tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19733456
Những bài báo
14.07.2012
Nhiều tác giả
Ai làm Hà Nội xấu, bẩn? Những than phiền về Hà Nội, thủ đô Việt Nam

Nội lực Thủ đô suy yếu khiến thanh lịch Hà Nội suy đồi


Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Ta còn nhớ đến một thói quen mang từ môi trường “nhà quê” lên thị thành là “đái bậy” trở thành một hiện tượng rất dễ nhận thấy của sự trì trệ trong quá trình chuyển đổi từ văn hoá nông thôn lên văn hoá đô thị...".


Tôi có theo dõi cuộc trao đổi liên quan đến ý kiến cho rằng những gì mà chúng ta đang bức xúc về văn hoá Thủ đô (xuống cấp) bắt nguồn từ hiện tượng “người ngoại tỉnh”, hay “người tỉnh lẻ” đem đến, khiến cho  truyền thống tốt đẹp “thanh lịch của người Tràng An” không còn nữa ?!


 


Là một người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, vào độ tuổi đã ngoại lục tuần lại có một chút liên quan đến nghề nghiệp, tôi muốn nói đôi điều về nhận thức của mình.


"Cho đến nay, Hà Nội cũng như nhiều thành phố lớn ở nước ta vẫn chưa có cơ chế quản lý bởi một chính quyền đô thị, cư dân nông thôn nhập vào thành phố là xu thế phổ biến nhưng đã không tự thay đổi theo chiều hướng “đô thị hoá” mà lại cố ý duy trì nó như một giá trị truyền thống mà đáng tiếc lại diễn ra ngay ở bộ phần tầng lớp trên nên cái chất đô thị không tạo thành một căn cốt cho văn hoá Thủ đô..." - Nhà sử học Dương Trung Quốc.


 


Chỉ vin vào câu ca "Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An" thì chưa đủ


Thủ đô, trước hết là một đô thị, nói cách khác nó là không gian sống và trên cơ sở đó tạo dựng những mối quan hệ trong cộng đồng cư dân đô thị khác hoàn toàn với không gian truyền thống là các làng xã hay công xã, nơi duy trì những lối sống cùng với cơ chế tổ chức xã hội tồn tại đã lâu đời trở thành những tập tục bền vững (bao gồm cả những giá trị tốt đẹp lẫn yếu tố bảo thủ) và phù hợp với của độ quân chủ của một nhà nước duy trì trong thời kỳ lịch sử lâu dài, thời trung thế kỷ.


 


Đặc trưng phổ quát của đô thị, là tách rời với cư dân và nền tảng kinh tế nông nghiệp. Đặc trưng đô thị trước hết gắn với kinh tế phi nông nghiệp và đặc biệt là thương mại của một cơ cấu cư dân thoát ly khỏi nông nghiệp và tập hợp từ nhiều nguồn gốc địa lý khác nhau nà ta hay gọi là dân “tứ chiếng”.


 


Cùng với thời gian, các đô thị phát triển tạo ra những đặc trưng truyền thống riêng, thường gắn với các yếu tố địa lý và kinh tế. Văn hoá đô thị cũng hình thành từ đó, thể hiện trong ứng xử của con người với thiên nhiên và các giá trị truyền thống cũng như những ứng xử giữa con người với con người.


 


Trở thành kinh đô, nơi đặt đầu não chính trị, văn hoá và kinh tế của một quốc gia, đương nhiên đô thị ấy có những nét đặc thù tương xứng. Cơ cấu cư dân, thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế và cùng với nó là văn hoá kinh đô cũng phải phát triển ở quy mô và đẳng cấp tương xứng.


 


Đô thị nước ta cũng như kinh đô của các quốc gia quân chủ Việt Nam mang đặc thù của đô thị phương Đông, hơn nữa gắn với nền kinh tế tiểu nông và dấu ấn sâu đậm của đời sống làng xã nên nó cũng có phần khác biệt, không những đối với mô hình các đô thị (tạm gọi là kinh điển) của phương Tây và đô thị của xã hội hiện đại.


 


Thăng Long là kinh đô Đại Việt từ cách đây hơn một ngàn năm khi Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư. Nó có kế thừa phần nào đô thị Đại La được người Hán thiết lập làm lỵ sở cho chế độ cai trị của phương Bắc.


 


Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê nó đã phát triển, tạo dựng nền Văn hiến và chắc chắn đã tạo ra những giá trị truyền thống của vùng đất kinh đô mà người ta thường mượn câu ca cổ mà có phần diễn đạt “khó hiểu”: “Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” để khái quát cái giá trị ấy.


 


“Tràng An” có người cho rằng đó là dấu ấn dời đô từ cố đô Hoa Lư của hai nhà Đinh và (Tiền) Lê nơi có địa danh “Trường Yên”; cũng có người cho rằng “Tràng An” là cách ví von mang tính so sánh với “Trường An” kinh đô thời nhà Đường thời hưng thịnh...


 


Không bàn đến cách diễn đạt có thể gây phản cảm của câu ca này khiến chúng ta liên tưởng đến một lập luận y tựa như “chẳng cần văn hoá, chỉ cần có hộ khẩu ở Hà Nội là đã trở thành “người Hà Nội” rồi”!  


 


Nhưng cần phải nói rằng những hiểu biết của chúng ta về văn hoá kinh đô Thăng Long cho đến nay còn rất ít ỏi. Dấu tích vật chất của kinh thành đã mất mát nhiều, những di sản thư tịch cũng bị thất lạc nhiều, những gương mặt tiêu biểu của dân kinh kỳ xưa cũng có nhưng sơ sài...


 


Tất cả khiến cho những hiểu biết về đời sống, tính cách “người Thăng Long” xưa rất mơ hồ mà chỉ vin vào câu ca trên thì cũng rất ít căn cứ!


 


Từ đầu thế kỷ XIX, Kinh đô nước ta (Việt Nam và Đại Nam) rời vào Huế. Người ta chứng kiến sự tàn tạ của Thăng Long-Hà Nội thời Nguyễn, có thể đúc lại trong câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Dấu xưa xe ngựa...”. Và những mô tả của người Pháp đầu tiên đến Hà Nội càng cho thấy phần nào của sự tàn tạ ấy...


 


"Vấn đề không phải là “tỉnh lẻ” hay “ngoại tỉnh” mà vấn đề là chính cái nội lực của Thủ đô bị suy yếu mà ở đây trách nhiệm của cơ quan quản lý, bộ máy quản lý là quan trọng hơn hết. Nếu nội lực mạnh thì chính yếu tố “tứ chiếng” lại là sự bổ sung, đóng góp vào những sắc thái phong phú và đặc sắc của Văn hoá Hà Nội; cũng như vậy đối với sự tiếp nhận văn hóa của thiên hạ (hội nhập quốc tế)"...


 


Vì thế, không thể không nói đến một cái mốc mở ra một sự thay đổi rất căn bản, về chất của tỉnh thành Hà Nội (thời Nguyễn) khi phần cốt lõi nhất (tương ứng với không gian của thành và thị Thăng Long xưa được Vua Đồng Khánh chuyển giao cho Pháp (cùng với Hải Phòng và Tourane - Đà Nẵng) vào năm 1888. Và ngay sau đó, các lãnh thổ nhượng địa này được đích thân Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập “thành phố” theo chuẩn mực của chính quốc.


 


Kể từ thời điểm đó, một đô thị theo chuẩn mực hiện đại kiểu phương Tây ra đời. Cho đến Mùa Thu năm 1945, thành phố thuộc địa Hà Nội đã tồn tại được 57 năm (1888-1945) trước khi Hà Nội trở lại với vị thế là một Thủ đô của nước Việt Nam Độc lập.


 


Theo thiển nghĩ của tôi, cái “chất Hà Nội” thường được khái quát thành những ý niệm về sự thanh lịch, hào hoa, phong nhã v.v... có lẽ được hình thành trong thời kỳ này tạo ra một chuẩn mực để chúng ta so sánh với ngày nay chăng.


 


Trong hơn một thế kỷ trở thành một đô thị thuộc địa, cái thuộc tính “thuộc địa” nằm trong thiết chế chính trị và bộ cai trị của chính quyền thực dân ngoại bang thì đương nhiên chúng ta lên án. Nhưng một cách khách quan, cái thiết chế đô thị hiện địa kiểu phương Tây, bộ máy quản lý đô thị, các yếu tố văn hoá và văn mình của phương Tây nói chung, của nước Pháp nói riêng thể hiện trong một số lĩnh vực đời sống trong đó có văn hoặc nghệ thuật, kể cả lối sống... đã làm thay đổi khá căn bản bộ mặt đô thị của Hà Nội theo chiều hướng tiến bộ.


 


Trong khi đó, ở một bộ phận quan trọng của cư dân đô thị, nhất là ở các tầng lớp trên cũng như đời sống thị dân Hà Nội vẫn giữ được cốt cách, một số giá trị truyền thống, cũng như sự liên hệ với các làng xã với tâm cảnh như sự thể hiện tinh thần dân tộc, chống sự lai căng cực đoan... đã tạo nên một lối sống văn hoá khá đặc sắc tạo nên cả một tầng lớp cư dân khá tiêu biểu, mà trên nhiều lĩnh vực nhất là văn hoá nghệ thuật và tinh thần cách mạng rất đặc sắc, có thể gọi là Thế hệ Vàng. Cái câu ca ta vẫn coi là cổ khi nói đến cái phẩm chất “thanh lịch” có lẽ muốn nói đến thế hệ này...


 


Như thế có hai nội hàm tạo nên giá trị về cốt cách văn hoá Hà Nội, một là Văn hoá đô thị, hai là Văn hoá Dân tộc.


 


Nội lực yếu khiến sự 'thanh lịch' của Hà Nội suy đồi


Liên hệ đến những gì đang diễn ra ngày hôm nay, ta thấy 2 yếu tố văn hoá trên lại chính là hai yếu tố bị mai một và xâm hại nhiều nhất. Cũng phải nói rằng, chúng ta không khôi phục lại cái cũ một cách nguyên vẹn mà nó phải phù hợp với những trào lưu của sự thay đổi phù hợp với cả sự tiến bộ và hội nhập.


 


Cái bị huỷ hoại nhiều nhất kể từ khi chiến tranh bùng nổ rất sớm (cuối 1946) không chỉ là sự tàn phá củạ chiến tranh mà sự mai một của văn hoá đô thị do tác động của xu hướng nông thôn hoá và dung tục hoá.


 


Chỉ nói rằng cho đến nay, Hà Nội cũng như nhiều thành phố lớn ở nước ta vẫn chưa có cơ chế quản lý bởi một chính quyền đô thị, cư dân nông thôn nhập vào thành phố là xu thế phổ biến nhưng đã không tự thay đổi theo chiều hướng “đô thị hoá” mà lại cố ý duy trì nó như một giá trị truyền thống mà đáng tiếc lại diễn ra ngay ở bộ phần tầng lớp trên nên cái chất đô thị không tạo thành một căn cốt cho văn hoá Thủ đô.


 


Ta còn nhớ đến một thói quen mang từ môi trường “nhà quê” lên thị thành là “đái bậy” trở thành một hiện tượng rất dễ nhận thấy của sự trì trệ trong quá trình chuyển đổi từ văn hoá nông thôn lên văn hoá đô thị...


 


Đáng tiếc là hơn nửa thế kỷ đô thị thuộc địa đã tạo dựng được một nền tảng văn hoá đô thị (tổ chức quản lý đô thị, hệ thống luật lệ, thói quen và những tập quán mới của tầng lớp thị dân (từ bình dân đến thượng lưu) thì đến nay đã mai một ...


 


Ở một lĩnh vực khác thì quá trình hiện đại hoá và hội nhập với thế giới diễn ra một cách mạnh mẽ nhưng lại không có được cái nền tảng của sự tiếp nhận như thế hệ trước đây là một nền học vấn khá căn bản, một tinh thần dân tộc còn sức sống khao khát trong hoàn cảnh mất nước, thay thế bằng một xu thế nặng học đòi, dễ lai căng không có nền tảng văn hoá để tiếp thu cùng với những lợi ích thực dụng nên sự suy đồi dễ nhận diện hơn là sự trưởng thành của nền Văn hoá Hà Nội.


 


Trở lại với cái nhân tố “tỉnh lẻ” hay “ngoại tỉnh”, “tứ chiếng” là một lẽ đương nhiên cho sự hình thành mọi đô thị. Nhưng chính cái “nội lực” không có (văn hoá đô thị và tính cách dân tộc) yếu khiến cho cái hiện tượng tất yếu của sự thay đổi thành phần dân cư không đưa đến chiều hướng bổ sung tích cực mà là phát huy tính tiêu cực của nó biểu hiện bằng sự suy đồi những giá trị tốt đẹp vốn có mà ta tạm dùng ý niệm về sự “thanh lịch” của Hà Nội.


 


Như thế vấn đề không phải là “tỉnh lẻ” hay “ngoại tỉnh” mà vấn đề là chính cái nội lực của Thủ đô bị suy yếu mà ở đây trách nhiệm của cơ quan quản lý, bộ máy quản lý là quan trọng hơn hết. Nếu nội lực mạnh thì chính yếu tố “tứ chiếng” lại là sự bổ sung, đóng góp vào những sắc thái phong phú và đặc sắc của Văn hoá Hà Nội; cũng như vậy đối với sự tiếp nhận văn hóa của thiên hạ (hội nhập quốc tế).


 


Để trở thành “người Hà Nội” thì cư dân sống ở Hà Nội phải có ý thức phấn đấu và đóng góp chứ không phải tự nhiên mà có cho dù xuất xứ của mỗi người đều có thể có từ những nguồn gốc rất xa nhau.


 


Và đứng từ phía quản lý nhà nước, nhất thiết phải xây dựng văn hoá (văn minh) đô thị là yếu tố hàng đầu cùng với sự tìm tòi những giá trị truyền thống hài hoà với xu thế phát triển hiện đại mới mong tạo dựng được sự “thanh lịch” của Hà Nội ở thế kỷ XXI.


 


Dương Trung Quốc


phunutoday.vn


 


Tôi nuối tiếc cho một Hà Nội văn minh, lịch sự


"Nhiều khi tôi nhìn thấy những cô gái tỉnh lẻ bắt chước Tây, Tàu ăn mặc hở hang, bày hàng trước mặt, tôi còn cảm thấy xấu hổ cho chính mình" - chị Mai Khanh (50 tuổi, phố Phúc Tân, Hà Nội) nhận xét.


Gần đây tôi thấy đâu cũng bàn tán về hình ảnh Hà Nội đang bị mất dần đi những vẻ đẹp cổ xưa, từ lời ăn tiếng nói đến cách cư xử giữa người với người. Tất cả cũng đang bị bóp méo, lệch lạc.


 


Nói người tỉnh lẻ dạt về làm hỏng Hà Nội thì cũng không oan. Tôi là một phụ nữ gốc Hà Nội, tôi thấy rất nuối tiếc cho một Hà Nội cổ kính, với nét đẹp đặc trưng của Người Tràng An, văn minh, lịch sự, duyên dáng, e ấp.


 


Đối với tôi hình ảnh về Hà Nội xưa quá đẹp, mặc dù khi tôi lớn lên những hình ảnh về người Hà Nội xưa đã mất đi ít nhiều nhưng nét đẹp đặc trưng của nền văn hóa, của con người Hà Nội thì không gì có thể thay thế được.


 


Người ngoại tỉnh chỉ biết đến tiền nhưng lại mất vệ sinh


Đầu tiên phải nói về cách sống. Người Hà Nội xưa người ta sống với nhau khác, gia đình ý thức nề nếp, biết yêu thương, đùm bọc còn người ngoại tỉnh rất ích kỷ, bon chen, tất cả chỉ vì mưu sinh vì kiếm tiền.


 


Giờ tìm xem còn được bao nhiêu người Hà Nội gốc, ít lắm. Đâu đâu cũng thấy người ngoại tỉnh, họ đổ về để kiếm sống, kiếm cái nhà, kiếm tấm chồng, kiếm cái bìa đỏ...


 


Xung quanh khu nhà tôi, một nhà Hà Nội gốc thì có cả dãy là dân ngoại tỉnh. Cách sống của họ mới đầu khiến tôi rất khó chịu. Nhưng lâu dần do sống gần mình họ cũng đã thay đổi ít nhiều.


 


Hà Nội từng sạch. Tôi phải nói rằng, chưa bao giờ thấy Hà Nội bẩn thỉu, nhếch nhác như bây giờ. Mà nguyên nhân chính cũng là do người ngoại tỉnh dạt về. Trước kia, Hà Nội đâu có như bây giờ, Hà Nội sạch sẽ, không có rác như thế.


 


Sau này, những người từ tứ xứ dạt về họ làm ăn, sinh sống nên cũng mang theo những "đặc sản" của từng vùng miền. Cái hay thì tôi chưa thấy, cái xấu tôi thấy rất nhiều. Đầu tiên là ở bẩn. Đi ra đường là thấy khạc nhổ bừa bãi, ăn mặc nhếch nhác, chỗ này một bọc rác, chỗ kia là túi nilon, chỗ khác là tè bậy.... nói chung là ý thức kém, không thể chấp nhận được.


 


Chuyện nhỏ như chuyện vứt rác thôi cũng đã thấy ý thức của người dân ngoại tỉnh kém thế nào. Nhà tôi vốn là người Hà Nội gốc nên tôi rất chú trọng đến việc giữ gìn nề nếp gia đình từ cách ăn nói, đi đứng, đến cách sống, cách đối nhân xử thế.


 


Tôi đã từng chứng kiến cảnh tối hôm trước trước nhà mình sạch bong, sáng hôm sau đã có vài bọc rác. Bực một điều, những người tỉnh lẻ đã ý thức kém lại cố tỏ ra thanh cao.


 


Họ không vứt rác trước cửa nhà mình vì họ cũng biết làm như vậy là bẩn, là mất vệ sinh không thể chấp nhận được, nhưng vứt sang nhà khác thì không ai biết mình ở bẩn hay ý thức kém. Lại là lối sống ích kỷ của người dân tỉnh lẻ, chỉ bo bo nghĩ cho mình mà không có ý thức chung, không có ý thức cộng đồng.


 


Tiếp đến là cách ăn nói. Người Hà Nội xưa, họ nói năng rất nhẹ nhàng, lịch sự một thưa hai gửi. Còn bây giờ, tôi có cảm giác người ta không còn chú trọng đến lời ăn tiếng nói của mình mà thường để nó rơi tự do, bạ đâu nói đấy, không có đầu có cuối. Có bao giờ nghe thấy một tiếng nói, tiếng cười ồn ã ngoài đường, thường họ rất kín đáo, tế nhị.


 


Còn bây giờ ăn nói lôm côm, nói cười hô hố... Điều này, không phải bây giờ tôi mới thấy, mà sự thay đổi này tôi đã thấy cách đây đến cả hơn chục năm về trước. Nguyên nhân chính cũng lại là do văn hóa của người tỉnh lẻ du nhập, chứ người Hà Nội họ đâu có ăn nói như vậy.


 


Đơn giản như cách xưng hô, cách ứng xử người Hà Nội xưa, khi nói chuyện với bố mẹ phải thưa gửi lễ phép, với thầy cô phải kính trọng. Trước kia học sinh khi nhìn thấy thầy cô giáo đều khoanh tay cúi xuống chào thể hiện lòng tôn kính.


 


Bây giờ thầy không ra thầy, trò cũng không còn là trò. Ăn nói lố lăng, con cãi bố mẹ, thầy đưa trò vào nhà nghỉ, học sinh lấy tình đổi điểm... Tất cả tôi cho rằng, nguyên nhân vẫn là do cách sống xô bồ, buông thả của người ngoại tỉnh.


 


Đơn cử như trong chuyện yêu đương, con gái Hà Nội xưa vốn rất hiền dịu, nết na. Khi đến tuổi yêu đương có ai để ý là phải vào nhà xin phép ngồi nói chuyện, không được đưa nhau ra ngoài đường, không được tự ý đi chơi tối,...


 


Còn bây giờ thì nào là ôm ấp, hôn hít, chui rúc bụi rậm, xó xỉnh đủ kiểu... Có khi nó còn làm chuyện đó ngay trước mặt người lớn. Đó cũng là do ý thức, do cách giáo dục của con người. Người Hà Nội xưa đâu có như vậy.


 


Đó không phải là sản phẩm của người tỉnh lẻ du nhập mang về thì là ở đâu?


 


Bố mẹ vô văn hóa, con cũng chửi bậy


Tôi cho rằng tất cả là do môi trường, do cách giáo dục từ nền tảng gia đình. Tôi may mắn được sinh ra là người Hà Nội gốc nên tôi được hưởng một nền giáo dục căn bản từ gia đình. Mặc dù bố mẹ tôi ngày xưa không phải dạy con cái nhiều nhưng chúng tôi tự ý thức được và nhìn vào tấm gương bố mẹ mà sống cho chuẩn mực.


 


Trong gia đình tôi luôn giữ cho mình cách dạy dỗ con cái nhẹ nhàng, nền nếp. Khi con tôi làm việc gì đó sai, tôi sẽ nhẹ nhàng phân tích, khuyên bảo chứ không như cách dạy con của người dân ngoại tỉnh.


 


Tôi đã từng chứng kiến quá nhiều cảnh bố mẹ ăn nói vô văn hóa, nói như vỗ mặt con, rồi chửi bới có khi là "con đĩ, tổ sư mày..."...Người Hà Nội xưa họ đâu có giáo dục con như thế, bố mẹ cũng còn ăn nói, chửi bậy thì con cái chửi bậy cũng là lẽ đương nhiên.


 


Tôi có hai cậu con trai, cả hai đều đang theo học đại học và đều rất ngoan do thừa hưởng cách giáo dục nền nếp của gia đình. Con trai tôi cháu lớn dù đã 24 tuổi nhưng cũng chưa biết đi ra ngoài buổi tối bao giờ, đi học về là về nhà, ăn cơm xong lại học bài rồi đi ngủ. Không được nhuộm tóc xanh, tóc đỏ, mặc dù đã 24 tuổi nhưng quần áo của con tôi vẫn là do tôi mua cho.


 


Theo tôi, cho dù bản chất có tốt mười mươi nhưng hình thức bên ngoài cũng rất quan trọng. Nếu nhìn những người đầu tóc chào mào nhuộm xanh, nhuộm đỏ, quần áo thì xẻ chỗ nọ vá chỗ kia, chỉ cần nhìn như vậy đã khiến cho người khác có cảm giác không an toàn.



Ngay cả chuyện yêu đương tôi cũng luôn hướng cho con mình tới vẻ đẹp chân quê, giản dị. Tôi nói thẳng với con mình nếu có yêu ai thì phải chọn người kín đáo, duyên dáng chứ áo ngắn, cạp trễ, hở cả ngực, cả mông là tôi không bao giờ đồng ý.


 


Cứ nghĩ xem, một người con gái áo quần cũn cỡn, với một người con gái duyên dáng, chân phương thì ai đẹp hơn. Hơn nữa, một người vợ thực sự phải là của mình chứ không thể là sexy, khiêu gợi phơi ngực cho cả "bách gia trăm họ" cùng nhìn được.


 


Nhiều khi tôi nhìn thấy những cô gái tỉnh lẻ bắt chước Tây, Tàu ăn mặc hở hang, bày hàng trước mặt; tôi còn cảm thấy xấu hổ cho mình. Đấy là những bông hoa không có người hái, mà nếu có người hái thì những người đó cũng chẳng ra gì.


 


Cái này cũng là do thói quen sống của người nông thôn, ít học, giáo dục không đến nơi đến chốn. Khi ra thành phố có thể họ cũng phải thay đổi ít nhiều để hòa nhập với cộng đồng nhưng để hài lòng với cách sống của người Hà Nội như chúng tôi thì chưa thể đáp ứng được.


 


Mai Khanh (Phố Phúc Tân - Hà Nội)


 


Con gái đẹp tỉnh lẻ dạt về làm hỏng Hà Nội


"Trong mắt người dân cả nước, người con gái Hà Nội là hình ảnh thanh lịch, tinh tế và đằm thắm, nhưng vẻ đẹp đó bây giờ không còn nữa", bác Lê Thị Thìn - (61 tuổi, Cầu Gỗ - Hà Nội), cán bộ quản lý thị trường đã về hưu nuối tiếc.


 


Tự hào về vẻ đẹp Hà Nội xưa, bác Thìn nuối tiếc vì những vẻ đẹp ấy giờ đây đã biến mất. Nguyên nhân một phần theo bác là do những người tứ xứ dạt về làm "loạn" Hà Nội, làm mất đi những hình ảnh đẹp truyền thống của Thủ đô.


 


Toàn vẻ đẹp sexy để  làm tiền


Gặp bác trong trang phục giản dị, vẫn giữ được mái tóc dài đặc trưng, vẻ đẹp mặn mà trong cách ăn nói nhã nhặn, đoan trang; hình ảnh bác Thìn đã gợi lên hình ảnh một người phụ nữ Hà Nội xưa đẹp nhẹ nhàng.


 


Cái đẹp không đơn thuần chỉ nằm ở tà áo, mái tóc, đó còn là vẻ đẹp của tâm hồn, vẻ đẹp của đức hi sinh cao cả.


 


Hoài niệm về vẻ đẹp của người con gái Hà Nội cổ xưa, trong tiềm thức của bác Thìn là một người con gái với tà áo dài kín đáo nhưng vẫn rất duyên dáng. Nhưng cái đẹp đó giờ không còn nữa, giờ chỉ toàn là vẻ đẹp sexy, vẻ đẹp kiếm tiền.


 


 


Bà Lê Thị Thìn: Gái xinh chỉ để kiếm tiền


Giờ đây, bác thấy sợ hình ảnh Hà Nội hiện thời: "Ra ngoài đường thấy đâu cũng xăm mắt, xăm môi tôi thấy sợ quá. Đấy không phải là đẹp mà là họ đang cố gắng tạo ra một thứ giả tạo, trống rỗng.


 


Chẳng nói đâu xa, mấy cái vụ cô người mẫu, hoa hậu bán dâm mà không thấy sợ à, đẹp như thế, đẹp để bán dâm thì đẹp để làm gì", bác Thìn nhận xét. "Đẹp phải là cái kín đáo nhưng vẫn tinh tế, duyên dáng".


 


Thẳng thắn hơn, bác cho rằng, về bản chất người Hà Nội không bị biến đổi nhanh đến thế. Ở Hà Nội bây giờ đâu còn nhiều người Hà Nội gốc.


 


"Đa số đó là những người tứ xứ dạt về, nếu là người Hà Nội thì họ sống không đến mức như thế. Chính những người nông thôn ra ngoài này họ làm loạn, làm hỏng hết cả Hà Nội".


 


Sợ Hà Nội nay


Đồng cảm với bác Thìn, bác Nguyễn Thị Thảo (Hàng Buồm, Hà Nội) cũng là người rất trân trọng vẻ đẹp riêng đặc trưng của người con gái Hà Nội xưa.


 


Có lẽ cũng vì thế mà hai vợ chồng bác đến được với nhau. "Cái nết đánh chết cái đẹp", theo bác Thảo, ở thời đại nào cũng vậy cả thôi, người ta yêu nhau, lấy nhau cũng một phần vì cái đẹp, nhưng là cái đẹp chuẩn mực.


 


Bác Thảo thẳng thắn chia sẻ: "Giờ thử xem, ra ngoài nhiều người trông thì cũng xinh đấy nhưng có mấy ai thích. Có con trai tôi cũng không chọn một cô con dâu quần cũn cỡn, áo thì hở trước, hở sau.


Những người như thế không cave thì cũng gái đứng đường. Nếu phải chọn lựa tôi sẽ chọn một cô gái xấu về làm con dâu còn hơn chọn một cô gái xinh về làm gái gọi".


Giờ thấy đám thanh niên ai cũng dán mắt nhìn những cô chân dài, áo hai dây mà bác Thảo thấy tiếc cho hình ảnh người con gái Hà Nội một thời.


Trong tiềm thức của người dân Việt Nam, ký ức, vẻ đẹp của người con gái Hà Nội giờ còn sót lại thật quý.


 


Tất nhiên, không thể lấy cái đẹp của thời xưa để làm chuẩn cho cái đẹp của thời nay nhưng cả bác Thảo và bác Thìn đều cho rằng, sự thay đổi nào cũng cần phải dựa trên chuẩn mực của văn hóa. Cái đẹp ngày nay dường như đang bị đánh tráo khái niệm, đẹp bây giờ phải nói là khiêu gợi, khiêu dâm mới đúng.


 


Bác Thảo nhận xét "Cái vẻ đẹp ngày xưa cổ mới đáng quý chứ đẹp như giới trẻ bây giờ thì hỏng hết".


Vẻ đẹp ngày xưa đã biến mất; vẻ đẹp hiện đại, chạy theo lối sống phương Tây kiểu khiêu gợi, khiêu dâm của Hà Nội đã được thế vào nhanh chóng.


 


Phải chăng dân tỉnh lẻ, những người không phải Hà Nội gốc đã làm "hỏng" Hà Nội một thời?


 


Nguyễn Mỹ


 


Cô gái Hà Nội gốc: Hư thân cũng được, miễn là... xinh


Sinh năm 1979, là biên tập viên của một nhà sách, thu nhập tốt, con gái Hà Nội gốc (phố Hàng Đường) nhưng đến tuổi này, chị Nguyễn Thúy Nga, Hàng Đường, Hà Nội vẫn cô đơn đi về. Gia đình, bạn bè, ai có hỏi đến chuyện chồng con thì chị cười cười: “Cứ chơi cho sướng đã”. Nhưng chị bảo, trong sâu thẳm tâm hồn, chị cũng muốn bung bét hết lên để mọi người thông cảm cho mình. "Xấu như tôi, ai rước?".


 


 


“Cũng chẳng biết vì sao tôi xấu. Mẹ tôi đẹp lắm. Bố tôi cũng dễ nhìn. Chị gái tôi thì xinh như hoa ấy. Có mỗi tôi lạc loài. Dường như từ bé, biết tôi thiệt thòi hơn hai chị, mẹ tôi cũng cưng chiều tôi hơn. Lắm khi rửa mặt hay ngồi chải tóc cho tôi, bà nâng khuôn mặt tôi lên ngắm rồi thở dài.


 


Qua tuổi mẫu giáo, tôi bắt đầu lờ mờ hiểu ra vì sao mẹ thở dài. Vì tôi xấu quá. Tôi béo phị từ nhỏ. Giờ vẫn béo. Cao 1m50, nặng 55kg, tôi ăn uống rất ít, cả năm nay còn ăn kiêng nhưng hầu như không có tác dụng. Sút được bao nhiêu, chỉ cần ngừng kiêng một tuần là đâu lại vào đó.


 


Tôi: mặt vuông chữ điền, mắt một mí, trán dô, lông mày đậm, mũi tẹt, miệng hơi hô, mặt lỗ chỗ mụn... Tóm  lại, không phải tuýp người tự ti đâu, nhưng từ khi biết nhận thức, tôi cũng thấy các đường nét trên mặt mình cứ đập nhau chan chát ấy.


 


Mẹ tôi thì hay dỗ tôi “xấu gỗ hơn tốt nước sơn”, nhưng ấy là xấu vừa vừa thôi, chứ xấu quá thì nước sơn tốt giời cũng chả lại.


 


Lúc tôi bé, tôi chẳng bao giờ biết đến hoa, quà các dịp sinh nhật, lễ lạt cả. Thậm chí các buổi tập thể dục đồng diễn cũng chẳng bạn trai nào chịu chung đôi, mỗi lần lớp đi chơi xa không ai chịu đèo (thời chúng tôi toàn đi xe đạp).


 


Khi tôi học đại học, các bạn gái xinh đẹp rất thích chơi với tôi. Họ thoải mái rủ tôi đi cùng các cuộc vui của họ. Sau này tôi mới hiểu ra, vì tôi xấu quá, họ sẽ yên tâm không lo tôi hút hồn mất chàng trai nào của họ. Và nữa, chơi với tôi, họ sẽ có người giúp đỡ các tiểu luận, bài tập, ném bài hộ trong các buổi thi…


 


Từ tấm bé đến hết cấp 3 tôi luôn là học sinh xuất sắc; tôi có hàng xấp giấy khen cho các giải thi HS giỏi. Rồi tôi được vào thẳng đại học, ra trường với tấm bằng đỏ chót. Đi làm 2 năm tôi đã được cất nhắc lên trưởng phòng... Nói chung, đường học của tôi thì thuận lợi lắm.


 


Tôi nhớ lúc sinh viên, trong một lần tham dự lễ khen thưởng các sinh viên tiêu biểu của trường, bạn MC bảo tôi chia sẻ bí quyết để học giỏi. Lúc ấy, tôi nói thế này: Kiên trì, tập trung, tự tin và chăm chỉ!


 


Có lẽ lúc ấy, phải trả lời cho cái bí quyết học giỏi ấy là: "Xấu". Vì chúng tôi xấu, chúng tôi còn biết làm gì khác ngoài học?


Ở nhà, bố mẹ tôi luôn động viên cố gắng học hành giỏi giang, nội trợ đảm đang, lấy cái này bù cái kia.


Ở trường, tôi chẳng bao giờ biết đến hai từ “tán tỉnh” để có thể phân tâm. Tự biết mình, tôi cũng chẳng bao giờ mơ màng đến chàng trai nào khác. Vì hình thức xấu, tôi thậm chí chẳng bao giờ được tham gia biểu diễn văn nghệ văn gừng (dù chỉ là tiết mục đồng ca). Thế tôi không cắm cúi vào sách vở thì tôi biết làm gì?


 


Mấy năm trước, có vài bác hàng xóm, vài chị đồng nghiệp thấy tôi ngoan ngoãn, giỏi giang cũng làm mai làm mối. Nhưng có anh kiên trì thì gặp tôi được một đôi lần, còn thì cứ sau một buổi cà phê là chạy mất hút.


 


Có hôm, vô tình tôi nghe được các chị ở cơ quan bảo nhau: thằng ấy nó bảo ngẩng lên nhìn em Nga nhà mình cái đã tụt hết cả hứng rồi, lấy về có mà nấu cơm vua, ngồi nhìn nhau ăn cũng mất cả ngon.


 


Chị gái tôi thì thương em mà ác mồm, suốt ngày làu bàu với mẹ: Sao mẹ bầu bí thế nào mà lại sinh ra nó thế kia, cái mặt, đúng là đóng phim kinh dị không cần hóa trang. Đã xấu lại còn giỏi, đúng là "hỏng toàn phần".


 


Trong quan niệm của chị gái tôi, đàn bà điểm 10 là gì: đảm đang, xinh xắn, nói năng ngọt ngào, nhưng mà phải dốt. Như tôi, đáng cho 0 điểm.


 


Nhờ chị, nhờ những lần nghe lỏm chuyện cơ quan, gia đình, tôi nhận ra đàn ông là một giống háo sắc. Mà loài người nói chung là một giống háo sắc chứ chẳng cứ đàn ông.


 


Chuyện cô gái xấu xí giỏi giang rồi gặp chàng bạch mã hoàng tử như cô Diệu Huyền trên phim, tôi chưa từng thấy ngoài đời!


 


Thế nên, bây giờ ai khen tôi giỏi là tôi dị ứng lắm.


 


Giỏi làm gì chứ, dốt cũng được, hư thân cũng được… miễn là xinh! Tôi rất kính trọng các bạn gái được tạo hóa nặn ra xinh xắn.


 


Có chị “gái xấu” đã đúc kết thế này, tôi thấy đúng lắm: Đàn ông, nếu giàu có, họ đương nhiên sẽ cặp với gái xinh, “đại gia chân dài” mà. Đàn ông, không giàu có mà giỏi, họ sẽ chọn gái xinh cho “trai tài gái sắc”. Nếu không giàu có, không giỏi giang, mà đẹp trai, thì họ cũng chọn gái xinh cho “đôi lứa xứng đôi”. Còn nhóm cuối cùng chẳng giàu, chẳng giỏi, chẳng đẹp, họ lại phải chọn gái xinh để tôn vinh tí bản lĩnh đàn ông của mình.


 


Thế, thì bao giờ gái xấu mới đến lượt?"


 


Cứ làm đẹp, dù bằng dao kéo


Trao đổi với Phunutoday, ca sĩ Vũ Hạnh Nguyên và nhiếp ảnh gia Tô Thanh Nghiệp, người đã chụp ảnh cho rất nhiều siêu mẫu, hoa hậu đều bày tỏ sự ủng hộ việc làm đẹp bằng dao kéo.


Ca sĩ Vũ Hạnh Nguyên cho rằng: "Làm đẹp bằng dao kéo hay làm đẹp bằng một phương pháp nào đó là cái quyền của mỗi người, nó không đáng bị soi mói hay lên án. Bản thân tôi cũng vậy, nếu tôi thấy không hài lòng về sắc vóc của mình, tôi cũng sẽ dao kéo để khắc phục cải tạo lại nó.


 


Tôi cũng không cho rằng, làm đẹp cho mình là làm đẹp cho xã hội, bởi làm đẹp cho mình, mình được hưởng đầu tiên và phục vụ cho bản thân mình cái đã chứ nói là đẹp cho xã hội thì hơi to tát".


 


Trong khi đó, nhiếp ảnh gia Tô Thanh Nghiệp cho biết, tất cả các người mẫu hiện tại của làng mẫu Việt, 10 người thì có đến 8 người phẫu thuật, nâng cấp vòng một và sống mũi. Đa số những người đẹp sau phẫu thuật thẩm mỹ đều thành công với nghề hơn.


"Tôi cho rằng, thẩm mỹ đẹp lên, tự tin hơn thì chẳng có lý do gì mà phải giấu cả. Là phụ nữ biết làm đẹp để hoàn thiện bản thân là rất tốt, đáng hoan nghênh mà, đấy cũng không phải việc làm xấu để bị lên án", Tô Thanh Nghiệp nói.


Theo Kiến Thức


Nguồn: Chuyên trang Phụ nữ & Đời sống (phunutoday.vn) của báo điện tử nguoiduatin.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »