc trong vài thế kỷ trước. Người Nữ Chân lại có trình độ kỹ thuật quân sự khá cao, tổ chức thành các đội kỵ binh liên hoàn gọi là Lãnh tử mã, biết sử dụng những loại chiến xa và súng bắn đá nên đã tiến đánh những thành thị của Tống triều ở miền Bắc một cách dễ dàng.


 


Vào ngày 9 tháng 1 năm 1127 lực lượng nhà Kim đã chiếm Khai Phong, thủ đô của triều đại Bắc Tống, bắt giữ cả hai vua nhà Tống là Tống Khâm Tông, và cha của ông là vua Tống Huy Tông, là người đã từ bỏ ngôi báu do sợ hãi lực lượng nhà Kim. Sau khi Khai Phong thất thủ, lực lượng nhà Tống dưới sự lãnh đạo của nhà Nam Tống kế tiếp vẫn tiếp tục chiến đấu với nhà Kim trong hơn mười năm tiếp theo, cuối cùng đã dẫn đến ký kết hiệp ước hòa bình năm 1141, và cắt toàn bộ miền bắc Trung Quốc cho nhà Kim năm 1142 để đổi lấy hòa bình.


 


Đối phó với phong trào chống Kim phía bắc


Sau khi nhà Tống lui xuống miền Nam, di đô về Giang Tả, một dải Hoàng Hà nam bắc, không thiếu những người sẵn bầu nhiệt huyết, không chịu cam lòng thần phục ngoại bang, không bằng lòng để cho quân Kim tàn sát thống trị, họ đã lần lần nổi dậy lập thành những đội nghĩa quân trong dân chúng, nhất là các vùng thôn dã, đánh phá quân Kim ở các địa phương. Công việc của họ là cướp đoạt, đốt phá lương thảo, đánh giết quan lại tướng tá của nhà Kim, cổ khuyến dân chúng không giao dịch nạp lương đóng thuế cho bọn chúng. Tình hình đó mạnh nhất ở các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông. Dần dần nhà Kim ổn định tình hình tại miền bắc, dùng địa chủ Hán làm quan trong bộ máy hành chính. Vào thời gian hùng mạnh nhất quân đội của Kim được tổ chức đông tới 1 triệu người.


 


Hệ thống quản lý hành chính được thành lập theo khuôn mẫu của chính quyền nhà Tống hơn là nhà Liêu. Trong khi Kim Thái Tổ áp dụng những hình thức quản lý của người Khiết Đan theo đề nghị của Yang Pu, người Bắc hải từng đỗ tiến sĩ và làm quan cho nhà Liêu; những người kế nhiệm như Kim Hy tông, Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng đã cải tổ lại hệ thống quản lý hành chính cho phù hợp với tình hình mới để có thể quản lý được những vùng đất rộng lớn mới chiếm được tại châu thổ sông Hoàng Hà và đồng bằng Hoa bắc.


 


Các thủ lĩnh bộ lạc của liên minh người Nữ Chân (bối lặc) có vai trò tư vấn cho hãn của người Nữ Chân các vấn đề chính trị. Năm 1134 Kim Thái tông bãi bỏ hệ thống các thủ lĩnh và được thay thế bằng các hệ thống Tam sảnh và Tam tỉnh, trong đó chỉ duy nhất Thượng thư tỉnh và Lục bộ còn được giữ lại trong lần cải cách năm 1156.


Tổ chức bộ máy cai trị


 


Tại miền bắc lúc đầu quân Kim liền lập Trương Bang Xương làm Sở vương, rồi ba năm sau phong Lưu Dự làm Tề vương, lợi dụng hai vua bù nhìn để bắc cầu để bước lần đến toàn cõi trung nguyên. Quân Kim rút quân về Bắc chứ không chiếm hết luôn giang sơn của Tống vì Kim thiếu quân, thiếu người để cai trị và biết rằng người Hán không chịu hợp tác, cứ để cho Tống mỗi năm nộp cống vàng, bạc, lụa và hễ có dịp thì bắt cắt thêm đất, như tằm ăn dâu có lợi hơn. Trong những năm tiếp theo khoảng 3 triệu người Nữ Chân (chiếm 50% số người Nữ Chân lúc đó) đã di cư vào Trung nguyên, trong khi đó người Hán ở miền bắc là 30 triệu người.[cần dẫn nguồn] Trong thời gian Kim Thái tông cai trị, nước Kim hùng mạnh, buộc nước Tây Hạ phải tiến cống.


 


Thành viên của hoàng gia được phong tước vương, lãnh địa của họ do họ cai quản được gọi là quận quốc. Trong quá trình cai quản, người Nữ Chân đã áp dụng các mô hình quản lý của người Hán ở các cấp.


 


Tại triều đình, Ngự sử đài có nhiệm vụ giám sát các quan chức, các viên chức trong Hàn lâm viện có nhiệm vụ soạn thảo công văn. Một số các cơ quan khác như ty, viện đều giống như chính quyền của nhà Tống như Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Khu mật viện, Tam tỉnh, Tạm sảnh, Thượng thư tỉnh, Lục bộ (tồn tại đến năm 1156). Đội ngũ quan lại được sắp xếp theo đẳng cấp có 9 bậc từ thượng đẳng đến hạ đẳng, được tuyển dụng thông qua sát hạch, người Nữ Chân được sử dụng tiếng Nữ Chân trong thi cử tại các vùng đất mới chiếm.Các đơn vị hành chính được chia làm lộ, phủ, châu, quận. Tại các địa phương cấp lộ, quan chức cai quản lộ có trách nhiệm về quản lý tài chính, tư pháp, chuyển vận lương thực và quân sự. Tại 4 kinh đô có chức quan lưu thủ cai trị.


 


Lúc đầu, các thủ lĩnh bộ lạc nắm quyền tổ chức quân sự, sau đó khi bắt đầu tiến hành chiến tranh với Tống, Khu mật viện đã được thành lập như là cơ quan cai trị lớn nhất tại các vùng lãnh thổ chiếm được. Người đứng đầu tổ chức quân sự là các nguyên soái. Các đơn vị quân đội ở miền nam được sáp nhập vào các đơn vị hành chính địa phương, còn ở miền bắc các lực lượng đồn trú tại biên giới đề phòng người Mông Cổ và Tatar. Lực lượng quân của triều đình gọi là hezha mouke (合札謀克, Hợp trát Mưu khắc). Về sau khi chịu sức ép về quân sự của quân Mông Cổ, 9 thủ lĩnh quân sự người Nữ Chân được phong làm quốc công, toàn quyền sử dụng nhân lực vật lực trong địa phận cai quản để chống lại quân Mông Cổ. Chức võ quan cao cấp nhất là Nguyên soái.


Pháp luật


 


Các luật lệ về thuế được ban hành ngay sau khi nhà Kim giành được đất đai phía nam. Kim Hy tông ban hành luật Hoàng thống chế, Hải lăng vương ban hành luật Xuxiang sớ nghị. Luật cũng quy định việc chiếm hữu nô lệ. Dựa vào Đường luật sớ nghị, Kim Chương tông đã ban hành luật Minh xương và Thái hòa sớ nghị.


 


Tại lãnh thổ của Kim, nhà Kim bắt buộc người Hán phải tuân theo phong tục của người Nữ Chân, cạo nửa đầu để lại một chỏm tóc ở phía sau (600 năm sau nhà Mãn Thanh cũng áp dụng), mặc trang phục của người Nữ Chân.


 


Chiến tranh Tống - Kim


Ngột Truật đánh xuống phía nam


Trong các cuộc tấn công xuống phia nam, kỵ binh và bộ binh của Kim chiếm ưu thế, song thủy binh thì kém xa quân Tống.


Ngột Truật (Hoàn Nhan Tông Bật) là con thứ tư của Kim Thái Tổ. Ngột Truật rất giỏi dùng binh nên được phong chức Đô Nguyên Soái, lãnh Hành Đài Thượng Thư Sự, chủ trì xâm lăng tiêu diệt nhà Nam Tống. Tuy nhiên Ngột Truật từng đại bại thê thảm dưới tay Nhạc Phi và Hàn Thế Trung. Năm 1130 Ngột Truật cất đại quân vượt sông Trường Giang đánh Tống, thế như chẻ tre, quân Tống tháo chạy hoảng hốt.


Tướng Tống là Nhạc Phi tiến quân đến Thường Châu[2], đánh với Ngột Truật bốn trận, quân Kim thua trận. Nhạc Phi tiếp tục truy kích, giành thêm chiến thắng ở trấn Giang Đông, Thanh Thuỷ. Ngột Truật nhanh chân cho quân chạy về Kiến Khang (nay thuộc thành phố Nam Kinh), Nhạc Phi cho quân phục kích tại núi Ngưu Đầu đánh bại Ngột Truật, Ngột Truật lại chạy về Hoài Tây, Nhạc Phi thu hồi được Kiến Khang, bảo toàn được nửa mảnh giang sơn Giang Nam của Nam Tống. Ngột Truật phải tháo chạy, lui về giữ Khai Phong, tính bỏ luôn cuộc Nam xâm, phải chấp nhận ký hòa ước với Nam Tống.


Và nhà Nam Tống lại tìm cách chinh phục phía bắc. Các tướng Trương Tuấn, Ngô Lân, Ngô Giới, Lưu Kỳ, Hàn Thế Trung, nhất là Nhạc Phi, đánh thắng quân Kim nhiều trận, có hy vọng khôi phục bắc phương. Lưu Kỳ dùng 2 vạn Bát Tự quân đẩy lui 10 vạn quân Kim do Hoàn Nhan Ngột Truật chỉ huy ở Thuận Xương. Lưu Kỳ vì thế trở thành viên tướng Tống đầu tiên đánh bại được đạo quân Quải Tử mã bách chiến bách thắng của Ngột Truật.


Ngô Giới (1093 – 1139) người Lũng Cán, Đức thuận quân, Ninh Hạ cùng người em là Ngô Lân trấn giữ Hòa Thượng nguyên[3], năm 1131 đánh tan 10 vạn quân Kim do Ngột Truật chỉ huy, đến năm 1134 lại đánh thắng quân Kim ở Tiên nhân quan[4] khiến cho quân Kim không dám xâm phạm Tứ Xuyên.


 


Trận Hoàng Thiên Đãng


Năm 1130 Hoàn Nhan Ngột Truật đem quân Kim đánh xuống phía nam liên tiếp chiếm được Minh châu, Bình giang (Tô Châu) bèn trở về phương bắc bị tướng Hàn Thế Trung người Diên An tự là Lương Thần thống lĩnh thủy quân chặn đánh ở Hoàng Thiên Đãng và một số nơi khác suốt một dải từ Trấn giang đến phủ Kiến khang. Tinh thần tướng sĩ Tống cao ngút trời, 8000 thủy binh chiến đấu với 10 vạn quân Kim trong suốt 48 ngày. Quân Tống dùng xích sắt gắn những móc to đợi thuyền quân Kim đến thì móc kéo cho thuyền chìm xuống. Trong lúc hai bên kịch chiến, vợ Hàn Thế Trung là Lương Hồng Ngọc đích thân đánh trống trợ oai, nhiều phen đánh bại quân Kim. Sau cùng quân Kim dùng hỏa công đánh bại quân Tống mới có thể sang sông trở về phương bắc.


Năm 1134, người Kim cùng với chính quyền ngụy Tề Lưu Dự ở phương Bắc do người Kim nâng đỡ,liên quân tiến đánh Nam Tống, đánh chiếm 6 quận Tương Dương ở trung lưu sông Trường Giang, trực tiếp uy hiếp sự sinh tồn của nhà Nam Tống. Tống Cao Tông lại phải lệnh cho Nhạc Phi xuất quân, nhưng lại hạn chế ràng buộc chỉ được phép thu phục 6 quận Tương Dương, không cho phép đánh tiến lên phía Bắc. Nhạc Phi cứ thế Bắc tiến, mạnh mẽ tiến công đến Đặng Châu (nay thuộc Nam Dương tỉnh Hà Nam), Tương Châu[5], Dĩnh Châu[6], Tuỳ Châu[7], Đường Châu[8], phủ Tín Dương[9].


 


Năm 1136, quân Tống dưới sự chủ trì của đại tướng Trương Tuấn phái chủ chiến, Nhạc Phi, Hàn Thế Trung... cùng các lộ cất quân Bắc phạt. Nhạc Phi xuất quân ở trấn Tương Dương, dương Đông kích Tây, lệnh cho thuộc tướng là Ngưu Cao giả vờ tiến quân, còn mình thì dẫn quân chủ lực tấn công phía Tây Bắc, năm trận đánh thắng cả năm, thu phục rất nhanh Y Dương, Lạc Dương, Thương Châu, Quắc Châu, tiến vào một dãy bờ phía nam sông Hoàng Hà, thu phục cả một vùng đất rộng lớn về cho nhà Nam Tống. Nhân dân khắp nơi nô nức đón chào Nhạc Phi và quân đội, hàng trăm đám nghĩa quân lớn nhỏ đùn đùn xin đến hưởng ứng. Trong tình thế hết sức thuận lợi này, phái chủ hoà và phái đầu hàng của tập đoàn thống trị Nam Tống mà đứng đầu Tống Cao Tông và Tần Cối lại tỏ ra sợ hãi nên cho triệu hồi các lộ quân Bắc phạt.


 


Năm 1138 nước Kim chủ động nêu ra việc trả lại nhà Nam Tống đất Thiểm Tây, Hà Nam vốn do Lưu Dự chiếm giữ. Trước khi nghị hòa Hoàn Nhan Xương đã tước đế hiệu của Lưu Dự xuống làm Thục vương. Một năm sau khi trả lại đất, nước Kim nổ ra đảo chính, Hoàn Nhan Tông thuộc phái chủ chiến đã giết Hoàn Nhan Xương và tái chiếm Thiểm Tây, Hà Nam. Nước Kim liên tục gây sức ép quân sự tấn công xuống phía nam. Do mua chuộc được Tần Cối, bày mưu cho Tần Cối hãm hại Nhạc Phi và Hàn Thế Trung, Ngột Truật đã dễ dàng đập tan sự kháng cự của Nam Tống, biến Nam Tống thành chư hầu nhược tiểu của nước Kim.


 


Năm 1140 quân Kim lại ồ ạt xâm chiếm xuống phía Nam, công phá vây hãm Củng, Bột, tướng Lưu Kỳ phải cấp báo, Nhạc Phi lại phụng mệnh tiếp viện. Nhạc Phi lệnh cho Lương Hưng thống lĩnh quân kỵ lén vượt Hoang Hà quấy phá hậu phương quân Kim, còn mình thì dẫn quân chủ lực trực chỉ Trung Nguyên, liên tiếp thu phục Yển Thành ( nay thuộc tỉnh Hà Nam ), Trịnh Châu, Lạc Dương... Nhạc Phi đã đại phá đội kỵ binh tinh nhuệ của Ngột Truật tại Yển Thành, lại đánh bại quân chủ lực của Kim ở Chu Tiên trấn ( nằm ở phía tây nam huyện Khai Phong tỉnh Hà Nam ). Ngột Truật cho quân rút về Khai Phong không dám nghênh chiến, quân Tống khí thế hừng hực. Quân Tống đã đoạt được mấy thành Thuận Xương, Ngạc Châu Chánh Dương, đuổi quân Kim thối lui chỉ còn cách thành Biện Lương không đầy mười tám dặm, sắp khôi phục được Kinh đô của Bắc Tống.


 


Nhưng một lần nữa triều đình Nam Tống lại đem thắng lợi của Nhạc Phi làm vốn xin hoà với người Kim, trong một ngày liên tiếp cho phát đi 12 lệnh kim bài triệu hồi Nhạc Phi. Trước đó, Tần Cối đã bí mật lệnh cho các tướng lĩnh rút lui, để lại một mình Nhạc Phi cùng quân của ông thâm nhập trận địa. Nhạc Phi bị ép vào thế khó đã ngửa mặt than: "Công lao 10 năm, đã bị phá hỏng trong một buổi!"


 


Người Kim vốn hận Nhạc Phi đến tận xương tuỷ, đã cấu kết với Tần Cối, bắt triều đình nhà Tống phải giết hại Nhạc Phi để làm điều kiện hoà nghị. Tống Cao Tông đã điều Nhạc Phi đi làm Khu mật phó sứ để tước bỏ hết binh quyền của ông.Ngày 25 tháng 12 năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), Nhạc Phi và con trai của mình, Nhạc Vân, bị gian thần Tần Cối thuốc chết tại đình Phong Ba thuộc Đại lý tự Lâm An. Sau khi Nhạc Phi chết thì nội bộ quân Nam Tống mâu thuẫn, các chỉ huy khác không theo điều động của Trương Tuấn nên cuộc bắc tiến đã không thành công.


 


Các tướng chủ chiến như Hàn Thế Trung, Ngô Giới, Lưu Kỳ, Trương Tuấn bị tước binh quyền. Hàn Thế Trung bỏ quan, mang rượu cưỡi lừa đi ngao du ở Tây Hồ để khuây khỏa. Tần Cối làm tể tướng trong suốt 17 năm ra sức bài trừ những ai bất đồng chính kiến, giáng chức và đuổi hết quan lại có tư tưởng kháng Kim, áp chế dư luận đánh Kim.


Các Hòa ước Thiệu Hưng, Long Hưng, Khai Hy


 


Năm 1141 triều đình Nam Tống đã ký hòa ước Thiệu Hưng với Kim, cắt nhượng toàn bộ đất đai phía bắc sông Hoài đến Đại tán quan (Thiểm Tây) cho Kim, và ép buộc Nhạc Phi tự tử. Hàng năm số bạc cống nộp lên đến 25 vạn lạng bạc và 25 vạn tấm lụa, Nam Tống cắt các châu Đường Đặng, Thương, Tứ và đất Hòa thượng nguyên. Phương sơn nguyên cho Kim. Nước Kim cho chở quan tài của Huy Tôn và Thái Hậu về Tống. Năm sau danh tướng Nhạc Phi của Tống bị triều đình xử tử. Sau khi Nhạc Phi chết thì nội bộ quân Nam Tống mâu thuẫn, nên cuộc bắc tiến đã không thành công.


Năm 1160, Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng quyết tâm thực hiện ý đồ thôn tính Nam Tống, ước hẹn với các nước chư hầu, người Khiết Đan, người Hề... hợp binh tại Hà Lạc - Quan Trung, huy động tổng cộng 60 vạn quân trong đó có 15 vạn quân người Hán (3 vạn thủy quân). Sau đó chia làm ba đường ào ạt tiến quân, thế như thác đổ. Hoàn Nhan Lượng tiến quân từ Thọ Xuân đến Hoài Nam, Lưu Ngạc đem quân từ Thái châu đến Kinh Tương. Mục tiêu quan trọng nhất chính là Tương Dương thành. Nếu chiếm được Tương Dương thì việc thôn tính Nam Tống chỉ như trở bàn tay. Đạo quân chủ lực của Kim do thống chế Lưu Ngạc thống lĩnh, từ Khai Phong tiến xuống Tế Châu. Đạo binh tiên phong trực chỉ Hán Thủy công phá Phàn Thành.


 


Năm 1161 quân Kim tràn xuống phía nam, lúc bấy giờ quân Tống đóng ở Thái Thạch thì chủ tướng Vương Quyền bị bãi chức, triều đình cho văn thần Ngu Doãn Văn (1110 - 1174) người Tứ xuyên, An phủ phó sứ Thông châu đến úy lạo khao quân. Ngu Doãn Văn đã mạnh dạn giữ vai trò chỉ huy, tổ chức gần 2 vạn quân đội bố phòng trên sông. Thủy quân hai nước giao chiến tại trận Thái thạch (gần Dương đồ, An huy) trên Trường giang, quân Tống có lợi thế với các chiến thuyền có vận tốc nhanh hơn (sử dụng nhiều bánh guồng), dùng xa thuyền chặn đứng thuyền quân Kim ở giữa sông, tấn công quân Kim bằng các phích lịch pháo (máy bắn đá) và thuốc súng dẫn nổ bắn cháy thuyền quân Kim làm quân Kim thua trận. Tại các mặt trận khác cánh quân phía tây đánh vào Xuyên Thiểm, cánh quân trung lộ đánh vào Kinh Tương đều bị quân Tống đẩy lui. Quân Kim phải tập trung lại tại Trần Gia đảo huyện Giao Tây (Mật châu) có kế hoạch đánh vào thủy quân Tống ở gần Lâm an. Hạ tuần tháng 10 hai bên giao chiến tiếp trong trận Đặng đào gần bán đảo Sơn đông, quân Kim huy động lực lượng 600 tàu và 70.000 quân, trong khi đó quân Tống chỉ có 120 tàu và 3000 quân do tướng Lý Bảo chỉ huy. Ưu thế thuộc về quân Kim, nhưng quân Tống lại giành thắng lợi bắn cháy các tàu của Kim, gây tổn thất nặng cho quân Kim. Hoàn Nhan Lượng buộc phải men theo bờ bắc Trường giang đến hạ tuần tháng 11 thì hạ lệnh cho quân vượt sông tại Qua châu (Giang Tô) đánh một trận quyết định. Nhưng hậu phương của Kim bị rối loạn. Người Khiết đan, nông dân Hán tộc ở hậu phương nước Kim, do không chịu nổi sự đàn áp khắt khe của người Kim, nổi dậy phản kháng. Khi mối mâu thuẫn nội bộ của người Kim bùng nổ, Hoàn Nhan Lượng bị Binh mã đô thống chế đạo Chiết Tây là Hoàn Nhan Nguyên giết chết ngoài mặt trận vào tháng 11 năm 1161, quân Kim buộc phải rút lui trở về bắc.


 


Nhân cơ hội đó Tống Hiếu tông phái quân đánh Kim nhưng quân Tống bị đại bại ở Phù Ly[10] phải đưa người của phe chủ hòa là Thang tư Thoái lên làm tể tướng tiến hành hòa đàm với Kim. Năm 1165 hai bên định lại hoà ước, ký kết hòa ước Long Hưng gọi vua Kim bằng chú, số tiền hằng năm tế tuệ phải nộp được giảm, bạc, lụa mỗi thứ 50 vạn chỉ còn 20 vạn, Tống cắt thêm 2 châu Thương châu[11] và Tần châu[12]. Lần này Tống không thắng nhưng Kim cũng nhường một chút. Triều đình đã chán ngán không còn muốn tiếp tục chiến tranh. Hai nước có thời gian hòa bình trong 40 năm.


 


Năm 1203, Hàn Thác Trụ chủ trương bắc phạt đã tích cực chuẩn bị lực lượng, đến năm 1206, Hàn Thác Trụ thấy nước Kim có nội loạn cho đem quân đánh. Quân Tống có 16 vạn còn quân Kim có 13,5 vạn giao chiến trên sông Hoài. Cánh quân phía đông tấn công Túc châuTúc châu, An Huy thất bại, chủ tướng bị bắt. Cánh quân phía tây đánh Đường châu[13] cũng thất bại. Quân Kim vượt sông Hoài giằng co với quân Tống. Lúc này Hàn Thác Trụ mới tỏ ý hòa đàm nhưng nước Kim ra điều kiện phải giết Hàn Thác Trụ nên hòa đàm thất bại. Nhà Nam Tống nóng lòng muốn hòa đàm nên sai một viên quan Tống là Lễ bộ thị lang Sử Di Viễn giết Hàn Thác Trụ, gửi thủ cấp đến nước Kim, sau đó hai bên ký hòa ước Khai Hy, gọi vua Kim bằng bác, tăng tuế tuệ lên 30 vạn lạng bạc, 30 vạn tấm lụa. Nhưng không lâu sau đó Kim bị Mông Cổ tấn công, phải dời kinh đô xuống Khai phong.


 


Phân chia hành chính


Dời đô đến Yên kinh


Sau khi chiếm toàn bộ miền bắc Trung Quốc nhà Kim trở nên bị Hán hóa nhiều hơn, chuyển kinh đô từ phủ Hội Ninh (会宁) ở miền bắc Mãn Châu (phía nam của Cáp Nhĩ Tân thuộc tỉnh Hắc Long Giang ngày nay) về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) nhằm tăng cường khả năng cai trị. Năm 1153 Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng đã quyết định dời đô về Yên Kinh, đổi tên thành Trung Đô, đây là một quyết định sáng suốt của triều đình nhà Kim, củng cố sự vững mạnh của vương triều.


Nhà Kim phân chia quốc gia của họ thành ba cấp là lộ, phủ (châu), huyệntrong đó lộ là cấp hành chính lớn nhấttổng cộng có 19 lộ. Thượng Kinh, Đông Kinh, Bắc Kinh, Tây Kinh, Trung Đô, Nam Kinh, Hà Bắc đông, Hà Bắc tây, Sơn Đông đông, Sơn Đông tây, Đại Danh phủ, Hà Đông bắc, Hà Đông nam, Kinh Triệu phủ, Phượng Tường, Phu Duyên, Khánh Nguyên, Lâm Thao, Hàm Bình.


 


Các kinh đô của nhà Kim: Thượng Kinh (Hội Ninh phủ, A thành, Hắc long giang), Trung đô (Đại Danh phủ, Bắc kinh ngày nay), Bắc kinh (Đại định, Ninh thành, Liêu ninh) Tây Kinh (Đại Đồng, Sơn Tây), Nam Kinh (Khai phong phủ, Hà Nam), Đông Kinh (Liêu Dương, Liêu Ninh). Tại các kinh đô đều có chức quan Lưu thủ nắm quyền quân chính và dân chính.


Trong thời gian 120 năm, 9 vị vua Kim cai trị miền bắc, lãnh thổ nhà Kim khá rộng lớn, phía bắc đến dãy Hưng an, phía nam đến sông Hoài, phía đông đến Hoàng hải, phía tây đến Thiểm Tây.


 


Chế độ kế ngôi.


Lúc đầu tổ chức bộ máy của nhà Kim vẫn mang dấu ấn của xã hội thị tộc, sau khi Kim Thái tổ A cốt đả chết, người em trai là Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi lên ngôi tức vị Kim Thái tông. Đến khi Kim Thái tông chết, người cháu nội của Kim Thái tổ là Hoàn Nhan Hợp lạt lên ngôi tức vị Kim Hy tông. Sau này người nối ngôi Kim Thế tông lại là người cháu, tức vị Kim Chương tông.


Phát triển kinh tế xã hội


Người Nữ Chân sử dụng văn tự Nữ Chân do Hoàn Nhan Xiyin soạn thảo vào năm 1119 dựa trên cơ sở chữ viết Hán và Liêu và được chính thức ban hành năm 1145. Văn tự Khiết đan không còn được chính thức sử dụng từ năm 1191. Hệ thống ký tự của người Nữ Chân có 720 ký tự trong đó gồm cả chữ tượng hình và tượng thanh. Nhà Kim đóng vai trò quan trọng trong phát triển văn hóa, kế thừa văn hóa của Tống triều và kiến trúc của người Khiết Đan.


Kim Hy tông cho áp dụng một số phong tục Hán và sáng tác thơ văn bằng chữ Hán. Mặc dù lệnh cấm người Nữ Chân lấy người Hán mãi đến năm 1191 mới bị bãi bỏ nhưng trước đó nhiều người Nữ Chân đã thực hiện việc này rồi.


Lúc đầu người nông dân phải nộp thuế theo số cừu. Sau đó khi chấp nhận hệ thống thuế của Bắc Tống về đánh thuế hai lần, người nông dân phải nộp thuế vào hai vụ hè và thu, số thuế được tính theo diện tích đất. Việc cho thuê đất đã trở thành thông dụng trong thời Kim Thế tông. Nhà nước đã thu được kinh nghiệm của các triều đại trước như Đường, Tống để tránh cho người dân bán đất của họ và các địa chủ gian lận thuế. Nhà Kim nhiều lần thực hiện cải cách để phân chia lại đất đai và tài sản công cộng, hạn chế diện tích đất các tướng lĩnh Nữ Chân chiếm giữ. Nông nghiệp là nguồn lực quan trọng và cơ sở để tính thuế. Tuy nhiên chăn nuôi du mục vẫn là hoạt động quan trọng của nông dân Nữ Chân.


Hoàn Nhan Lượng kế thừa chế độ giao đất theo đầu người của thời Hy tông, mở rộng việc thuê đất, chú trọng xây dựng thủy lợi, nông nghiệp, khai khoáng, đúc tiền làm sản xuất ngày càng phát triển.


Nước Kim hồi đó nông nghiệp rất phát triển, khi cực thịnh, diện tích canh tác lớn hơn cả nước Tống. Nhân khẩu nông nghiệp bột phát gia tăng, từ 3 triệu hộ ban đầu, phát triển lên 7,6 triệu hộ, dân số 45 triệu người, vượt dân số Bắc Tống thời Tống Chân Tông. Thành Khai phong có dân số đông tới 147 vạn người.


Dân số tăng lên nhanh chóng, vào thời Kim Chương tông, thống kê dân số là 760 vạn hộ (gần bằng số hộ thời Tùy Văn đế), khoảng 44,7 triệu người song đến năm 1234 thống kê chỉ còn 170 vạn hộ (giảm 590 vạn hộ trong vòng 30 năm) khoảng 10 triệu người, điều đó cho thấy mức độ tàn khốc của cuộc chiến tranh với người Mông cổ.


Thương mại cũng là nguồn thuế khác, gần như tất cả các mặt hàng phải nộp thuế, lúc đầu đánh thuế gia tăng 3% sau đó còn tăng lên nữa. Trung đô có 3 chợ lớn bán đủ các mặt hàng trong cả nước sản xuất. Các con kênh được sử dụng làm đường giao thông quan trọng, Kim Thế tông đã cải tạo lại một số con kênh cũ nối đến Trung đô. Với quốc gia láng giềng Nam Tống, các thương nhân giao thương qua các chợ đường biên. Các loại hàng nhập khẩu có giá trị từ Nam Tống là chè và tiền kim loại, còn ngựa thì từ Tây Hạ. Các ngành sản xuất gang thép là công nghiệp quan trọng của nhà Kim và người dân được khuyến khích khai quặng sắt, vàng và đồng nhưng không được dùng các đồ đó. Nhà nước độc quyền trong luyện gang thép, tất cả các sản phẩm nổi tiếng lúc đó được làm từ gang xanh. Sau đó thuế khai mỏ được áp đặt vào các họat động của ngành này.


Thời kỳ đầu triều Kim, vẫn còn sử dụng các loại tiền cũ của Tống và Liêu, nhưng sau năm 1150 đã phát hành tiền giấy và bắt đầu đúc các loại tiền Chính long và Đại định. Kim Thế Tông tự viết mẫu tự đồng tiền “Đại Định” năm 1161, đó là đồng tiền rất đẹp. Từ năm 1197 tiền bạc Thừa an được sử dụng. Năm 1198 thời Chương tông thực hiện cải cách tiền tệ đó là dùng đồng bạc làm đơn vị tiền tệ, đánh dấu một bước mới trong lịch sử, có ảnh hưởng sâu rộng về sau.


Công nghệ in ấn được cải tiến hơn trong thời kỳ này, qua việc in các bản kinh Phật.


Trong thời gian chiến tranh với Tống, các loại vũ khí như súng (chấn thiên lôi) được sử dụng và đạt đến trình độ cao trong nghệ thuật quân sự.


Nhà Kim cho xây cất thêm một đoạn thành lũy dài 1,500 cây số đi từ lưu vực sông Hoàng Hà đến sông Tùng Hoa (Hắc Long Giang). Một công trình xây dựng nổi tiếng trong thời gian Kim Thế tông cai trị còn tồn tại đến ngày nay là Lư cầu kiều, gần Bắc kinh. Cây cầu này xây dựng trong vòng 3 năm (1189 – 1192) có chiều dài 265,5 mét (874 feet) và rộng 9,3 m (30,5 feet), được đỡ bằng 281 cột. Tại mỗi cột có chạm khắc 1 con sư tử đá.


(còn tiếp)


Wikipedia


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những điều nên biết về Chiến tranh thế giới II - Nhiều tác giả 22.06.2017
Ngày 22/06/1944: F.D. Roosevelt ký Đạo luật G.I. - Tư liệu sưu tầm 22.06.2017
Stonehenge - Bãi đá cổ ở Anh Quốc - Tư liệu 20.06.2017
Tam cương, Ngũ thường - Tư liệu sưu tầm 20.06.2017
Ông Vũ Khoan viết về cố Thứ trưởng Trần Quang Cơ - Vũ Khoan 20.06.2017
Thời kỳ vàng son mới của Ba Lan - Gunter Verheugen 20.06.2017
Tập Cận Bình muốn gì? - Graham Allison 20.06.2017
Helmut Kohl viết về sự kiện sụp đổ Bức tường Berlin - Helmut Kohl 19.06.2017
Đặng Tiểu Bình giúp tạo nên một Trung Quốc tham nhũng như thế nào? - Tư liệu 18.06.2017
Con ác quỷ IS và số phận của Assad - Nhiều tác giả 16.06.2017
xem thêm »