tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078186
Tiểu thuyết
12.07.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

Cuộc họp các tướng nghĩa quân được nhóm trong một ngôi chùa cổ. Bên trong chánh điện thừo cốt Phật Di Đà to lớn, hai bên trần thiết bộ tranh Thập điện. Bên cạnh treo một cỗ đại hồng chung khắc những dòng chữ nho. Trước ngôi tam bảo, cột chạm rồng sơn son thiếp vàng lâu ngày đã phai lợt.


Ánh nến lấp loáng trên bộ mặt đầy vẻ cương nghị của Lê Cẩn. Anh dõng dạc:


- Bữa nay ta bàn về sách lược đánh giặc sắp tới. Anh em ai có mưu kế gì hay xin trình bày cho mọi người cùng nghe.


Phó Mai nói:


- Tôi tính hay là ta kéo đến đánh úp dinh tam biện Vĩnh Long chắc chắn sẽ thành công.


Nguyễn Giao gạt đi:


- Không được. Vừa rồi ta đã đánh úp quận lỵ Vũng Liêm do xuất kỳ bất ý nên mới thắng lợi. Nay giặc đã nghi ngờ, bố phong kỹ càng, dầu ta có đánh úp cũng khó giành phần thắng.


Trần Điều bực tức:


- Vậy chẳng lẽ ta đành chịu bó tay sao?


Một khắc im lặng nặng nề. Các tượng Phật ngồi lố nhố trên bệ thờ giữa cảnh tranh tối tranh sáng tưởng chừng như cũng đang dự cuộc họp trang nghiêm này. Khói trầm cuộn lên từ miệng con nghé trên lư đồng. Lê Cẩn đăm đăm nhìn theo làn khói trầm vẽ những nét uốn éo trong khoảng không rồi tan dần. Giữa mùi hương trầm thơm ngát, một ý nghĩ nẩy ra trong óc, anh nói nhanh:


- Tôi có một kế này. Tên Tham biện Lang Sa là thằng Bồi Xê, tuy nham hiểm nhưng lại có tánh tự kiêu, đó là chỗ nhược của nó. Ta phải làm sao nống lại cái tự kiêu đó lên cho nó càng thêm hung hăng khinh địch; như vậy mới mong thắng được…


Hoàng Cao Hổ thắc mắc:


- Ông Đốc binh tính làm cách nào?


Lê Cẩn đăm chiêu:


- Tôi định dâng thơ trá hàng, dụ chúng nó lọt vào nơi ta mai phục rồi xông ra diệt gọn. Anh em nghĩ sao?


Nguyễn Giao và các tướng đều tán đồng. Lê Cẩn viết thơ rồi Nguyễn Giao mang đến cho Xa-li-sét-ti.


Tới dinh Tham biện, một ngôi nhà xây theo kiểu Tây, oTới dinh Tham biện, một ngôi nhà xây theo kiểu Tây, Nguyễn Giao gặp một người áo vận, quần nhiễu, bới tóc giắt lược đồi mồi có nhiễu vàng. Thấy tên hầu cân quan Tây nạt nộ hạch xách, có vẻ muốn đòi ăn hối lộ, Nguyễn Giao dõng dạc:


- Nghĩa quân Cầu Vông tới dâng thơ lên quan Tham biện, chú kíp vô báo lại với ngài.


Nghe nói đến nghĩa quân Cầu Vông, tên này có vẻ sợ hãi, lắp bắp:


- Bẩm… tôi chỉ là kẻ hầu hạ bên ngoài thôi… còn việc này đại sự, tôi đâu dám đương… Để tôi dẫn ông vô gặp thầy thông ngôn, thầy sẽ chỉ biểu cách thức cho ông…


Tới bàn giấy, Nguyễn Giao thấy một người vận áo bố trắng, cổ đứng tra chuỗi hổ phách, đàu lại đội nón cát miệng ngậm điếu xì gà, đó là thông ngôn Yên. Liếc qua dòng chữ trên bao thơ, thông ngôn Yên giật mình vội đưa Nguyễn Giao vô bàn giấy Tham biện.


Xa-li-sét-ti tuổi đã già, râu mọc bò hàm bạc trắng. Y vóc vạc cao lớn, dình dàng, vận sơ mi cụt tay, quần soọc trắng, ngồi đằng sau bàn giấy. Thông ngôn Yên tới gần khúm núm, nói bằng tiếng Tây:


- Bẩm quan Tham biện, có thơ của giặc Cầu Vông đưa tới.


Xa-li-sét-ti giọng rổn rảng:


- Thơ đâu, thầy dịch ra cho tôi nghe.


Yên giở thỏ ra coi rồi dịch ra tiếng Nam:


“Kính trình quan lớn tham biện tỉnh Vĩnh Long”.


“Bấy lâu nay ông chủ quận Thực tham tàn hà hiếp dân chúng quá lẽ, chẳng đặng chừng chúng tôi phải chống lại. Nay được biết quan lớn Tham biện vốn nhơn từ thương dân, lại được đọc lời truyền thị của quan tân chủ quận Tường, chúng tôi tình nguyện quy thuận nhà nước Lang Sa với điều kiện là mời quan lớn Tham biện đích thân đến địa điềm Cầu Vông để chứng kiến lễ quy thuận của chúng tôi.


Đốc binh Lê Cẩn”.


Nghe xong, Xa-li-sét-ti vui vẻ hỏi Nguyễn Giao, cái vui vẻ đóng kịch như để khuyên dỗ kẻ khác hay để che đậy thâm ý nham hiểm:


- Các ngươi biết điều quy thuận như vậy là tốt. Nhưng tại sao các ngươi không tới đây mà lại đòi ta phải đến chỗ các ngươi?


Nguyễn Giao bình tĩnh:


- Bẩm quan lớn, chúng tôi đã đem việc này ra bàn bạc, phần lớn anh em đều tán đồng, nhưng còn một số người vẫn nghi ngại cho là người Lang Sa không thực lòng, nếu chui vào hang cọp sợ trúng mưu lừa sẽ bị giết hết. Trước đây quan Kinh lược họ Phan cũng vì khinh xuất xuống tàu Tây thương thuyết nên bị bắt cóc, chứng tỏ điều chúng tôi e dè không phải là không có cớ. Người Lang Sa tướng mạnh binh hùng, còn chúng tôi chỉ là một nhúm người, cô thế, không lo sao được. Ông Đốc binh phải hứa với họ sẽ mời đích thân quan Tham biện tới chứng kiến lễ quy thuận để bày tỏ lòng thành thực, lúc ấy họ mới chịu.


Thấy Nguyễn Giao nói có lý, Xa-li-sét-ti đã xiêu lòng nhưng vẫn còn ngần ngừ, bảo Yên:


- Thầy đi mời ông chủ quân sang đây cho tôi.


Tên thông ngôn đi rồi, Xa-li-sét-ti giương cặp mắt xanh lè nhìn thẳng vào Nguyễn Giao như để dò xét thái độ và áp đảo tinh thần.Nguyễn Giao cũng bình tĩnh nhìn thẳng vào mắt tên cáo già hồi lâu không chớp, cuối cùng y đành cụp mắt xuống không dám nhìn chàng bằng vẻ soi mói nữa.


Tôn Thọ Tường lật đật bước vào. Xa-li-sét-ti đưa Tường coi bức thơ xin hàng. Đọc xong, Tường vội can:


- Bọn quân nghịch phản phúc không chừng, quan lớn không nên tin…


Xa-li-sét-ti cười thản nhiên:


- Chúng nó khiếp sợ thật sự nên xin hàng đấy thôi. Ông chủ quận đừng đa nghi, không sao đâu!


Tường rụt rè:


- Bẩm, lỡ chúng nó dùng mẹo trá hàng rồi mai phục thì sao?


Xa-li-sét-ti cười ha hả ra vẻ bề trên:


- Ta là người khoan hồng, dung túng cho chúng nó, lẽ nào chúng nó trở lòng làm hại ta. Ta không đến chứng kiến lễ quy thuận của chúng nó thì làm gì chúng nó thấy được mặt ta để phục tùng. Bản chức phải đến nhận sự đầu hàng sách hơn. Nếu để cho người An Nam nghi ngờ Lang Sa không thực lòng thì rồi đây còn chiêu dụ ai được nữa.


Nguyễn Giao giọng tâng bốc:


- Bẩm, quan lớn quả có lượng dung người. Chỉ cần thấy được dung nghi của quan lớn là mọi người đều cúi đầu khiếp phục…


Tường vẫn cố nài:


- Bẩm quan lớn, tôi e…


Xa-li-sét-ti ngắt lời:


- Lũ chuột nhắt ấy tháy ta là vỡ mật, đâu dám giở trò kia khác. – Rồi quay sang nói với Nguyễn Giao. – Ngươi về nói với chủ tướng của ngươi là ta chấp thuận, nghe không?


Nguyễn Giao cám ơn rồi cáo từ lui ra. Tôn Thọ Tường lắc đầu thở ra:


- Quan lớn tin ngươi quá, e mặc họa không chừng…


Xa-li-sét-ti nhún vai cười nhạt. Rồi cắt đặt lính tráng cùng thông ngôn Yên theo mình đến Cầu Vông.


*


Xa-li-sét-ti cưỡi ngựa, đoàn tùy tùng xúm xít chung quanh, đi trên con đường hàng tỉnh rải đá mấp mô, hai bên đồng ruộng mênh mông thỉnh thoảng điểm bụi cây um tùm. Phía trước có đám hổ bôn, đánh trống inh ỏi, dọn đường.


Nhìn cảnh vật chung quanh, Xa-li-sét-ti lấy làm đắc ý. Vĩnh Long là nơi đất đai trù phú, ruộng vườn tươi tốt, cây trái oằn sai bốn mùa. Nước ngọt, khí hậu mát mẻ hơn các nơi, quanh năm suốt tháng điều hòa, vì thế mà sản vật vùng này dồi dào hơn các vùng khác. Sau khi bình định xong giặc Cầu Vông, y sẽ cho thủ hạ đi khai thác nguồn lợi ở đây, tha hồ vơ vét của cải đưa về chánh quốc. Mắt mơ màng, Xa-li-sét-ti hình dung cái ngày rời khỏi nhà binh, sẽ rút vốn gởi ở nhàbăng Nam kỳ để thành lập một công ty bán ngũ cốc mang tên Xa-li-sét-ti…


Bỗng y giựt mình. Đấy đãtới Huyền Hội, mà sao không thấy có vẻ gì linh đình tiếp rước. Y hỏi tên hậu cần:


- Tại sao tôi đã đến đây mà không ai ra đón rước?


 Quân hầu thưa:


- Bẩm, có lẽ họ còn đợi dưới kia…


Được một đỗi nữa, xảy nghe xa xa có tiếng trống đánh liên hồi. Xa-li-sét-ti nhíu mày.


- Trống chi đó?


Đám hổ bôn thưa


- Bẩm, chắc là trống mừng quan lớn.


Xa-li-sét-ti yên lòng cho quân đi tiếp. Tiếng trống lúc đầu còn văng vẳng sau đó mỗi lúc một dồn dập hơn.


Khi đi đến Cầu Vông đã thấy lỗ nhố nghĩa quân tụ tập. Toán binh sĩ hộ vệ viên Tham biện Tây lập tức chuẩn bị đề phòng sự bất trắc.


Bên kia Cầu Vông, Lê Cẩn vừa trong thấy Xa-li-sét-ti ngồi ngựa đến gần đầu cầu, liên nanh như chớp chống tầm vông nhảy vọt qua, ôm ngay Xa-li-sét-ti mà vật ngã nhào xuống đất. Thoắt cái, Xa-li-sét-ti đã nằm gọn trong cánh tay rắn chắc như thép nguội của Lê Cẩn, hắn vùng vẫy nhưng không làm sao thoát được. Gọng kìm mỗi lúc một siết chặt hơn. Bị bất ngờ vả lại thấy Lê Cẩn và Xa-li-sét-ti lăn tròn, toán binh sĩ hộ tên Tham biện đành đứng trơ ra không dám động thủ, e đụng phải chủ mình.


Vừa lúc ấy bỗng nghe tiếng trống trận vang rền. Từ phí trên, Nguyễn Giao dẫn nghĩa quân kéo ra chặn đường về của giặc. Lũ giặc hoảng hốt bỏ chạy song đều bị nghĩa quân dùng gươm giáo chém giết, cả bọn đều bỏ mạng không tên nào chạy thoát. Thông ngôn Yên vừa chạy được mấy bước thì vấp ngã bị Phó Mai bắt sống.


Trong khi Lê Cẩn ở bên sường trái của Xa-li-sét-ti, luồn tay phải dưới bụng y, nắm lấy cánh tay phải y, tay trái ấn bả vai y xuống, đùi phải đè lên kheo chân trái y.


Xa-li-sét-ti liền khép kín chân không cho Lê Cẩn luồn tay bắt đùi để cố sức tháo gỡ tay viét gáy của Lê Cẩn ra. Lê Cẩn cùng một lúc giật tay phải, hẩy bả vai cốt làm y bị vặn lườn ngay giữa thân lên. Xa-li-sét-ti lại lấy đầu làm điểm tựa chủ động lật thân lên, lấy đỉnh và hai chân làm trụ ưỡn cong người không cho vai chạm mặt đất. Lê Cẩn nhanh chóng bắt lấy tay trái y kẹp chặt vào nách, tay kia đưa xuống dùng cánh tay gạt cổ y sang bên kia đồng thời áp mạnh lườn xuống. Trong khi hai người vật nhau cát bụi bay mù trên mặt đất. Xa-li-sét-ti cố sức cưỡng lại không cho Lê Cẩn lật ngửa lên. Hai người lăn xuống hai mép nước rồi bỗng rơi tỏm cả xuống nước, nhưng vẫn ôm nhau chặt cứng không chịu buông ra. Lê Cẩn thấy Xa-li-sét-ti sặc nước tối tăm mặt mũi bèn nhân lúc đó dùng cánh tay bóp chặt lấy cổ y rồi cả hai cùng chìm xuống.


Trước khi chìm sâu xuống nước. Lê Cẩn còn mường tượng thấy hình ảnh Văn Xương Các với mái cong trên vì kèo gỗ như một pháo đài bảo vệ hồn nước in sừng sững trên nền trời khói đen vần vụ. Bỗng một lớp sóng tràn lên lầu, lúc này tòa lầu trở nên trong suốt với mái lưu lư, tưởng dưới Thủy cung. Những rong rêu lập lờ, những đàn cá chập chờn bơi lượn trong sóng nước, uốn đuôi xòe vây khoe lớp vẩy lấp lánh lân tinh. Giữa tiếng đàn sáo dập dìu, Lan hiện ra như một công chúa Thủy cung với đôi mắt long lanh ngấn nước và khuôn mặt bừng sáng dưới ánh trăng hạ huyền. Rồi đôi mứt hoa đi, Lê Cẩn thấy ánh mắt mình hòa tan trong một vầng hào quang rực rỡ đến lòa mắt…


Nguyễn Giao vội cho vớt xác Lê Cẩn lên, một tay anh còn ôm lấy cổ Xa-li-sét-ti, nách vẫn còn kẹp chặt tay trái y. Nghĩa quân gỡ xác Xa-li-sét-ti cắt đầu rồi chôn xách y bên một mé rừng. Thi hài Lê Cẩn được khám liệm trong một quan tài gỗ quý đặt sau bàn thờ.


Giữa lúc ấy. Lan chạy về tới nơi. Cô kêu lên mấy tiếng thảm thiết rồi xông tới hất nắp hòm, cúi xuống ôm lấy xác Lê Cẩn:


- Lê Cẩn anh ơi, đôi ta đã hẹn ước tơ duyên, nguyện chung sống với nhau đến trăm năm đầu bạc. Không ngờ nửa đường gẫy gánh, anh qua đời giữa lúc đầu xanh tuổi trẻ, mất anh sau này nghĩa quân biết trông cậy vào ai. Em những muốn chết theo anh, đôi ta chung một nấm mồ, nhưng vì nghĩ đến mối thù chưa trả, nên đành gượng mà sống, giết lũ giặc ngoại xâm để rửa hờn cho anh, rửa hờn cho dân cho nước. Ở nơi chín suối, anh có thấu chăng cho tấm lòng em… Mới đêm nào. Dưới vầng trăng hạ huyền, đôi ta còn cầm tay nhau bàm chuyện ngày mai, ai dè đến nay kẻ còn người mất. Âm dương hai ngả bao giờ em còn nhìn thấy mặt anh, nghe giọng nói đầm ấm thiết tha của anh…


Rồi lại khóc, nước mắt rỏ xuống thấm ướt khuôn mặt người yêu, khuôn mặt mà bao ngày cô hằng âu yếm ngắm nhìn, khuôn mặt ấy lúc này vẫn tươi như lúc sống. Thấy cô quá đau khổ, Bùi Hữu Nghĩa thương cảm, vội lại gần an ủi:


- Cháu à, bác cũng đã trải qua bao nỗi đau khổ tột cùng khi bác gái qua đời nên bác rất thông cảm với nỗi đau của cháu. Nhưng cháu cũng nên tự hào vì Lê Cẩn đã chết như một anh hùng, dẫu chết nhưng vẫn muôn đời sống mãi trong lòng người. Cháu phải làm sao xứng đáng, ráng nén đau buồn, kiếm cách rửa hờn cho anh ấy. Con cứ sụt sùi khóc lóc rồi vì đau buồn mà lãng quên nhiệm vụ đối với dân với nước thì chỉ là nhi nữ thường tình mà thôi…


Lan gạt nước mắt, đứng lên rắn rỏi:


- Cháu rất cảm kích trước những lời bác vừa khuyên nhủ. Cháu xin hứa với bác, với anh em sẽ sống làm sao cho xứng đáng với anh, xứng đáng với danh hiệu nghĩa quân Cầu Vông.


Cuộc tế người nghĩa sĩ được cử hành ở Gò Vang, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Giao và toàn thể nghĩa quân đều đứng trang nghiêm trước bàn thờ. Sau khi thắp mấy nén hương, một nghĩa quân mang thủ cấp Xa-li-sét-ti lên mâm bổng tế hương hồn Lê Cẩn. Không kịp soạn văn tế, Bùi Hữu Nghĩa ứng khẩu, đọc một bài thơ ai điếu:


Cuộc thế thôi rồi khá xiết thương,


Anh hùng thêm hận lũ Tây dương.


Nêu cao Lê tộc dòng trung nghĩa,


Tiếng khoải Long châu cuộc đoạn trường.


Giồng Ké mây giăng hồn tử sĩ,


Cầu Vông máu nhuộm chữ cương thường.


Ngàn năm dõi dấu can tương(1) mãi,


Giận bấy lâu loàn lúc nhiễu nhương.


Khói hương cuộn vòng mang lời thơ đi xa… đến nơi vô cùng. Tế xong ba tuần rượu, nghĩa quân khiêng linh cữu Lê Cẩn đi mai táng.


Khi chuẩn bị lấp đất, Lan bỗng nhào xuống huyệt ôm lấy quan tài. Mọi người phải lôi cô lên. Cô đã ngất xỉu. Những xẻng đất liên tiếp hắt xuống nắp quan tài. Mọi người nghe tiếng đất dội vào mặt gỗ như tiếng vọng của trái tim mình đang đập trong lồng ngực… Hay đó là tiếng vọng của trái tim người nghĩa sĩ đén phút cuối này vẫn đang đập trong lòng đất.


Thủ cấp của Xa-li-sét-ti được treo lên cây quéo ở gần cầu Mỹ Huê. Vậy là Lê Cẩn đã sắm được sính lễ đúng như lời thách cưới của Lan hôm nào. Cành lá xạc xào lay động, như cả đất trời cùng chứng kiến đám cưới của hai tâm hồn vì nước vì dân mà cái chết cũng không thể nào chia cắt được…


Tin Xa-li-sét-ti đưa về tới quận. Tôn Thọ Tường than:


- Ta liệu không sai. Như vầy e cấp trên sẽ quở trách đến ta chớ chẳng không.


Tường liền báo lên Soái chủ Nam kỳ và xin phái quan binh về dẹp nhóm nghĩa quân Cầu Vông. Đờ la Gờ-răng-đi-e sai ngay tên Đốc phủ sứ Trần Bá Lộc đem binh tới Vũng Liêm đánh dẹp.


Nghe tin Trần Bá Lộc, tên hung thàn khét tiếng kéo đại đội binh mã tới mơi, một số nghĩa quân xin đem binh ra chặn đánh. Suy đi tính lại thấy lúc này lực lượng nghĩa quân còn mỏng nên Nguyễn Giao bàn với anh em hãy tạm rút lui, sang bên kia sông để bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội chiến đấu lâu dài.


Một đêm cuối xuân, Lan chèo xuồng đưa nghĩa quân qua sông. Trong yên lặng chỉ nghe thấy tiếng mái chèo vỗ nước rì rầm, tiếng nước chảy róc rách bên mạn xuồng. Dòng sông Cổ Chiên trong đê tối càng như mênh mang hơn. Tiếng gió thổi ù ù, dòng nước chảy siết, Nguyễn Giao mường tượng như dưới đáy nước có tiếng trống tiếng chiêng văng vẳng.


Nguyễn Giao nói với mọi người:


- Anh em có biết tại sao dòng sông này lại có tên là Cổ Chiên không? Nguyên ngày xư, người ta nhiều lúc nghe thấy từ đáy sông vọng lên tiếng trống, tiếng chiêng vang rền ầm ĩ. Có người cho rằng đó là những anh linh tử sĩ căm hờn uất hận vì thảm tử trong các trận thủy chiến chống ngoại xâm, hồn oan không sao tan được. Vì vậy nên dưới đáy sông vẫn có tiếng chiên khua trống giục, đoàn binh ma xông lên quyết trả mối thù xưa.


Bùi Hữu Nghĩa gật đầu:


- Đúng rồi! Tôi nhớ ông Tú Chiểu trong bài Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh cũng có câu: “Long Tường giang mỗi lúc hoàng hôn, khó nước xông mù, lửa đóm nháng binh ma chèo dưới vực”…


Nguyễn Giao nói:


- Cũng vì nghe dưới sông nước chảy như có tiếng trống chiêng, ngươi ta bèn đặt tên sông là Cổ Chinh. Cổ là trốgn, chinh là chiêng, su đó người ta đọc trại ra là Cổ Chiêng rồi lâu ngày gọi mãi lại biết thành Cổ Chiêng. Dầu có thể đó chỉ là huyền thoại, nhưng đối với chúng ta vẫn có một ý nghĩa: tiếng trống chiêng là tiếgn vọng của bao anh hùng liệt sĩ thôi thúc chúgn ta phải làm sao quét sạch ngoại xâm, rửa hờn đất nước để anh hồn các tiên liệt được ngậm cười nơi chín suối. Các anh em có cùng một ý với tôi không?


Mọi người reo lên hưởng ứng:


- Phải lắm! Phải lắm!


Xuồng ra tới giữa dòng, khói nước mù mịt hơn, mọi người tưởng chừng nghe thấy tiếng mái chèo của đoàn binh ma dập trên sóng. Ai như Lê Cẩn đang đứng đầu đoàn quân xông lên trong tiếng chiêng trống vang lừng…


Tới bên kia sông Bùi Hữu Nghĩa nói với Nguyễn Giao:


- Vùng này đất đai bằng phẳng, không phải là chỗ có thể xây dựng căn cứ lâu dài. Mới đây tôi đi qua vùng Bảy Núi ở Châu Đốc, thấy núi non hiểm trở, địa thế thuận tiện cho việc phòng thủ, chi bằng ta rút quân về đó đógn giữ, tiến có thể kéo quân ra đán úp địch, thaói có thể tiêu diệt nổi ta. Dân ở đó đều sẵn sàng giúp đỡ, che chở cho ta, sát cánh cùng ta đánh giặc. Chẳng hay ý anh nghĩ sao?


Nguyễn Giao nói;


- Lời ông Thủ khoa rất hợp ý tôi. Nhưng tôi nghĩ trong lúc thất thời ta tạm tránh mũi nhọn của địch nên phải rút vào trong núi, nhưng nếu chỉ thủ hiếm không thôi thì cũng không phải là thượng sách…


Bùi Hữu Nghĩa ngẫm nghi một hồi:


- Tôi vừa nhận được thư của ông Nguyễn Thông cho biết ông đã điều tra tình hình mọi mặt vùng cao nguyên La Ngư, Ba Dần phía nam tỉnh Bình Thuận. Mới đây ông lại dâng vua bài Khai Sơn quốc nghị, nhằm mở mang vùng Tây nguyên làm căn cứ kháng chiến lâu dài. Vậy anh nên ra ngoài đó, cùng ông lo liệu công việc đồn khẩn, nếu mộ được dân binh ở đó để làm thanh viện cho nghĩa quân trong này, thì sẽ tạo được cái thế nội ứng ngoại hợp, bao vây, ngăn chặn giặc ở khắp nơi, tiến lên quet sạch bọn chúng, đó mới là kế vạn toàn. Anh cứ yên tâm mà đi, tôi sẽ dẫn đường nghĩa quân về Bảy Núi.


Nguyễn Giao từ biệt Bùi Hữu Nghĩa và các tướng sĩ nghĩa quân rồi lên đường. Vầng trăng hạ huyền mỏng như lưỡi câu bạc thả lưo lửng xuống dòng Nghĩa hà nhấp nhánh. Lúc bấy giờ đang còn là đem, nhưng Nguyễn Giao thấy mỗi lúc một rạng dần, trời bắt đầu trắng đục một màu giấy bản.


XI- Bên bờ sông Cà Ty Phan Thiết ở phía tây nam cầu Đức Thắng, có một ngôi đình nhỏ, tường xay bằng gạch ống, mái lợp ngói âm dương, mặt trước xây nhiều cửa vòm có cột trụ ngăn cách. Trong nhà có bộ cột kèo, đòn dông bằng gỗ. Nhà có hai tầng, tầng trên là nơi ngồi thưởng trà, đọc sách. Sau nhà là một cây khế, lá cành xanh, hoa xòe nụ tím hồng.


Từ khi cáo bệnh về nghỉ ở phủ Hàm thuận, tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Thông dựng ngôi đình này đặt tên là “Ngọa du sào” nghĩa là ổ nằm chơi. Ngày lạc thành, ông làm thơ như sau:


Kỵ hạc tham loan sự tiệm vi,


Thiên giao nhà trú lão sài phi.


Sổ gian hà cái lâm thu thủy,


Bán tháp tùng phong ngọa thúy vi.


Điếu bãi dã hàng đương hộ bạc,


Ngâm thành khê điểu hạng thiềm vi.


Ky sào tự giách kê thê ổn,


Hà đụng quy lại hối tạc phi.(1)


Đình kề sông Cà Ty, khi sóng lặng trăng lên, Nguyễn Thông nhân hứng bơi thuyền dạo chơi, hết hứng lại về, cùng một vài người bạn thân ngâm vịnh làm vui. Tuy lòng thường khi băn khoăn nhớ quê cũ ở Tân An, nhưng ở đây lâu ngày quen thuộc, dần dần cũng khuây khỏa.


Năm Canh Thìn(2) Nguyễn Thông nhận được mật chỉ khu xử việc người trong Nam vì không chịu sống dưới ách chiếm của Pháp tiếp tục tị địa.


Tháng bảy năm ấy, Nguyễn Thông họp với những người Nam kỳ là bọn Mạc Thận bàn việc lập hội đồng hương gọi là Đồng châu xã, ủy cho bọn Lê Bá Sơn, Nguyễn Văn Sách đem tập mặt tấu đến nhờ tỉnh Khánh Hòa chuyển. Sau tỉnh Khánh Hòa lại giao trả tất cả về tỉnh Bình Thuận, lại mở thư riêng của Nguyễn Thông, muốn nhân đó gây khó khăn. Tuần phủ mới ghi Nguyễn Thông bới móc việc của tỉnh, lại đem tập mặt tấu ấy giao về phủ Hàm Thuận, Tri phủ Trần Huy xan đem đến tận nhà Nguyễn Thông, đề nghị viết lùi ngày tháng lại muốn đằng sai để dìm việc này đi. Nguyễn Thông từ chối không sửa lại. Trần Huy Xán không biết làm thế nào, đành phải chuyển về kinh. Sau giấy tờ qua lại, mãi đến tháng hai năm Tân Tỵ(3) mới nhận được lục chỉ cho phép lập xã của triều đình.


Nguyễn Thông liền đặt ra bốn khu Đồng Châu, hai làng Thanh Sơn, Lục Dã, hai sở Hàn Gian, Liên trì, đều đặt đầu mục trông coi, mọi người được yên ở vô sự.


Công việc tạm xong, Nguyễn Thông cùng với những người đồng châu giúp việc là Mạc Ngoạn, Lâm Hy, Trần Xuân, Nguyễn Điểu, Trần Nha, Lê Liệu, Nguyễn Văn Đường, Mứa VIễn và người địa phương là Nguyễn Dự đi xem khoảnh đất ở thôn Long Khê, phía đông phủ Hàm Thuận, có đồi cát, tứ phía có núi bao bọc, cây cối rập rờn. Mọi người đều cho là chỗ đất tốt, bèn dựng ngôi đền gọi là đền Ngụ Hiền, để thờ những vị tiên hiền ở Nam trung ra ngoài này, có danh vọng đức độ, nay quá cố thì được thờ tại đây, để dân chúng và sĩ phu trông vào mà noi gương.


Trước đây đền có dựng bái đình, phía tây dựng quán Đồng Châu làm nơi hội họp; ở giữa để trống làm đường đi, mặt trước dựng lầu Vọng kinh, đằng sau có nhà làm nơi trú ngụ cho những người đồng châu làm việc. Ngày làm lễ lạc thành, các người lưu ngụ ở Nam kỳ ra, các quan văn võ và nhân sĩ dân chúng đều đến dự, giống như một ngày hội lớn ở Gia Định.


Nguyễn Thông được cử sung chức Điển nông phó sứ kiêm Đốc học, làm việc buôn tại hội quán Đồng Châu.


Tháng sáu năm Nhâm Ngọ(1), cố phái viên của Pháp qua lại vùng thượng du thăm dò địa thế. Vua sai Doanh điền sứ Thuận Khánh là Nguyễn Văn Phương họp với phái viên Pháp khám đồn điền Bảo Chính thuộc phái nam tỉnh Bình Thuận. Phái viên Pháp thấy Đồng Châu xã đồn khẩu ở chỗ giáp giới Biên Hòa nơi chúng chiêm đóng, sợ xảy ra điều gì nguy hại cho chúng, nên nói phao rằng bọn Nguyễn Thông phiến động. Các nhà đương sự đổ lỗi cho Nguyễn Thông bảo rằng không khéo che giấu, việc chưa làm mà tiếng đồn đã lan ra ngoài. Rồi họ mật tâu xin triệu Nguyễn Thông về, giao việc Đồng Châu lại cho tuần phủ Bình Thuận là Trần Lưu Huệ và Doanh điền sứ là Đặng Duy làm thay. Ý họ là muốn triệt bãi việc Đồng Châu để cho bọn Pháp khỏi nghi ngờ.


Sớ tâu lên, Tự Đức bảo rằng: “Tình thế không thể không xảy ra như thế. Nhưng người Nam kỳ lỡ bước, bơ vơ không nơi nương tựa, không có Nguyễn Thông giúp đỡ thì sẽ phải cực khổ, chưa chắc chúng đã phục tình, không khéo lại vào vùng dân Man quấy rối. Truyền cho Trần Lưu Huệ xét tâu. Vả lại viên ấy tự xét có thể đương nổi việc không?”


Tiếp đó Trần Lưu Huệ hêt sức tâu xin đừng thay đổi, vả lại nói ông ta biết rõ việc ấy khó khăn, giếng sâu dây ngắn, không thể đương nổi.


Sau đó phái viên của Pháp cũng đi nơi khác, không hành động gì. Vì thế những lời bàn tán im dần và người Nam kỳ thì vui mừng yên ổn làm ăn như cũ. Có người tậu ruộng xây nhà, tính bài ở lâu, giàu nghèo giúp nhau, hoạn nạn cứu nhau. Tuy xiên tán ở chốn tha hương mà lại có cái vui cùng nhau đoàn tụ.


Phủ Hàm Thuận cùn với phủ Phước Tuy, Biên Hòa do Pháp chiếm đóng, đường thủy đường bộ đều liên tiếp với nhau. Nguyễn Thông khéo vỗ về sắp xếp, người Hoa kiều, người Nam trong ấy ra tới kiều ngụ, dều đối đãi tử tế, nên tình hình chôn địa đầ được tạm yên.


Tháng tư năm Quí Mùi(2) một số tù chính trị bị Pháp giam giữ ở đảo Bảy Cạnh đã tổ chức phá ngục cướp thuyền chạy ra Bình Thuận. Họ được Nguyễn Thông che giấu trong nhà, săn sóc và cho ăn uống dưỡng sức.


Bất đồ hạ tuần tháng bảy năm ấy, tiếp được tin mật báo rằng ngày rằm tháng ấy, hỏa thuyền Pháp ngoài khơi vào cửa Thuận An xả súng bắn vào, tiếng súng chuyển đất. Đến ngày 18 thì lính Pháp đổ bộ, hàm Trấn hải đài, chiếm cứ đồn lũy, kinh đô bị đe dọa rất nguy cấp. Ở Bắc kỳ, Hải Dương và nhiều tỉnh khác cũng bị mất. Phái viên toàn quyền của Pháp là Hác-măng buộc ta phải ký hòa ước. Triều đình Huế đầu hàng, ký hiệp ước Hác-măng thừa nhận quyền “bảo hộ” của Pháp ở Bắc kỳ và Trung kỳ, mà khoản thứ hai, cắt tỉnh Bình Thuận nhượng cho Pháp quản trị. Vì thế có tin phao rằng quân Pháp bất nhật sẽ tới chiếm từ Phố Hội trở ra Bắc. Quân lính và dân chúng sợ hãi, quan lại bỏ trốn, các thủ thành vắng tanh. Nguyễn Thông vẫn bình tĩnh trù liệu việc đối phó với giặc trấn an được tinh thần quan lại và dân chúng trong vùng, nhờ thế phủ Hàm Thuận vẫn yên ổn.


Khi rảnh rỗi, Nguyễn Thông đem những tư liệu sưu tập được khi còn làm việc ở Lầu Tàng Thơ và khi khảo duyệt bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục ở Viện Hàn lâm ra nghiên cứu lại. Ông tìm hiểu về lịch sử ngoại thương của ta trước đây.


Theo tư liệu, Hải phố(1) là nơi mở cửa thông thương với người Âu châu sớm hơn hết ở Đàng Trong, và ở đây người Tàu người Nhật đã đến buôn bán từ lâu. Hàng năm voà khoảng tháng rưỡi một, tháng chạp ghe tàu Âu chân hoặc Trung quốc từ Trung quốc, Nhật bản, Đài loan hoặc từ Phi luật tuân, Ka-lắc-ca. Đem đến đồ sành, đồ sứ, giấy, kim loại, lưu huỳnh, diêm sinh, trà, bạc thoi, binh khí, ni, vải… đề bán, rồi mua sản vật của ta như tơ, lụa, đường, gỗ mum, trầm hương, quế, tiêu, gạo… Sau sáu, bảy tháng trao đổi xong, ghe, tàu ấy đi. Các thương nhân Hòa lan(2), Anh cát lợi đến ta đều là người của công ty Ấn độ Hòa lan, Công ty Ấn độ của Anh cát lợi, và ở Hải phố (Đàng trong) và Phố Hiến (Đàng ngoài) họ có lập những thương quán để lưu trú, còn thương nhân Bồ đào nha thì đều là những nhà buôn riêng, không thuộc một thương hội nào, và không lập thương quán, đến mùa mua bán họ đến tạm trú ở nhà người Trung hoa hoặc Nhật bản đại diện họ ở đây, hoặc nhà các giáo sĩ đồng bang, mua bán xong thì đi, ủy mọi việc cho người đại diện. Trong việc giao thiệp với vua, quan ta và người bản xứ, họ nhờ người Nhật hoặc người Trung hoa làm thông ngôn hoặc trung gian. Ngoài các món Huế xuất khẩu, nhập khẩu của ghe, tàu, người Âu châu mỗi khi đến buôn bán thường đem tặng Vua, Chúa ta những phẩm vật quí giá.


Không chỉ không cấm đoán người Âu châu vào thông thương, vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn còn tiếp đãi họ tử tế, nhã nhặn mỗi khi họ được diện yết, và nhiều lần viết thư mời họ đến buôn bán, ký hiệp ước thương mại với họ nữa. Chúa Trịnh căn bản đã trả lời thư của vua Phú lang sa LôY đệ tứ(3), Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã gửi thư cho vua Phú lang sa Lô Y đệ ngũ(4). Trong các bức thư của Chúa Minh vương Nguyễn Phúc Chu giử cho người đứng tàu Công ty Ấn độ của Anh cát lợi, lời lẽ rất nhã nhặn và lễ độ. Trong sự giao thiệp với người Âu châu và đối phó với những thỉnh cầu của họ thưở ấy, tuy Vua, Chúa ta thu được lợi lộc nhưng không bao giờ để chủ quyền của mình bị xâm phạm. Cho phép họ đến buôn bán và lập thương quán, ngoài ra họ không được hưởng điều kiện gì có thể thiệt hại đến quyền lợi mình, có khi hứa điều này điều nọ, cũng là hứa một cách ngoại giao mà thôi. Và hễ khi họ tỏ ra phản nghịch như trường hợp ngưòi Hòa lan sau đó, họ liền bị trừng giới thích đáng ngay.


Người Bồ đào nha và ngời Hòa lan thưở ấy kình địch nhau dữ dội. Họ đánh cướp, tịch thu hàng hóa trên tàu thuyền của nhau ở ngoài biển. Ở nước ta họ tìm cách cản trở việc thương mại của nhau, và tố cáo lẫn nhau với Vua, Chúa ta, khi thấy một bên được dung nạp thì bên kia xúc xiểm để ly gián. Thế mà Vua, Chúa ta không hề nghe lời dèm pha ấy, luôn luôn đối đãi hợp lệ công bằng và quyền lợi của xứ mình.


Người Bồ đào nha đến Đàng trong trước nên thân cận với Chúa Nguyễn hơn. Ngoài việc đem đến bán cho Chúa bính khí, súng đại bác, súng điểu thương, vật liệu để làm thuốc súng như lưu huỳnh, diêm sinh… lại có một người lại Bồ(1) tới Đàng trong trước năm Ất Mão(2) lập lò đúc súng gần Huế, ở chỗ nay gọi là Phường Đúc, đã đúc cho chúa Nguyễn súng đại bác. Các chúa Nguyễn cũng muốn lợi dụng khoa học Âu châu, nên từ đời Chúa Hiền Vương đến chúa Võ Vương, người ta thấy nhiều giáo sĩ giúp việc thiên văn, toán học và ngự y tại phủ Chúa.


Cũng như Chúa Nguyễn nhờ người Bồ, Chúa Trịnh được người Hòa lan, người Anh cát lợi bán cho nhiều súng đại bác và đạn dược.


Bấy giờ thuyền, tàu ngoại quốc đến nước ta phải chịu thuế nhập cảng, xuất cảng. Ở Đàng trong, thời Chúa Võ Vương minh định thuế ấy như sau: Thuyền buôn Thượng hải, Quảng đông khi đến nạp thuế 3000 quan tiền, khi đi nạp thuế 300 quan tiền; thuyền buôn Phúc kiến đến nạp 2000 quan, đi nạp 300 quan; tàu Âu châu đến nạp 8000 quan, đi nạp 800 quan; tàu Áo môn, Nhật bản đến nạp 4000 quan, đi nạp 400 quan, tàu Xiên la, Phi luật tân đến nạp 2000 quan, đi nạp 200 quan; thuyền tàu không có hàng hóa không cho vào bến, thuyền tàu giấu số hàng hóa chở sẽ bị tịch thu cả tàu lẫn hàng.


Xem thế ta biết rằng Chúa Nguyễn từ khi mới dựng nghiệp ở Đàng trong, cũng như Chúa Trịnh ở Đàng ngoài đã mở hải cảng cho các nước phương Đông và phương Tây đến thông thương không cấm đoán một nước nào, và thuyền, tàu vào, ra đều chịu một suất thuế ấn định rõ ràng.


Năm Đinh Sửu(3) một chiếc tàu Hòa lan đem hàng hóa đem Đàng ngoài dâng phẩm vật (một khẩu đại bác) lên chúa Trịnh. Chúa Trịnh Tráng cho yết kiến, đãi tử tế rồi cho phép mở thương quán ở Phố Hiến. Chiếc tàu này cũng ghé qua Đàng trong buôn bán và được Chúa Công Thương Vương ủy mang một bức thư và phẩm vật về cho đoàn thuyền Ba-ta-vi-a. trong thư, Chúa tỏ ý sẽ được hài lòng nếu người Hòa lan đến buôn bán ở xứ mình.


Nhưng sau khi thấy người Hòa lan định giúp cho Chúa Trịnh đánh mình, nên Chúa Nguyễn đổi thái độ.


Năm Nhâm Tỵ(4) có hai chiếc tàu Hòa Lan bị bão đánh giạt vào gần Hải phố, hàng hóa và 18 súng đại bác bị tịch thu, 81 thủy thủ bị bắt giam. Năm sau, Chúa Công Thương Vương thả một số lớn thủy thủ của hai tàu kia, cho về nước, đi đường rủi họ bị tàu người Bồ bắt, giết một số, một số khác bị người Chiêm thành bắt. Công ty Ấn độ Hòa lan không biết viêc ấy sai Von Liéts ven đem tàu sang đánh Chúa Nguyễn, nhưng kết quả người Hòa lan thua to, Van Liétsven tử trận cùng một số lính, người Hòa lan giết, bắt một số người Việt ở duyên hải rồi xuôi buồm ra Bắc.


Năm Quý Mùi(1), người Hòa lan định phối hợp thủy quân mình với lục quân Chúa Trịnh để đánh Chúa Nguyễn; tàu Hòa lan đánh mặt thủy còn mặt bộ thì giao cho Chúa Trịnh. Năm chiếc tàu Hòa lan từ Đài loan sang dự chiến, nhưng viên chỉ huy đoàn tàu thấy rằng bộ binh Chúa Trịnh chư tề chỉnh nên cho tàu đi thẳng về Ba-ta-vi-a.


Một tháng sau, Đô đốc Hòa lan Pi-e-tơ Ba-ếch chỉ huy ba chiếc tàu chiến từ Ba-ta-vi-a sang Quảng Bình để gặp quân Chúa Trịnh, khi đi ngang qua biển cửa Hàn, gặp mấy chiếc ghe chiến của Công Thượng Vương do Thế tử là Dũng lễ hầu (tức Hiền Vương sau này) điều khiển, đổ ra vây đánh. Chiếc tàu lớn hơn của người Hòa lan bị ghe Việt xông vào đánh phá, Ba-ếch và thủy thủ đều tử trận, hai chiến thuyền kia thua, bỏ chạy ra Bắc.


Năm sau, hai người Hòa lan con cho tàu sang định tàn phá bờ biển Đàng trong, nhưng vì chúa Nguyễn phòng thủ cẩn thận, tàu Hòa lan phải đi thẳng qua Đài loan.


Thấy chiến tranh không lợi cho việc buôn bán, Công ty Ấn độ Hòa lan phải đổi chính sách. Năm Tân Mão(2) sai sứ giả là Véc-stơ-ghen sang Đàng trong nghị hòa. Chúa Hiền Vương đã lên ngôi cha, cũng muốn giao hảo với người phương Tây nên chịu bỏ qua việc dĩ vãng, hai bên cùng ký một bản hòa ước trả lại nhau những người đã bị bắt; để người Hòa lan tự do đến buôn bán và lập một thương quán khác, từ đây về sau người Việt và người Hòa lan bị tội đại hình sẽ do Thẩm phán của nước mình xét xử; hai bên giúp đỡ lẫn nhau khi có ghe tàu bị nạn; bỏ quan thuế, thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu.


Nguyễn Thông thầm nghĩ, năm Tân Tỵ(3) khi vua Phú Lang Sa Lô Y thập bát(3) sai một viên Khâm sai sang nước ta dâng quốc thư và phẩm vật lên vua Minh Mạng để xin lập một thương ước, giá vua Minh Mạng biết noi gương liệt tổ, cứ cho họ vào thông thương nhưng bắt họ ký một hiệp ước chặt chẽ như với người Hòa lan trước đây và khi thấy họ giở trò thì trừng trị thẳng tay; mặt khác mở cửa cho nhiều nước vào buôn bán, đẻ họ kìm chân lẫn nhau, hễ nước nào định xâm lược nước ta thì sẽ có nước khác ngăn cản, thì có lẽ không xảy ra cớ sự ngày nay. Cứ xem như việc người Anh ở Ấn độ, người Ý pha nho ở Phi luật tân, người Hòa lan ở Nam Dương quần đảo luông nhắc nhở vua Minh Mạng về âm mưu của Phú lang sa thì đủ thấy điều này. Thật ra Phú lang sa đã có ý định xâm chiếm nước ta từ lâu. Năm Bính Dần(4) Công ty Đông Ấn độ của Phú sai một nhân viên tên Vê-rê sang Đàng trong tìm nơi lập thương quán. Vê-rê khuyên nên chiếm đảo Côn Lôn vì nó nằm trên đường đi của tàu thuyền đi từ Ấn độ sang Trung hoa, Chân lạp, Ai lao. Nhưng sau họ cho rằng Côn Lôn không có sản vật, khí hậu không hợp với người Âu châu, nên mới thôi.


Năm Kỷ Tỵ(5), người Phú Pie Poa-vrơ được Công ty Đông Ấn độ phái sang lập thương quán ở Đàng trong và tìm cách đoạt độc quyền mua bán hương liệu (quế, tiêu, gừng, hồi hương) của người Hòa lan. Poa-vrơ mới đến Huế yết kiến vau Võ Vương dâng lễ vật, được Chúa tiếp tử tế. Năm sau, y về có mang một bức thư của Chúa gửi cho vua Phu. Poa-vrơ nói với vua Phú, nếu muốn sang buôn bán thì phải có sức mạnh để người ta sợ và kính mới được. Nhưng lúc bấy giờ Phú đang có rối loạn trong nước, nên đành phải bỏ những điều mưu tính.


Năm Mậu Tuất(1), viên Tuấn thủ Săng-đéc-na-go thanh thị Ấn Độ thuộc Phú Sơ-vo-li-ê do thám biết ở Đàng trong đang xảy ra cuộc giao tranh với Tây sơn, mà người Anh Sếp-mên đã đến yết kiến Nguyễn Nhạc, nên làm tờ trình, xin vua Phú đem quân sang giúp Chúa Nguyễn rồi thừa dịp chiếm lấy nước ta. Nhưng bây giờ Phú đượng dự vào cuộc chiến tranh ở nước Mỹ nên chưa rảnh tay tính đến việc ở Đàng trong xa xôi.


Khi Nguyễn Giao từ trong Nam ra Bình Thuận gặp Nguyễn Thông, chàng kể cho thầy nghe về tình hình đánh Pháp ở Vĩnh Long và các tỉnh Nam kỳ. Nghe xong, Nguyễn Thông trầm ngâm một hồi rồi nói:


- Trước đây khi còn ở trong Nam thầy đã nghe liệu định tình hình có thể như thế, nên đẫ ra ngoài này tìm cách đồn khẩn ở các tỉnh nam Trung kỳ và vùng Tây nguyên, tạo căn cứ kháng chiến lâu dài, chi viện cho các tỉnh Nam kỳ đánh giặc. Khi ra kinh đô làm việc, thầy lại được gặp ông Phạm Thú Thứ, ông khuyên thầy không chỉ nên chú trọng đến nông nghiệp mà còn phải quan tâm mở mang công, thương nghiệp, đi theo chủ trương canh tân đất nước mới có thể làm cho dân giàu nước mạnh, đủ sức thắng Pháp.


Nguyễn Giao hỏi:


- Bẩm thầy, chủ trương canh tân đất nước của Phạm đại nhân như thế nào ạ?


Nguyễn Thông kể qua những việc Phạm Phú Thứ đã từng làm trước đây như: đề nghị nhà nước cho thuyền buôn của dân thay thế tàu vận tải của nhà nước, chở gạo các tỉnh về bán ở kinh thành, để tàu của nhà nước vận chuyển hàng nặng và tuần tra bờ biển. Ông nêu lên những điều bất lợi trong việc dùng thuyền nhà nước vận chuyển gạo thóc về kinh và những điều lợi trong việc dùng thuyền tư nhân và ông đề nghị nhà nước quy định biểu cước phí hợp lý để trả công cho thuyền dân và biểu lãi suất tính theo trọng lượng gạo và quy định lề lối kiểm tra chặt chẽ giá mua và giá bán. Ông đề nghị bãi bỏ các trạm tuần ti các cửa biển và cửa sông cản trở nhiều việc thông thương hàng hóa. Ông vừa đề nghị lên trên vua vừa làm thí điểm ở Ninh Hải, áp dụng thuế lệ mới đối với thuyền buôn bán; đánh thuế theo số lượng hàng hóa chứ không theo cỡ thuyền như trước kia. Ông đề nghị mở cảng ngoại thương, chủ trương đối xử bình đẳng với thuyền buôn các nước. Về công, ông khuyến khích nhà giàu bỏ vốn mở mang công nghệ, đề nhị miễn tạp dịch và đánh thuế nhẹ các hộ thủ công cho dân nghèo khai thác than đá ở Quảng Yên để giải quyết công ăn việc làm cho dân, đồng thời tăng nguồn cung ứng cho xuất khẩu theo yêu cầu của lái buôn ngoại quốc, đề nghị khai thác hơn mười cơ sở mỏ sắt và than đá.


Nhưng không chỉ mở mang kinh tế mà còn phải chuẩn bị quốc phòng. Ông đề nghị đưa thêm chức quan văn vào các chức thống lĩnh, tăng lương bổng cho quan võ và lính Cục vũ khố nên có chức năng chế tạo đại bác. Đồng thời mua đại bác kiểu mới của Tây. Quân đội tăng cường luyện tập bắn súng. Tổ chức tuyển quân phải được tiến hành chu đáo ở các địa phương để tránh tình trạng hụt quân số. Lập trường thủy học, và nghiên cứu kỹ thuật hàng hải, nghiên cứu bờ biển, cửa sông của ta và các nước lân cận, nghiên cứu phương pháp phòng bị bờ biển, cửa sông, sửa chữa tàu thuyền, vẽ bản đồ bờ biển và sông ngòi. Khi ta đã giàu mạnh mà Pháp vẫn ngoan cố, ta sẽ tuyên thệ với trời đất quyết không đội trời chung với chúng. Về đường lối đối ngoại, ông đề nghị đặt quan hệ ngoại giao cả với Anh, Tây Ban Nha và Phổ để hạn chế sự thao túng của Pháp. Theo ông mở rộng quan hệ với các nước thì mới không bị cô lập, không bị khinh thường và mới duy trì để yên ổn được.


Kể xong, Nguyễn Thông ngậm ngùi nói:


- Tiếc rằng những điều trần của ông Trúc Đường từ năm Ất Sửu(1) cho đến lúc cuối đời đều bị triều đình bác bỏ. Ông từng tâm sự với thầy có khi ông đột nhiên nửa đêm một mình đứng dậy, nổi giận đùng đùng, có khi ngồi một mình, lặng lẽ rơi nước mắt, vừa giận vừa khóc, không biết nói gì. Ông Trúc Đường không những đã có công cứu giúp khi ta mắc nạn, còn bảo ta lựa chọn một số bài thơ ta làm đưa ông coi để ông phê duyệt. Ông là bậc thầy về văn chương của ta, nhưng đến nay ta hiểu rằng ông còn là bậc thầy của ta về mặt kinh tế nữa. Ta biết rằng ta muốn kế tục con đường của ông lúc này đã muộn, nhưng muộn còn hơn không. May có anh ra đây, anh cố giúp thầy một tay lo chấn hưng công, thương nghiệp để làm nền móng cho công cuộc canh tân…


Từ đó hai thầy trò hăng hái bắt tay vào việc lập lò vôi sò, làm đồ gốm, tổ chức việc đánh cá bằng lưới “rùng”, buôn bán với đồng bào dân tộc ít nươi, bán muối, vải cho họ và mua ngà voi, lâm sản của họ mang về xuôi bán.


Nguyễn Thông cho xây dựng một ngôi nhà gọi là Nhà Ngư, chứa dụng cụ đánh cá và làm kho chứa cá, làm mắm. Ông cử Nguyễn Giao làm đội trưởng đội thuyền đánh cá, đội thuyền ra khơi mỗi mẻ đánh được hàng tấn cá. Nhờ thế kinh tế gia đình và trong vùng đều được sung túc. Ông dự định khi nào có đủ vốn sẽ đứng ra lập một cơ sở làm nước mắm, đem bán khắp mọi nơi để thu được nguồn lợi dồi dào. Từ đó ông sẽ lập một ngôi trường để mở mang dân trí, trường không chỉ dạy kinh sử mà còn dạy cả những sách nói về khoa học, kỹ thuật của phương Tây do Phạm Phú Thứ in.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Tên một thanh gươm báu đời xưa, đây chỉ người tướng giỏi.




(1)     Việc làm hạc làm loan dần thấy là trái với mình,


Trời xui về dưỡng già bên cánh cửa lau.


Mấy gian nhà lợp lá sen ở kề bên sông thu,


Nửa mảnh giường hóng gió tùng nằm bên núi biếc.


Đi câu về, thuyền chài đậu ngay trước cửa,


Thơ ngâm xong, chim núi bay sát mái nhà.


Buộc tổ rồi tự biết mình như con gà đã có nơi đậu yên,


Nào cần phải lấy việc trở về mà ăn năn hôm qua đã sai lầm.




(2) Năm 1880.




(3) Năm 1881.




(1) Năm 1882.




(2) Năm 1883.




(1) Phái gọi là Faifo.




(2) Ban đầu ta phiên âm Hollond là Hòa lan sau mới theo sách Trung quốc gọi Hà lan.




(3) Tức Louis IV.




(4) Tên là Nathoniel Higgisnon.




(1) Tên Jean de la Croix.




(2) Năm 1615.




(3) Năm 1617.




(4) Năm 1641.




(1) Năm 1643.




(2) Năm 1651.




(3) Năn 1821. Đời Louis XVIII.




 




(4) Năm 1686.




(5) Năm 1749.




(1) Năm 1778.




(1) Năm 1855, Trc Đường là tên hiu ca Phm Phú Th.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »