tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18474184
09.07.2012
Tư liệu
Các vị Vua Việt Nam

Do hoàn cảnh lịch sử, vua Việt Nam có thể có những danh hiệu khác nhau, cao nhất là hoàng đế, thấp hơn là "vương", thấp nữa là "công" hoặc "Tiết độ sứ".


Sau thời kỳ Bắc thuộc, bắt đầu với triều đại nhà Đinh các vua người Việt đã xưng hoàng đế, đây là điều thách thức thần quyền của các vua Trung Quốc, người vẫn tự xưng là con trời ("thiên tử") vâng mạng trời ("thiên mệnh") cai trị "thiên hạ", và đụng chạm tới tính chính danh của họ, tức lúc đó thế giới có đến hai vua. Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người Việt ở Thăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng, ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mạng trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mạng trời cai trị dân đối với dân nước Việt. Vua Việt Nam tự ví mình với Mặt Trời như vua Trung Quốc. Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vua ở Thăng Long là ngai vàng của Hoàng đế nước Nam người trị vì "Vương quốc phía nam" theo mệnh trời. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc.


Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Các vua nước Việt được chính thức dùng các nghi thức đặc biệt nhạy cảm với vua Trung Quốc như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, được quyền phong chức tước cho các thánh, thần, sông núi ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi...; có vua Việt Nam còn mượn cớ đau chân để khỏi quỳ gối trước chiếu chỉ vua Trung Quốc để chứng tỏ mình không phải là cấp dưới của vua Trung Quốc. Tóm lại, các vị vua của Việt Nam là các vị vua thực sự như các vua Trung Quốc.


 


Các vua Việt Nam đã dùng gần như đầy đủ các nghi thức thần quyền phong kiến dành riêng cho vua chúa Trung Quốc, chỉ có cái khác duy nhất là quyền lực thần quyền này không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại, quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi.


 


Thiên mệnh của vua Trung Quốc chỉ kéo dài đến biên giới Việt-Hoa, biên giới này về cơ bản gần giống với ngày nay.[cần dẫn nguồn] Theo ý thức thần quyền của hai chế độ phong kiến thì biên giới này do Trời vạch sẵn và được Trời cũng như các thần bảo vệ. Cả hai nước đều ý thức được tầm quan trọng của đường biên giới này trong việc duy trì quyền lực giữa hai nước và đã giữ được sự cố định truyền thống của nó trong một thời gian rất dài trong lịch sử. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế với giá rẻ nhất.


 


Vì vậy Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một nước chư hầu của Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình như vua Quang Trung. Vào lúc loạn lạc thay đổi triều đại ở Việt Nam là cơ hội tốt để các triều đại phong kiến phương bắc mượn cớ giúp vua triều trước, không chịu sắc phong cho vua mới hoặc đem quân qua can thiệp nhằm chiếm đóng và đô hộ lâu dài nước Việt như thời nhà Minh, nhà Thanh. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh. Hầu hết các vị vua đều được biết bằng miếu hiệu, trong khi các vua nhà Nguyễn được biết bằng niên hiệu.


 


Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam từ khi hình thành nhà nước đến hết thời kỳ phong kiến.


Hồng Bàng và Văn Lang


Thời Hồng Bàng và nước Văn Lang mang tính truyền thuyết, có nhiều giả thuyết chưa thống nhất. Tên hiệu các vua Hùng được Hùng triều ngọc phả ghi gồm các vua như sau[1]:


Hùng Vương     Tên húy             Trị vì[1]


Lục Dương Vương        Kinh Dương Vương, Hùng Dương hay Lộc Tục 2879 TCN[2]


Hùng Hiền Vương         Lạc Long Quân, Hùng Hiền hay Sùng Lãm          Trị vì từ năm 2839-2439 TCN, có nhiều đời vua đều xưng là Hùng Hiền Vương


Hùng Quốc Vương        Lân Lang           Trị vì từ 2439-2218 TCN gồm nhiều đời vua,


đều xưng là Hùng Quốc Vương


Hùng Diệp Vương         Bảo Lang          Gồm nhiều vua Trị vì từ 2218-1918 TCN,


đều xưng Hùng Diệp Vương


Hùng Hy Vương            Viên Lang         Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1918-1718 TCN,


đều xưng Hùng Hy Vương


Hùng Huy Vương          Pháp Hải Lang Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1718-1631 TCN,


đều xưng Hùng Huy Vương


Hùng Chiêu Vương        Lang Liêu          Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1631-1431 TCN,


đều xưng Hùng Chiêu Vương


Hùng Vi Vương             Thừa Vân Lang Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1431-1331 TCN,


đều xưng Hùng Vi Vương


Hùng Định Vương         Quân Lang        Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1331-1251 TCN,


đều xưng Hùng Định Vương


Hùng Nghi Vương         Hùng Hải Lang Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1251-1161 TCN


đều xưng Hùng Nghi Vương


Hùng Trinh Vương         Hưng Đức Lang            Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1161-1054 TCN


đều xưng Hùng Trinh Vương


Hùng Vũ Vương            Đức Hiền Lang Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1054-958 TCN


đều xưng Hùng Vũ Vương


Hùng Việt Vương          Tuấn Lang         Gồm nhiều đời vua trị vì từ 958-853 TCN,


đều xưng Hùng Việt Vương


Hùng Anh Vương          Chân Nhân Lang            Gồm nhiều đời vua trị vì từ 853-754 TCN,


đều xưng Hùng Anh Vương


Hùng Triệu Vương         Cảnh Chiêu Lang           Gồm nhiều đời vua trị vì từ 754-660 TCN,


đều xưng Hùng Triệu Vương


Hùng Tạo Vương          Đức Quân Lang             Gồm nhiều đời vua trị vì từ 660-568 TCN,


đều xưng Hùng Tạo Vương


Hùng Nghi Vương         Bảo Quang Lang           Gồm nhiều đời vua trị vì từ 568-408 TCN,


đều xưng Hùng Nghi Vương


Hùng Duệ Vương          Huệ Lang          Gồm nhiều đời vua trị vì từ 408-258 TCN,


đều xưng Hùng Duệ Vương


    ^  Thời Hùng Vương có nhiều điều không rõ. Danh sách trên theo Ngọc phả của người đời sau soạn. Con số 18 đời khiến nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ. Trong truyền thuyết, con số 9 (như voi 9 ngà, gà 9 cựa...) được các nhà sử học cho rằng mang tính chất biểu trưng là "nhiều"; các bội số của 9 như 18, 27... cũng mang tính biểu trưng là sự truyền nối lâu dài như vậy[3].


 


Âu Lạc và Nam Việt


Nhà Thục (257-207 TCN hoặc 179 TCN)


Vua      Tên húy             Trị vì


An Dương Vương         Thục Phán         257-179 TCN


Nhà Triệu (207-111 TCN)


Vua      Tên húy             Trị vì


Triệu Vũ Vương             Triệu Đà            179-137 TCN


Triệu Văn Vương           Triệu Hồ            137-125 TCN


Triệu Minh Vương          Triệu Anh Tề      125-113 TCN


Triệu Ai Vương Triệu Hưng        113-112 TCN


Triệu Thuật Dương Vương         Triệu Kiến Đức 112-111 TCN


Bắc thuộc


                        Hai Bà Trưng     Bà Triệu                                    Mai Hắc Đế                                


Nhà Triệu                                                                      Nhà Tiền Lý                                           Phùng Hưng                 Tự chủ       Thời kỳ độc lập


111TCN             40                     43         246                   249       544       602       722                   766       789       906       938


 


 


Các cuộc khởi nghĩa lớn


Triều đại Trung Quốc     Khởi nghĩa        Lãnh đạo          Thời gian


Nhà Hán            Khởi nghĩa Hai Bà Trưng            Trưng Trắc - Trưng Nhị   40-43


Nhà Đông Ngô Khởi nghĩa Bà Triệu       Triệu Thị Trinh    246-249


Nhà Đường       Khởi nghĩa Mai Hắc Đế Mai Thúc Loan


Mai Thúc Huy    713-723


Nhà Đường       Khởi nghĩa Phùng Hưng            Phùng Hưng


Phùng An          766-789


Nhà Tiền Lý (544-602)


                        Nhà Tiền Lý                    


111TCN             544       602       938        


Vua      Tên húy             Cai trị


Lý Nam Đế        Lý Bí (Lý Bôn)   541-548


Triệu Việt Vương           Triệu Quang Phục          549-571


Hậu Lý Nam Đế             Lý Phật Tử        571-602


Tự chủ (905-938)


                        Tự chủ  


111TCN             905       938        


Tiết độ sứ         Tên húy             Cai trị


Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Tiên chủ)     Khúc Thừa Dụ   905-907


Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Trung chủ)   Khúc Hạo (Khúc Thừa Hạo)        907-917


Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Hậu chủ)     Khúc Thừa Mỹ   917-923/930


Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Dương Chính công)             Dương Đình Nghệ (Dương Diên Nghệ)   931-937


Tĩnh Hải Tiết độ sứ        Kiều Công Tiễn[2]          937-938


    ^  Tiết độ sứ cuối cùng cai trị lãnh thổ Việt Nam trước thời kỳ độc lập


 


Thời kỳ độc lập


                                                                                                                                                Nam-Bắc triều và Trịnh-Nguyễn phân tranh                                            


Trước độc lập   Nhà Ngô                       Nhà Đinh           Nhà Tiền Lê       Nhà Lý Nhà Trần           Nhà Hồ             Nhà Hậu Trần                  Nhà Hậu Lê       Nhà Mạc           Nhà Hậu Lê       Nhà Tây Sơn     Nhà Nguyễn      Việt Nam hiện đại


Nhà Ngô (939-965)


Vua                              Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Tiền Ngô Vương           không có          Ngô Quyền       939-944


Dương Bình Vương[3] không có            Dương Tam Kha (Dương Thiệu Hồng) 944-950


Hậu Ngô Vương[4]        không có          Ngô Xương Ngập


Ngô Xương Văn            950-965


    ^  Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô và làm vua trong 6 năm.


    ^  Thời Hậu Ngô Vương gồm hai vị vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương cùng trị vì.


 


Nhà Đinh (968-979)


                          Vua    Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Đinh Tiên Hoàng            Thái Bình           Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Hoàn)           968-979


Đinh Phế Đế      Thái Bình[5]       Đinh Toàn (Đinh Tuệ)      979-980


    ^  Dùng tiếp niên hiệu cũ.


 


Nhà Tiền Lê (980-1009)


             Vua     Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Lê Đại Hành      Thiên Phúc


Hưng Thống (989-993)


Ứng Thiên (994-1005)     Lê Hoàn            980-1005


Lê Trung Tông   Ứng Thiên (kế tục vua trước)     Lê Long Việt     1005 (3 ngày)


Lê Ngoạ Triều    Ứng Thiên (kế tục 1006-1007)


Cảnh Thụy (1008-1009)   Lê Long Đĩnh     1005-1009


Nhà Lý (1010-1225)                                            


Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Lý Thái Tổ         Thuận Thiên       Lý Công Uẩn     1010-1028


Lý Thái Tông     Thiên Thành (1028-1033)


Thông Thụy (1034-1038)


Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041)


Minh Đạo (1042-1043)


Thiên Cảm Thánh Võ (1044-1048)


Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054)            Lý Phật Mã       1028-1054


Lý Thánh Tông Long Thụy Thái Bình (1054-1058)


Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065)


Long Chương Thiên Tự (1066-1067)


Thiên Huống Bảo Tượng (1060)


Thần Võ (1069-1072)      Lý Nhật Tôn      1054-1072


Lý Nhân Tông    Thái Ninh (1072-1075)


Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084)


Quảng Hữu (1085-1091)


Hội Phong (1092-1100)


Long Phù (1101-1109)


Hội Tường Đại Khánh (1110-1119)


Thiên Phù Duệ Võ (1120-1126)


Thiên Phù Khánh Thọ (1127)       Lý Càn Đức       1072-1127


Lý Thần Tông    Thiên Thuận (1128-1132)


Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137)         Lý Dương Hoán            1128-1138


Lý Anh Tông     Thiệu Minh (1138-1139)


Đại Định (1140-1162)


Chính Long Bảo Ứng 1163-1173)


Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175) Lý Thiên Tộ       1138-1175


Lý Cao Tông     Trinh Phù (1176-1185)


Thiên Gia Bảo Hữu (1202-1204)


Trị Bình Long Ứng (1205-1210)   Lý Long Trát (Lý Long Cán)        1176-1210


                        Lý Thẩm            1209-1209


Lý Huệ Tông     Kiến Gia            Lý Sảm             1211-1224


Lý Nguyên vương         Càn Ninh           Không rõ          1214-1216


Lý Chiêu Hoàng             Thiên Chương Hữu Đạo[6]         Lý Phật Kim (Lý Thiên Hinh)       1224-1225


    ^  Nữ vương duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.


 


Nhà Trần (1225-1400)


                                                 


Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Trần Thái Tông Kiến Trung (1225-1237)


Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350)


Nguyên Phong (1251-1258)        Trần Cảnh         1225-1258


Trần Thánh Tông            Thiệu Long (1258-1272)


Bảo Phù (1273-1278)     Trần Hoảng       1258-1278


Trần Nhân Tông             Thiệu Bảo (1279-1284)


Trùng Hưng (1285-1293)             Trầm Khâm       1279-1293


Trần Anh Tông   Hưng Long       Trần Thuyên      1293-1314


Trần Minh Tông             Đại Khánh (1314-1323)


Khai Thái (1324-1329)     Trần Mạnh         1314-1329


Trần Hiến Tông Khai Hữu          Trần Vượng      1329-1341


Trần Dụ Tông    Thiệu Phong (1341-1357)


Đại Trị (1358-1369)         Trần Hạo           1341-1369


Hôn Đức Công Đại Định            Dương Nhật Lễ             1369-1370


Trần Nghệ Tông             Thiệu Khánh      Trần Phủ           1370-1372


Trần Duệ Tông Long Khánh      Trần Kính          1372-1377


Trần Phế Đế      Xương Phù       Trần Hiện          1377-1388


Trần Thuận Tông            Quang Thái       Trần Ngung       1388-1398


Trần Thiếu Đế    Kiến Tân           Trần Án             1398-1400


Nhà Hồ (1400-1407)


Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Hồ Quý Ly        Thánh Nguyên   Lê Quý Ly         1400


Hồ Hán Thương            Thiệu Thành (1401-1402)


Khai Đại (1403-1407)      Hồ Hán Thương            1401-1407


Nhà Hậu Trần (1407-1413)                                               


Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Giản Định Đế     Hưng Khánh      Trần Ngỗi          1407-1409


Trùng Quang Đế            Trùng Quang     Trần Quý Khoáng          1409-1413


Thời thuộc Minh (1407-1427)


            Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Trần Cảo           Thiên Khánh      Trần Cảo           1426-1428


Nhà Hậu Lê - Lê sơ (1428-1527)


Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Lê Thái Tổ         Thuận Thiên       Lê Lợi   1428-1433


Lê Thái Tông     Thiệu Bình (1434-1440)


Đại Bảo (1440-1442)      Lê Nguyên Long            1433-1442


Lê Nhân Tông    Đại Hòa/Thái Hòa (1443-1453)


Diên Ninh (1454-1459)    Lê Bang Cơ      1442-1459


Lệ Đức Hầu (Lạng Sơn Vương) Thiên Hưng (1459-1460)             Lê Nghi Dân      1459-1460


Lê Thánh Tông Quang Thuận (1460-1469)


Hồng Đức (1470-1497)   Lê Tư Thành (Lê Hạo)    1460-1497


Lê Hiến Tông     Cảnh Thống      Lê Tranh            1497-1504


Lê Túc Tông      Thái Trinh          Lê Thuần           6/1504-12/1504


Lê Uy Mục        Đoan Khánh      Lê Tuấn             1505-1509


Lê Tương Dực Hồng Thuận      Lê Oanh            1510-1516


Lê Chiêu Tông   Quang Thiệu (1516-1526)            Lê Y     1516-1522


Lê Cung Hoàng             Thống Nguyên (1522-1527)         Lê Xuân            1522-1527


Nam - Bắc triều


Bắc Triều - Nhà Mạc (1527-1592)


            Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Mạc Thái Tổ      Minh Đức          Mạc Đăng Dung            1527-1529


Mạc Thái Tông Đại Chính          Mạc Đăng Doanh          1530-1540


Mạc Hiến Tông Quãng Hòa       Mạc Phúc Hải    1541-1546


Mạc Tuyên Tông            Vĩnh Định (1547)


Cảnh Lịch (1548-1553)


Quang Bảo (1554-1561)             Mạc Phúc Nguyên         1546-1561


Mạc Mậu Hợp   Thuần Phúc (1562-1565)


Sùng Khang (1566-1577)


Diên Thành (1578-1585)


Đoan Thái (1586-1587)


Hưng Trị (1588-1590)


Hồng Ninh (1591-1592)   Mạc Mậu Hợp   1562-1592


Mạc Toàn          Vũ An (1592-1592)         Mạc Toàn          1592


Sau đời Mạc Toàn, con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, tồn tại cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:


   Mạc Kính Chỉ (1592-1593)


    Mạc Kính Cung (1593-1625)


    Mạc Kính Khoan (1623-1638)


    Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn) (1638-1677)


Nam Triều - Nhà Hậu Lê (1533-1788)


Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Lê Trang Tông   Nguyên Hòa      Lê Duy Ninh      1533-1548


Lê Trung Tông   Thuận Bình        Lê Huyên          1548-1556


Lê Anh Tông     Thiên Hữu (1557)


Chính Trị (1558-1571)


Hồng Phúc (1572-1573) Lê Duy Bang     1556-1573


Lê Thế Tông      Gia Thái (1573-1577)


Quang Hưng (1578-1599)           Lê Duy Đàm      1573-1599


Lê Trung Hưng - Trịnh-Nguyễn phân tranh


Trong thời kỳ này các vua Lê chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (miền Bắc) và chúa Nguyễn ở Đàng Trong (miền Nam).


Lê Kính Tông     Thận Đức (1600)


Hoằng Định (1601-1619)             Lê Duy Tân       1600-1619


Lê Thần Tông (lần thứ 1)            Vĩnh Tộ (1620-1628)


Đức Long (1629-1643)


Dương Hòa (1635-1643)            Lê Duy Kỳ         1619-1643


Lê Chân Tông    Phúc Thái          Lê Duy Hựu      1643-1649


Lê Thần Tông (lần thứ 2)            Khánh Đức (1649-1652)


Thịnh Đức (1653-1657)


Vĩnh Thọ (1658-1661)


Vạn Khánh (1662)          Lê Duy Kỳ         1649-1662


Lê Huyền Tông Cảnh Trị            Lê Duy Vũ         1663-1671


Lê Gia Tông      Dương Đức (1672-1773)


Đức Nguyên (1674-1675)            Lê Duy Hợi (Lê Duy Cối, Lê Duy Khoái) 1672-1675


Lê Hy Tông       Vĩnh Trị (1678-1680)


Chính Hòa (1680-1705)   Lê Duy Hợp      1676-1704


Lê Dụ Tông       Vĩnh Thịnh (1706-1719)


Bảo Thái (1720-1729)     Lê Duy Đường 1705-1728


Hôn Đức Công Vĩnh Khánh       Lê Duy Phường            1729-1732


Lê Thuần Tông Long Đức         Lê Duy Tường   1732-1735


Lê Ý Tông         Vĩnh Hữu          Lê Duy Thận      1735-1740


Lê Hiển Tông     Cảnh Hưng       Lê Duy Diêu      1740-1786


Lê Mẫn Đế        Chiêu Thống      Lê Duy Khiêm (Lê Duy Kỳ)         1787-1789


Trịnh - Nguyễn phân tranh


Chúa Trịnh (1545-1786)


Chúa     Tên húy             Trị vì


Thế Tổ Minh Khang Thái Vương             Trịnh Kiểm         1545-1570


Bình An Vương             Trịnh Tùng         1570-1623


Thanh Đô Vương           Trịnh Tráng        1623-1652


Tây Định Vương            Trịnh Tạc           1653-1682


Định Nam Vương          Trịnh Căn          1682-1709


An Đô Vương   Trịnh Cương      1709-1729


Uy Nam Vương             Trịnh Giang       1729-1740


Minh Đô Vương            Trịnh Doanh      1740-1767


Tĩnh Đô Vương             Trịnh Sâm         1767-1782


Điện Đô Vương             Trịnh Cán          1782 (2 tháng)


Đoan Nam Vương         Trịnh Khải          1782-1786


Án Đô Vương   Trịnh Bồng        1786-1787


Chúa Nguyễn (1600-1802)        


Chúa     Tên húy             Trị vì


Tiên vương (chúa Tiên) Nguyễn Hoàng 1600-1613


Sãi vương (hay Chúa Bụt)          Nguyễn Phúc Nguyên    1613-1635


Thượng vương             Nguyễn Phúc Lan          1635-1648


Hiền vương       Nguyễn Phúc Tần          1648-1687


Nghĩa vương     Nguyễn Phúc Trăn         1687-1691


Minh vương      Nguyễn Phúc Chu          1691-1725


Ninh vương       Nguyễn Phúc Chú          1725-1738


Vũ Vương         Nguyễn Phúc Khoát       1738-1765


Định Vương      Nguyễn Phúc Thuần       1765-1777


Nguyễn Ánh      Nguyễn Phúc Ánh          1781-1802


Phong kiến tái thống nhất (1778-1945)


Nhà Tây Sơn (1778-1802)         


Vua      Niên hiệu           Tên húy             Trị vì


Thái Đức Hoàng Đế       Thái Đức           Nguyễn Nhạc    1778-1793


Thái Tổ Vũ Hoàng Đế     Quang Trung     Nguyễn Huệ      1788-1792


Cảnh Thịnh Hoàng Đế    Cảnh Thịnh


Bảo Hưng         Nguyễn Quang Toản      1792-1802


Nhà Nguyễn (1802-1945)                        


 


Niên hiệu           Miếu hiệu          Tên húy             Trị vì


Gia Long           Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh          1802-1819


Minh Mạng        Nguyễn Thánh Tổ          Nguyễn Phúc Đảm         1820-1840


Thiệu Trị            Nguyễn Hiến Tổ             Nguyễn Phúc Miên Tông            1841-1847


Tự Đức             Nguyễn Dực Tông         Nguyễn Phúc Hồng Nhậm          1848-1883


Dục Đức           Nguyễn Cung Tông        Nguyễn Phúc Ưng Ái (Nguyễn Phúc Ưng Chân) 1883 (3 ngày)


Hiệp Hoà          không có          Nguyễn Phúc Hồng Dật             6/1883-11/1883


Kiến Phúc         Nguyễn Giản Tông         Nguyễn Phúc Ưng Đăng            12/1883-8/1884


Hàm Nghi          không có          Nguyễn Phúc Ưng Lịch 8/1884-8/1885


Đồng Khánh      Nguyễn Cảnh Tông        Nguyễn Phúc Ưng Kỷ    1885-1888


Thành Thái        không có          Nguyễn Phúc Bửu Lân   1889-1907


Duy Tân            không có          Nguyễn Phúc Vĩnh San 1907-1916


Khải Định          Nguyễn Hoằng Tông      Nguyễn Phúc Bửu Đảo 1916-1925


Bảo Đại            không có          Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy             1926-1945


 


Thống kê


Nếu không tính Hùng Vương là thời kỳ huyền sử còn nhiều nghi vấn, có thể đưa ra các thống kê về vua Việt Nam và các triều đại Việt Nam như sau (không tính các thời Bắc thuộc)[4]:


Về các vua


    Hoàng đế đầu tiên: Lý Nam Đế (544 - 548) với niên hiệu đầu tiên là Thiên Đức


    Hoàng đế cuối cùng: Bảo Đại (1925 - 1945)


    Ở ngôi lâu nhất: Triệu Vũ Vương Triệu Đà: 70 năm (207-137 TCN), Lý Nhân Tông Càn Đức: 56 năm (1072 - 1127), Lê Hiển Tông Duy Diêu: 47 năm (1740 - 1786), Lê Thánh Tông Tư Thành: 38 năm (1460 - 1497)


    Ở ngôi ngắn nhất: Tiền Lê Trung Tông Long Việt: 3 ngày (1006), Dục Đức (Nguyễn Cung Tông): 3 ngày (1883)


    Lên ngôi trẻ nhất: Lê Nhân Tông lúc 1 tuổi (1442); Mạc Mậu Hợp lúc 2 tuổi (1562); Lý Cao Tông lúc 3 tuổi; Lý Anh Tông cũng 3 tuổi; Lý Chiêu Hoàng lúc 6 tuổi (1224).


    Lên ngôi già nhất: Hồ Quý Ly khi 64 tuổi (1400), Trần Nghệ Tông Phủ, khi 50 tuổi (1370); Triệu Đà khi 50 tuổi (207 TCN)


    Trường thọ nhất: Bảo Đại 85 tuổi (1913-1997), vua Thành Thái 76 tuổi (1879 - 1955) vua Trần Nghệ Tông 74 tuổi (1321 - 1394). Nếu tính Triệu Đà thì Triệu Đà là vua thọ nhất: 120 tuổi (257-137 TCN) (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư). Ngoài ra, nếu tính cả các chúa thì chúa Nguyễn Hoàng thọ hơn Bảo Đại: 89 tuổi (1525 - 1613) , chúa Trịnh Tráng 81 tuổi (1577 - 1657) , Trịnh Tạc 77 tuổi (1606 - 1682) , Trịnh Căn 77 tuổi (1633 - 1709).


    Sống nhiều năm nhất ở nước ngoài trong thời gian làm vua: Bảo Đại


    Yểu mệnh nhất: Hậu Lê Gia Tông Duy Khoái 15 tuổi (1661 - 1675), Hậu Lê Huyền Tông Duy Vũ 17 tuổi (1654-1671). Nếu tính cả vua không chính thống thì Lê Quang Trị bị giết khi 7 tuổi (1509-1516)


    Vua đặt nhiều niên hiệu nhất: Lý Nhân Tông có 8 niên hiệu


    Vua có niên hiệu sử dụng lâu nhất: Lê Hiển Tông - niên hiệu Cảnh Hưng trong 47 năm (1740-1786)


    Vua có tôn hiệu dài nhất: Lý Thái Tổ (được truy tôn hiệu dài 52 chữ)


    Nữ vương đầu tiên: Trưng Vương (Trưng Trắc) (vì chỉ xưng vương) (40-43)


    Nữ hoàng duy nhất: Lý Chiêu Hoàng Phật Kim (1224 - 1225), vợ vua Trần Thái Tông Cảnh (1226 - 1258).


    Vua lập nhiều hoàng hậu nhất: Lý Thái Tổ lập 9 hoàng hậu (6 bà lập năm 1010, 3 bà lập năm 1016).


    Vua duy nhất ở ngôi 2 lần: Hậu Lê Thần Tông (1619-1643 và 1649-1662)


    Vua Việt Nam đầu tiên lấy vợ người phương Tây: Lê Thần Tông (Lê Duy Kỳ) lấy vợ người Hà Lan


    Vua có nhiều con làm vua: 2 người, mỗi người có 4 người con làm vua. Thứ nhất là Trần Minh Tông cha của Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông. Thứ hai là Lê Thần Tông cha của Lê Duy Hựu (Chân Tông); Lê Duy Vũ (Huyền Tông); Lê Duy Cối; (Gia Tông); Lê Duy Hợp (Hy Tông).


    Vua có nhiều con rể làm vua nhất: Lê Hiển Tông có 3 con rể làm vua là Nguyễn Huệ (lấy công chúa Lê Ngọc Hân), Nguyễn Quang Toản (lấy công chúa Lê Ngọc Bình) và Nguyễn Ánh (cũng lấy Ngọc Bình). Nhưng khi còn sống ông chỉ chứng kiến Nguyễn Huệ làm con rể mình.


    Vua có nhiều loại tiền mang niên hiệu nhất: Lê Hiển Tông đã cho đúc 16 loại tiền Cảnh Hưng trong thời gian làm vua


    Vua trăm trận trăm thắng: Quang Trung (Nguyễn Huệ) (1753 - 1792)


    Người mở đất mạnh nhất, rộng nhất: Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725)


    Vua nhiều con nhất Minh Mệnh (Nguyễn Phúc Đảm) (1790 -1840) con chính thức là 142 gồm 78 trai, 64 gái


    Vua có nhiều vợ mà không có người con nào: Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhậm) có 300 vợ.


    Vua làm nhiều thơ văn nhất: Tự Đức để lại 4000 bài thơ chữ Hán, 100 bài thơ Nôm, 600 bài văn[5].


 


Về các triều đại


    Triều đại tồn tại lâu nhất: nhà Hậu Lê 356 năm (1428 - 1527 và 1533 - 1788).


    Triều đại tồn tại ngắn nhất: nhà Hồ 7 năm (1400 - 1407).


    Triều đại truyền nhiều đời vua nhất: nhà Hậu Lê: 27 vua (từ Thái Tổ đến Chiêu Thống), nhà Trần (kể cả Hậu Trần) 15 vua.


    Triều đại truyền ít đời nhất: nhà Thục 1 vua.


    Triều đại truyền qua nhiều thế hệ nhất: nhà Hậu Lê 14 đời (từ Thái Tổ Lê Lợi đến Trung Tông Duy Huyên, rồi từ Anh Tông Duy Bang đến Chiêu Thống Duy Kỳ), sau đó là nhà Lý: 9 đời (từ Thái Tổ Công Uẩn đến Chiêu Hoàng Phật Kim).


    Triều đại xảy ra phế lập, sát hại các vua nhiều nhất: Nhà Lê sơ 7/11 vua (Lê Thái Tông , Lê Nhân Tông , Lệ Đức Hầu , Lê Uy Mục , Lê Tương Dực , Lê Chiêu Tông , Lê Cung Hoàng). Nếu tính cả các vua không chính thức là Lê Quang Trị (1516), Lê Bảng và Lê Do (1519) thì tổng cộng có 10/14 vua.


    Triều đại có các vua bị bắt đi đày ra nước ngoài nhiều nhất: Nhà Nguyễn


Thái thượng hoàng


Thái thượng hoàng có nghĩa là: vua cha bề trên, có trường hợp chỉ gọi là: thượng hoàng để có nghĩa rộng hơn (vua bề trên).


Tùy từng hoàn cảnh lịch sử, thực quyền của thượng hoàng khác nhau. Thượng hoàng có thể giao toàn quyền cho vua hoặc vẫn nắm quyền chi phối việc triều chính; hoặc có thể thượng hoàng chỉ mang danh nghĩa.


Thông thường thượng hoàng là cha vua, nhưng có các trường hợp không phải như vậy: Thượng hoàng Trần Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Duệ Tông, Duệ Tông mất lại lập cháu gọi bằng bác là Phế Đế; Thượng hoàng Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho con là Thái Tông, Thái Tông mất sớm lại lập cháu nội là Hiến Tông; Thượng hoàng Lê Ý Tông là chú của vua Lê Hiển Tông.


Triều đại có nhiều thượng hoàng nhất là nhà Trần với 9 thượng hoàng. Ngoài 7 thượng hoàng nhà Trần từ Trần Thừa tới Nghệ Tông cùng Hồ Quý Ly, Mạc Thái Tổ, các thượng hoàng còn lại trong lịch sử Việt Nam đều không tự nguyện làm thượng hoàng mà do sự sắp đặt của quyền thần trong triều.


Tham khảo


    Lê Thái Dũng (2008), Giở trang sử Việt, NXB Đại học quốc gia Hà Nội


    Nước Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử, Vietnam Net


    Đại Việt sử ký toàn thư


    Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược


    Tóm tắt Niên biểu Lịch sử Việt Nam, trang web của tạp chí Quê Hương


    Sự hình thành cơ cấu chính trị Đại Việt, BBC Việt ngữ tóm lược bài viết The Early Kingdoms của Keith Taylor


____________


    ^ Hùng Vương


    ^ Kỷ Hồng Bàng thị


    ^ Theo Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn và Lương Ninh - Lịch sử Việt Nam, tập 1, tr 94 - NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1991


    ^ Các thống kê này có tính tương đối, vì một số vị vua còn gây tranh cãi hoặc không rõ hết thông tin


    ^ Lê Thái Dũng, sách đã dẫn, tr 140


 


Vua Việt Nam


Hồng Bàng (2897-258 TCN)       


Kinh Dương Vương  · Lạc Long Vương  · Hùng Quốc Vương · Hùng Diệp Vương · Hùng Hy Vương · Hùng Huy Vương · Hùng Chiêu Vương · Hùng Vi Vương · Hùng Định Vương · Hùng Nghi Vương · Hùng Trinh Vương · Hùng Vũ Vương · Hùng Việt Vương · Hùng Anh Vương · Hùng Triệu Vương · Hùng Tạo Vương · Hùng Nghi Vương  · Hùng Duệ Vương


Nhà Thục (257-207 TCN)            


An Dương Vương


Nhà Triệu (207-111 TCN)            


Vũ Đế  · Văn Vương  · Minh Vương  · Ai Vương  · Dương Vương


Trưng Vương (40-43)    


Trưng Vương


Bắc thuộc        


Mai Hắc Đế  · Bố Cái Đại Vương  · Phùng An


Nhà Tiền Lý (544-602)   


Lý Nam Đế  · Triệu Việt Vương  · Hậu Lý Nam Đế


Tự chủ (905-938)          


Khúc Thừa Dụ  · Khúc Hạo  · Khúc Thừa Mỹ  · Dương Đình Nghệ  · Kiều Công Tiễn


Nhà Ngô (939-965)        


Tiền Ngô Vương  · Dương Bình Vương  · Thiên Sách Vương  · Nam Tấn Vương


Nhà Đinh (968-980)       


Đinh Tiên Hoàng  · Đinh Phế Đế


Nhà Tiền Lê (980-1009)  


Đại Hành  · Trung Tông  · Ngoạ Triều


Nhà Lý (1009-1225)       


Thái Tổ  · Thái Tông  · Thánh Tông  · Nhân Tông  · Thần Tông  · Anh Tông  · Cao Tông  · Huệ Tông  · Chiêu Hoàng


Nhà Trần (1225-1400)    


Thái Tông  · Thánh Tông  · Nhân Tông  · Anh Tông  · Minh Tông  · Hiến Tông  · Dụ Tông  · Hôn Đức Công  · Nghệ Tông  · Duệ Tông  · Phế Đế  · Thuận Tông  · Thiếu Đế


Nhà Hồ (1400-1407)      


Hồ Quý Ly  · Hồ Hán Thương


Nhà Hậu Trần (1407-1413;


1426-1428)       


Giản Định Đế  · Trùng Quang Đế  · Trần Cảo


Nhà Lê Sơ (1428-1527)


Thái Tổ  · Thái Tông  · Nhân Tông  · Lệ Đức hầu  · Thánh Tông  · Hiến Tông  · Túc Tông  · Uy Mục Đế  · Tương Dực Đế  · Chiêu Tông  · Cung Hoàng Đế


Nhà Mạc (1527-1592)    


Thái Tổ  · Thái Tông  · Hiến Tông  · Tuyên Tông  · Thuần Phúc đế  · Vũ An đế


Nhà Lê trung hưng


(1533-1788)      


Vua Lê


Trang Tông  · Trung Tông  · Anh Tông  · Thế Tông  · Kính Tông  · Thần Tông  · Chân Tông  · Huyền Tông  · Gia Tông  · Hy Tông  · Dụ Tông  · Hôn Đức Công  · Thuần Tông  · Ý Tông  · Hiển Tông  · Mẫn Đế


Chúa Trịnh (1545-1787)


Trịnh Kiểm  · Trịnh Tùng  · Trịnh Tráng  · Trịnh Tạc  · Trịnh Căn  · Trịnh Cương  · Trịnh Giang  · Trịnh Doanh  · Trịnh Sâm  · Trịnh Cán  · Trịnh Khải  · Trịnh Bồng


Chúa Nguyễn (1558-1777)


Nguyễn Hoàng  · Nguyễn Phúc Nguyên  · Nguyễn Phúc Lan  · Nguyễn Phúc Tần  · Nguyễn Phúc Trăn  · Nguyễn Phúc Chu  · Nguyễn Phúc Chú  · Nguyễn Phúc Khoát  · Nguyễn Phúc Thuần  · Nguyễn Ánh


Nhà Tây Sơn (1778-1802)          


Thái Đức Hoàng Đế  · Thái Tổ Vũ Hoàng Đế  · Cảnh Thịnh Hoàng Đế


Nhà Nguyễn (1802-1945)           


Thế Tổ  · Thánh Tổ  · Hiến Tổ  · Dực Tông  · Cung Tông  · Hiệp Hoà  · Giản Tông  · Hàm Nghi  · Cảnh Tông  · Thành Thái  · Duy Tân  · Hoằng Tông  · Bảo Đại.


Nguồn: wikipedia

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Việt Nam qua ghi chép người phương Tây: Phủ Võ vương qua mắt y sĩ phương Tây - Lê Nguyễn 27.03.2017
'Văn Thánh' đất Gia Định xưa giờ ở đâu? - Hồ Tường 27.03.2017
Sài Gòn cà phê chó mèo: 'một cún khác đã nghếch chân tè tiếp' - Tư liệu 26.03.2017
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
xem thêm »