tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21075955
14.07.2012
Tư liệu
Nghi án loạn luân đầy bí ẩn của triều Nguyễn

Nguyễn Phúc Cảnh (Hoàng tử Cảnh) là con trưởng của vua Gia Long. Sau khi ông mất thì người được vua Gia Long chọn nối ngôi không phải là Mỹ Đường, con trai của hoàng tử Cảnh, mà là hoàng tử Đảm, tức vua Minh Mạng, em trai của hoàng tử Cảnh.


Tuy nhiên, 5 năm sau khi Nguyễn Phúc Cảnh mất, vợ cùng con trai ông đã bị kết án thông dâm với nhau và bị xử dìm chết…


 


Cuộc đời đầy vất vả của hoàng tử Cảnh


Hoàng tử Cảnh tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Cảnh sinh năm Canh Tý (1780) ở Gia Định. Mẹ của hoàng tử Cảnh là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, con quan Chưởng Doanh Tống Phúc Khuông.


Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu sinh được 2 con trai: hoàng tử Chiêu và hoàng tử Cảnh. Không may là hoàng tử Chiêu mất từ khi còn nhỏ tuổi. Vào tháng 11 năm Giáp Thìn (1784), hoàng tử Cảnh lên 4 tuổi, vâng lệnh cha, theo cha Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện.


Hành trình sang phương Tây của vị hoàng tử trẻ tuổi khi đó đã được ghi lại trong sử sách. Đó là vào tháng 2 Xuân Ất Tỵ (1785), hoàng tử Cảnh đến một vùng thuộc địa của Pháp ở Ấn độ nhưng phải tạm chờ ở đây vì ở Pháp lúc đó đang có biến.


Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1786) thì bắt đầu sang Pháp bằng thuyền và tháng 2 năm Đinh Mùi (1787) đến Paris. Do hoàng tử Cảnh không thạo tiếng Pháp nên được xếp cho ở cùng với Bá Đa Lộc ở Hội Truyền giáo nước ngoài.


Vào ngày 5/5/1787, hoàng tử Cảnh vào triều kiến ở Versailles. Chuyện kể rằng hoàng tử Cảnh rất khôi ngô, tuấn tú nên được triều đình Pháp chú ý.


Giám mục đã thuê Léonard (người hầu chải đầu cho Hoàng Hậu Marie Antoinette) sửa tóc cho hoàng tử, bỏ khăn nhiễu thay bằng khăn lĩnh đỏ thắt múi.


Rồi triều đình Pháp lại may cho hoàng tử một bộ y phục kiểu Pháp pha Á Đông, bỏ áo dài, quần lụa và thuê họa sĩ Maupérin vẽ chân dung Hoàng tử Cảnh trong trang phục đó.


Bức tranh này được trưng bầy ở Hàn lâm viện Hội họa và Điêu khắc năm 1791, sau do Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris giữ. Trong thời gian hoàng tử Cảnh ở Pháp, còn có một bài thơ được làm để chào đón hoàng tử Cảnh và được đọc trong bữa tiệc ở Versailles:


 


“Ta hãy bắt đầu bằng hài đồng nổi tiếng


Mà số phận đáng cho ta lưu ý


Sinh ra để đội mũ miện


Nay lại ngồi chung với chúng ta.


Hoàng tử bé bỏng ơi, hãy vui lên


Một ngày kia Hoàng tử sẽ lên ngôi”


 


Ngày 28/11/1787, cha Bá Đa Lộc và bá tước de Montmorin, ngoại trưởng Pháp, đã ký Hiệp ước Versailles với nội dung: Pháp sẽ ủng hộ quân sự cho vua Gia Long chống Tây Sơn với điều kiện Nguyễn Ánh nhường cho Pháp một số vùng đất và cho Pháp giữ độc quyền thương mại.


Đến tháng 12 năm 1787, hoàng tử Cảnh của Bá Đa Lộc lên đường về Việt Nam. Đến ngày 24/6/1789 thì cả 2 người về tới Nam kỳ.


Sau khi cùng Bá Đa Lộc về nước, tháng 3 năm Giáp Dần (1794), hoàng tử Cảnh lên 14 tuổi, được lập làm Đông Cung Thái Tử, phong chức Nguyên Súy Quận Công.


Hoàng tử Cảnh được ban Đông Cung Chi Ấn, dựng phủ Nguyên Súy, đặt văn võ đại thần, việc nhỏ do các đại thần phân xử, việc lớn bẩm súy phủ quyết định.


Sử sách chép lại rằng, hoàng tử Cảnh thiên tư sáng suốt, hiếu học và ưa lời nói thẳng. Vậy nên vua Gia Long cũng rất chăm lo đến việc giáo dục Ðông Cung.


Ngoài sư phó Bá Đa Lộc, ngay sau khi hoàng tử Cảnh chính vị Đông Cung, vua đã cho dựng nhà Thái học, đặt Ngô Tòng Chu vào chức phụ đạo, lại có 2 thị giảng, 8 hàn lâm viện thị học.


Trong số này có Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định là những người nổi tiếng giỏi giang. Cả hai cùng với 6 Quốc tử giám thị học, ngày 2 buổi giảng bàn kinh sử với hoàng tử Cảnh.


Hoàng tử Cảnh nói gì, làm gì, thị học đều phải ghi chép, mỗi tháng một lần dâng lên vua xem. Tháng 10 năm Ất Mão (1795), vua Gia Long lại sai Phó tướng Tả quân Phạm văn Nhân làm Phụ đạo.


Tháng 4 năm Mậu Ngọ (1798), vua Gia Long tiếp tục sai Ngô Tòng Chu cùng Lễ bộ kiêm Đốc học Nguyễn Thái Nguyên Phụ đạo Đông Cung. Đến tháng 4 năm Canh Thân (1800), lấy hàng thần là Nguyễn Gia Cát, Tiến sĩ nhà Lê, làm Đốc học hầu Đông Cung.


Tuy nhiên, do từ nhỏ, hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc sang Pháp. Rồi hoàng tử ăn ở chung sống với Bá Đa Lộc, được dạy dỗ theo đạo Thiên Chúa nên tỏ ra rất quyến luyến Bá Đa Lộc và rất mộ đạo.


Khi vua Gia Long nghe các quan can gián về việc không nên để hoàng tử Cảnh quá gần gũi với Bá Đa Lộc đã quyết định cho Hoàng tử ra ở riêng ở Đông Cung thì Bá Đa Lộc vẫn kín đáo đến thăm.


Không những thế, Bá Đa Lộc cũng thường chọn ngày quân hầu là người có đạo để dễ xem lễ. Bản thân hoàng tử Cảnh cũng rất mộ đạo.


Hoàng tử thường tỏ ra phiền muộn vì chưa được chịu phép rửa tội, xin Bá Đa Lộc dậy phép rửa tội, phòng khi bệnh nặng mà bên mình không ai có đạo thì chỉ cách để người ta rửa tội cho mình.


Sách sử còn chép rằng khi ở Pháp về Hoàng tử Cảnh không chịu bái yết Tôn Miếu, nhờ Cao Hoàng Hậu khéo dậy, sau mới đổi tính. Hay như trong cuốn “Đại Nam Việt Quốc triều Sử ký” có viết: “Sau khi Đức Thầy (Bá Đa Lộc) qua đời thì tính nết ông Đông Cung khác lắm.


Vì ông ấy buông mình theo tính xác thịt, đắm mê tửu sắc, chẳng còn tưởng nhớ gì đến sự đạo nữa. Song khi thấy mình đau nặng gần chết thì mới nhớ đến Ðức Chúa Trời, cùng ra sức giục lòng ăn năn tội, và xin quan nhỏ kia có đạo làm phép rửa tội cho mình kín đáo không ai biết”.


Hoàng tử Cảnh thể hiện mình là người rất tôn trọng đạo đức, đôi khi hơi câu chấp. Khi thầy học Ngô Tòng Chu giảng một thiên Nhạc ký, hoàng tử Cảnh bình rằng: “Người đời xưa làm nhạc để cảm động đến Trời Đất, quỷ thần. Nay cúng tế ở Miếu, theo tục dùng bọn nữ nhạc, chèo hát, rất là vô vị”.


Tính cách của hoàng tử Cảnh được nhận xét là biết phải trái, chỉ vì còn trẻ nên đôi khi hơi câu nệ. Một phần nữa cũng là vì hoàng tử Cảnh còn thiếu kinh nghiệm sống nên thường đặt hết lòng tin vào các sư phó, phụ đạo của mình.


Nên khi các sư phó và phụ đạo sai thì hoàng tử cũng sai theo. Chuyện kể lại rằng khi đó ở đất Gia Định, rất nhiều người dân theo đạo Phật. Vì vậy, có nhiều người muốn trốn sai dịch bèn tìm cách vào chùa để ở.


Trong khi đó, có một nhà sư tên Cao phạm tội và vua Gia Long muốn xử chết. Vua Gia Long đã truyền lệnh các sư tăng dưới 50 tuổi vẫn phải chịu sai dịch như người thường.


Nghe lệnh của nhà vua, nhiều quan lại trong triều đình có ý muốn ngăn cản nên vua Gia Long cũng đang chần chừ chưa quyết định. Lúc bấy giờ Ngô Tòng Chu, thầy học của hoàng tử Cảnh vì trọng đạo Nho nên đã nói với hoàng tử Cảnh rằng việc vua Gia Long bài trừ đạo Phật như thế là rất tốt.


Hoàng tử Cảnh nghe theo, dâng sớ chỉ trích những điều không tốt của nhà sư. Cũng từ bản sớ này của hoàng tử Cảnh mà vua Gia Long đã quyết tâm đưa ra mệnh lệnh những nhà sư dưới 50 tuổi vẫn phải đi sai dịch. Đây được xem là một hành xử thiếu hiểu biết thực tế của hoàng tử Cảnh.


 


Và nghi án thông dâm giữa vợ và con hoàng tử Cảnh


Hoàng tử Cảnh kết duyên với Tống thị Quyên, sinh được 2 con trai là Mỹ Đường (còn có tên khác là Đán) và Mỹ Thùy (còn tên khác là Cảnh). Mùa Xuân năm Tân Dậu (1801), hoàng tử Cảnh bị bệnh đậu mùa.


Ông mất vào ngày 7 tháng 2 năm Tân Dậu (tức 20 tháng 3 năm 1801) hưởng dương 21 tuổi. Ngày Hoàng tử Cảnh mất, chúa Nguyễn Phúc Ánh đang ở ngoài mặt trận nên không thể dự đám tang của con được. Nguyễn Phúc Cảnh được an táng tại Bình Dương, Gia Định.


Năm Ất Sửu (1805), hoàng tử Cảnh được truy phong là “Anh Duệ Hoàng thái tử”. Một nhà nghiên cứu lịch sử đã nhận định về cuộc đời của hoàng tử Cảnh rằng: “Mới 3 tuổi đầu đã phải bị đưa làm con tin, lênh đênh khắp chân trời góc biển, đó là một bạc phước.


Ở ngôi Đông cung chưa được bao lâu, tuổi thanh xuân đang bừng sức sống mà bỗng dưng mắc bệnh đậu mùa rồi mất, đó là 2 lần bạc phước.


Hành trạng của Hoàng tử Cảnh đúng sai thế nào, hậu thế sẽ bàn sau, nhưng xét phận riêng đắng cay chìm nổi như thế, kể cũng là đáng thương lắm thay”.


Sau khi hoàng tử Cảnh mất, hoàng tử Đảm được chọn để nối ngôi và trở thành vua Minh Mạng sau này.


Về việc vua Gia Long chọn hoàng tử Đảm nối ngôi chứ không chọn hoàng tôn Đán được Đại Nam chính biên liệt truyện viết: Trước đây, thấy vua (Gia Long) ở ngôi mà tuổi đã cao, các quan liền xin lập ngôi trừ vị; trong số đó có người đề nghị thẳng là nên lập Hoàng tôn Đán nhưng vua không nghe.


Sau, Gia Long lập Nguyễn Phúc Đảm (tức vua Minh Mạng), em cùng cha khác mẹ với Hoàng tử Cảnh, làm người nối ngôi”.


Thái độ cương quyết của vua Gia Long trong việc chọn hoàng tử Đảm còn được thể hiện qua lời nói của ông: “Khi người ta chết đi mà còn để lại món nợ trên đời, thì chủ nợ chỉ tìm con, chứ đâu đòi cháu. Việc này ý ta đã quyết, các ngươi chẳng nên bàn tính thêm”. Lí giải về việc vua Gia Long quyết chọn hoàng tử Đảm thay vì hoàng tôn Đán, một số sử gia cho rằng, do thái tử Cảnh và hoàng tôn Đán chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Gia Tô từ Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long không chọn cháu đích tôn của mình làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình.


Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Gia Tô và không có cảm tình với người Pháp, tư tưởng này giống với Gia Long. Ngoài ra, hoàng tử Đảm cũng nổi tiếng là người thông minh, cương nghị, hội tụ đầy đủ những tố chất để có thể đảm đương việc nước.


Vậy nên, từ năm 1815, hoàng tử Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hoà để quen với việc trị nước. Sau khi vua Gia Long mất, hoàng tử Đảm nối ngôi, lấy hiệu là Minh Mạng.


Đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824) có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ là Tống Thị Quyên.


Vua Minh Mạng đã rất giận dữ, lệnh: “Hành vi của chúng còn hơn chó lợn. Mụ đàn bà lăng loàn ấy, đáng phải bị dìm chết. Ngươi hãy thi hành ngay lệnh của ta. Còn Mỹ Đường, ta nể tình anh trai mà tha cho nó, nhưng từ nay, ta không muốn nhìn thấy nó nữa”.


Theo một số tài liệu khác thì để thực thi lệnh của nhà vua, Hoàng thái phi Tống Thị Quyên bị mấy tên lính canh áp giải dẫn đi trong bộ dạng tóc tai rũ rượi.


Bà bị giam trong phòng riêng, không bị xiềng xích, được ăn uống đầy đủ, có giường nệm tử tế, có nước tắm rửa và bô để đi đại tiểu tiện. Thế nhưng, bà hết sức đau khổ vì bị buộc tội thông dâm với con ruột.


Bà không được bày tỏ kêu oan, mà chỉ có mỗi một việc phải thừa nhận tội lỗi của mình, để rồi sau đó, bị “xử” dìm nước cho chết.


Sau khi bị kết tội thông dâm với mẹ đẻ, Mỹ Đường bị gạch tên trong sổ hoàng tộc, bị giáng làm thứ dân, con cháu chỉ được ghi chép phụ phía sau sổ tôn thất.


Một năm sau, Mỹ Đường đi thăm con, lại bị vu là bỏ trốn và tâu vua, ông lại bị bắt và canh giữ, sau mới được tha. Sau khi Mỹ Đường bị tội, dòng hoàng tử Cảnh chỉ còn người con thứ là Mỹ Thùy được giữ tước hiệu hoàng tộc để hương khói cho cha.


Được 2 năm, Mỹ Thùy qua đời mà không có con nên con trai của Mỹ Đường là Nguyễn Phúc Lệ Chung được phục hồi hoàng tịch để thờ cúng hoàng tử Cảnh.


Thế nhưng 10 năm sau, vào năm 1836, dường như lo sợ dòng trưởng (tức chi tộc hoàng tử Cảnh) sẽ phát triển qua Lệ Chung nên Minh Mạng lại giáng tất cả con trai, con gái của ông ta xuống làm thứ dân.


Trừ một người lo hương khói là Lệ Chung, còn toàn bộ con cháu của hoàng tử Cảnh đều phải an phận dân thường.


Đến năm 1847, Tự Đức, cháu nội của Minh Mạng, lên ngôi thì bố vợ của vua Tự Đức là Đông Các đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn dâng sớ kể công lao của hoàng tử Cảnh xin cho phép ghi tên con cháu Mỹ Đường vào tôn phả và trợ cấp cho Mỹ Đường.


Tuy nhiên, yêu cầu này của Vũ Xuân Cẩn bị vua Tự Đức hẹn xét lại sau. Đến năm 1848, khi án này chưa được xét lại thì Mỹ Đường đã bị chết trong nghèo khó.


Cùng trong năm đó kinh thành có dịch bệnh, Tự Đức nghĩ có oan khuất gì đó nên trời mới giáng họa. Cũng nhân cơ hội này, một nhóm quan lại 30 người cùng dâng sớ nhắc lại việc cho phép con cháu Mỹ Đường trở lại hoàng tộc.


Vua Tự Đức chấp nhận, do vậy hậu duệ của hoàng tử Cảnh mới được trở lại dòng dõi hoàng tộc. Trong số hậu duệ của hoàng tử Cảnh có một nhân vật khá nổi tiếng, đó là Kỳ Ngoại hầu Cường Để, là cháu 6 đời của vua Gia Long, người từng tham gia phong trào Đông du với Phan Bội Châu.


Về nghi án thông dâm đầy kì lạ, có một không hai trong lịch sử triều Nguyễn này, Đại Nam chính biên liệt truyện đã ghi lại rằng: “Năm Minh Mạng thứ năm (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị.


Tống thị vì thế bị Lê Văn Duyệt dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất.


Năm Minh Mạng thứ bảy (1826), Mỹ Thùy lại bị quân lính ở đạo Dực Chẩn kiện, sắp bị đưa cho đình thần nghị tội thì Mỹ Thùy bị bệnh mà mất, lúc ấy chưa có con cái gì.


Vua cho lấy con trưởng của Mỹ Đường là Lệ Chung, tập phong làm Ứng Hòa Hầu để lo việc phụng thờ Anh Duệ Hoàng thái tử (tức Hoàng tử Cảnh)...


Đến năm thứ tám (1827), đổi phong (Lệ Chung) làm Thái Bình Hầu... Năm Minh Mạng thứ mười bảy (1836), vì sợ con cái của Lệ Chung nhờ cha mà hưởng phúc ấm, nên triều thần lại tiếp tục nghị tội, buộc con trai con gái của Lệ Chung là Lệ Ngân, Thị Văn, Thị Dao đều phải giáng làm thứ nhân.


Mãi đến năm Tự Đức thứ hai (1848), khi Mỹ Đường bị bệnh mất, dòng dõi của Hoàng tử Cảnh mới tạm yên ở phận dân thường”.


Có một câu chuyện dân gian lưu truyền rằng, vợ của hoàng tử Cảnh là Tống Thị Quyên – người bị mắc vào cái án thông dâm với con ruột đã từng mộng trước được điều này.


Chuyện kể là sau khi sinh Mỹ Đường được không lâu thì Tống Thị Quyên mơ một giấc mộng khủng khiếp. Trong giấc mơ, người vợ yêu của thái tử Nguyễn Phúc Cảnh thấy rằng mình đang bị nhấn chìm trong một biển nước đục ngầu.


Khi càng cố vùng vẫy thì biển càng như rộng ra và Tống Thị Quyên thấy mình bị cuốn đi trong dòng nước xoáy đó. Tỉnh dậy, Tống Thị Quyên hết sức lo lắng.


Tống Thị Quyên đã kể lại cho Hoàng tử Cảnh nghe. Nghe xong giấc mộng của người vợ, thái tử Cảnh trấn an rằng: “Ái phi chớ quá lo lắng mà có hại cho sức khỏe. Ta sẽ luôn ở bên cạnh nàng”. Thế nhưng, lời hứa đó của thái tử Cảnh đã không giữ được khi hoàng tử Cảnh bị mất sớm vì bệnh đậu mùa.


Về vụ án thông dâm kì lạ này của triều Nguyễn có rất nhiều lời bàn.


Trong sách “Việt sử giai thoại” nhận định: “Thời ấy, có 2 tội thuộc hàng đại ác không thể tha, ấy là bất trung và thất đức.


Bất trung thì con trai trưởng của Hoàng tử Cảnh chẳng có biểu hiện gì, vậy thì Minh Mạng muốn được yên vị trên ngai, ắt phải khép Mỹ Đường vào tột thất đức là thông dâm với mẹ. Ôi, giá mà Mỹ Đường chẳng phải cháu đích tôn của Gia Long thì đời ông sẽ yêm thấm biết ngần nào...”.


Trong ý kiến này, một số nhà nghiên cứu phân tích rằng việc hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng) lên ngôi là do sự quyết định của vua Gia Long chứ không phải do mưu mô, giành giật mà chiếm được ngai vàng.


Tuy nhiên, đối với những phản ứng bất lợi của một số triều thần mà sau 5 năm trị vì nhà vua vẫn không dẹp nổi, có thể vua Minh Mạng đã ra tay “trừ hậu hoạn”.


Bởi nếu các con Đông Cung chết, hoặc không còn hi vọng lên nối ngôi thì bọn phản thần, bọn làm giặc... sẽ như rắn không đầu, còn dựa vào đâu mà mưu mô mà chống đối.


Và cũng có thể vì vụ này mà lệ “Tứ bất lập” (không lập Chánh Cung, không lập Đông Cung, không lập Tể tướng, không lấy ai đỗ Trạng Nguyên) của nhà Nguyễn ra đời.


Ngoài ra, có một sự thật là vào năm 1833, Lê Văn Khôi đã dùng chiêu bài tôn phò hoàng tôn Mỹ Đường để nổi loạn. Vậy nên, đây cũng có thể là một cuộc thanh trừ chính trị của vua Minh Mạng.


Tuy nhiên, đâu là sự thật thì cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Và vụ án thông dâm giữa vợ và con hoàng tử Cảnh vẫn là một trong những nghi án bí ẩn bậc nhất triều Nguyễn.


 


Đinh Minh


phunutoday


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một Năm: Ngoại giao của Trump - Jonathan Freedland 20.11.2017
Cách tự sát của một siêu cường - RICHARD Javad Heydarian 20.11.2017
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
xem thêm »