tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19350872
04.07.2012
Phan Quang
Sức sống con người

Tháng chín năm qua, các hãng tin ReuterAP cùng lúc phát một tin được báo chí và đài phát thanh nước ta đưa lại, gây sự chú ý của nhiều người. Một người Mỹ nhập cư gốc Việt đi thuyền gặp bão, một mình lênh đênh trên Thái Bình Dương hơn một trăm ngày, trôi dạt qua hai nghìn năm trăm hải lý, cạn lương thực mà vẫn sống. Khi được tàu tuần tra của hải quân Mỹ phát hiện và cứu sống (chuyện này xảy ra ngày 17-9-2002), sức khoẻ của người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi ấy vẫn còn khá, cho dù sụt cân 118 kilôgam và rụng mất một chiếc răng.


            Hơn ba tháng trước, ông Richard Văn Phạm dùng chiếc thuyền buồm dài tám mét tên là See Breeze (Gió Biển) là nơi trên đó ông vẫn sống hằng ngày, dự định đi từ vịnh Long Beach, California đến đảo Santa Catalina cách xa chừng 20 hải lý (khoảng 35 kilômét), do đó vừa đi vừa về luôn trong ngày. Trên đường đi, chẳng may một cơn bão bất ngờ ập đến. Thuyền của ông Phạm hỏng máy, gãy buồm và bánh lái. Thiết bị vô tuyến điện cũng hóc luôn. Không biết xoay xở thế nào, ông Phạm chỉ còn có cách là nằm dài trong thuyền đọc đi đọc lại những tờ báo cũ và... thỉnh thoảng quan sát bốn phía chân trời, may ra thấy chiếc tàu nào thì phát tín hiệu gọi người đến cứu giúp.


Người trên đất liền không ai biết ông Phạm mất tích vì ông không có bà con thân thích ở Mỹ, ông cũng không có nhà cửa, hằng ngày sống một thân một mình trên chiếc thuyền của mình. Để sống còn, ông Phạm đành cạy dần gỗ sàn thuyền làm củi đun nấu thức ăn. Cạn kiệt thực phẩm, ông dùng gậy đập chết những con rùa biển bơi đến gần thuyền. Ăn hết thịt, lấy xương rùa làm mồi nhử đánh bắt chim. Thịt rùa ăn còn, ông chắt nước mặn lấy muối ướp lại, dự phòng những ngày khó khăn hơn...


Khi được phát hiện và cứu, thuyền ông Phạm đang trôi dạt trên biển mãi về phía Nam, chỉ cách bờ biển nước Costa Rica (Trung Mỹ) khoảng ba trăm hải lý. Những người cứu sống ông gom góp lại, giúp cho ông một số tiền vừa đủ mua một vé máy bay từ Costa Rica trở về Los Angeles.


Có lẽ do ông Phạm cũng đã có ít nhiều kinh nghiệm đi biển và trên thuyền ông có sẵn một số phương tiện, cho nên tai hoạ của ông chừng nào còn đỡ hơn những người gặp bão khác. Tuy nhiên thuyền trưởng tàu tuần tra của Mỹ Terry Bragg, người tham gia cứu ông vẫn nói, trong đời làm lính thuỷ của ông chưa hề thấy hoặc nghe một chuyện như vậy bao giờ. Thật chẳng mấy khác anh chàng Robinson Crusoe trong nhân vật trong cuốn tiểu thuyết phiêu lưu viễn tưởng của Daniel Defoe, một mình sống trên hoang đảo bao nhiêu ngày.


 


Thật ra, trước ông Phạm đã có người một mình lênh đênh trên Đại Tây Dương sáu mươi lăm ngày ròng rã, trên một chiếc xuồng cao su còn nhỏ hơn chiếc See Breeze của ông Phạm nhiều (nó chỉ dài có 4,6 mét, rộng 1,9 mét), lại không có nước ngọt, không có thức ăn, không có thông tin liên lạc. Thế mà người trên xuồng vẫn sống sót sau một thời gian dài, từ khi rời bờ biển Tây Ban Nha, băng qua Đại Tây Dương rồi cập bến ở một hòn đảo thuộc Trung Mỹ. Ông này đã cố tình làm "người đắm tàu tự nguyện" để thí nghiệm xem sức chịu đựng và sự sống còn của con người có thể kéo dài đến đâu, trong hoàn cảnh gần như vô vọng. Tuy có mang theo thức ăn khô, nước ngọt dự trữ và cần câu cá, nhưng ông kiên quyết không đụng đến những vật liệu và công cụ đó, mà bằng lòng sống y như một người đắm tàu thật sự, trong tay không có thứ gì. Đói thì đánh cá, săn chim biển mà ăn. Khát thì vớt rong tảo hoặc bắt cá ép làm nước uống... Ông đã sống như vậy một mình lênh đênh giữa đại dương, chịu nắng, chịu mưa, có khi chiến đấu với cá dữ chực ăn thịt ông suốt sáu mươi lăm ngày đêm ròng rã. Cái khó nhất cuối cùng vẫn là đấu tranh bản thân, chống lại nỗi thèm muốn khui ngay thực phẩm dự phòng ra chén luôn cho đỡ đói. Khi cập bến và lên được trên bờ, dù người bị sụt tới 25 cân, ông vẫn còn có thể đi lại, đủ sức lên thang gác một mình không phải có người dìu. Thức ăn, nước uống dự phòng vẫn còn niêm phong nguyên si trong xuồng, ông nhờ các nhà choc trách địa phương giúp chứng nhận cho.


 


Người ấy chính là bác sĩ Alain Bombard, sinh năm 1924, một nhà khoa học và cũng là một nhà thể thao Pháp nổi tiếng từ sau chuyến mạo hiểm thành công ấy.


Ông vốn là bác sĩ làm việc ở một thành phố ven biển. Hằng năm Alain Bombard phải cấp cứu rất nhiều người gặp nạn vì sông nước. Một lần (việc này xảy ra năm 1951), một chiếc tàu đánh cá do sương mù dày đặc đã đi sai luồng lạch, xô vào đập đá chắn sóng và đắm ngay gần bờ. Mặc dù mọi người đều có mang phao cá nhân và chiếc tàu được tiếp cứu kịp thời ngay sau đó, nhưng khi đưa tới bệnh viện thì 43 người đàn ông khoẻ mạnh không một ai còn sống.


Theo số liệu thống kê của ngành cứu hộ hằng hải Pháp, khoảng 90% nạn nhân đắm tàu chết trong vòng ba ngày kể từ khi xảy ra tai nạn. Ấy thế mà khoa học cũng như thực tiễn đều chứng minh, cho dù có bị bỏ đói và không được uống nước, cơ thể con người vẫn có thể tồn tại lâu hơn ba ngày. Vụ con tàu Titanic nổi tiếng bị đắm xảy ra năm 1912, chỉ ba tiếng đồng hồ sau khi tàu chìm, đoàn cứu hộ đầu tiên đã kịp tới nơi tàu gặp nạn. Vậy mà trên các xuồng cấp cứu, đã có nhiều người chết và những người phát điên lên vì kinh hoàng. Trong khi đó, như lịch sử đã chứng minh, không ít nhà thám hiểm hoặc chiến sĩ cách mạng vẫn sống đàng hoàng sau một thời gian dài chịu đói khát và khổ ải, trong những điều kiện tưởng không còn mảy may hy vọng.


Rõ ràng đứng trước cái sống và cái chết, nghị lực và sự tháo vát của con người là nhân tố quyết định.


Sau chuyến đi ấy, Alain Bombard có xuất bản một cuốn sách khá dày vừa là báo cáo khoa học vừa là nhật ký chuyến đi, nhan đề Người đắm tàu tự nguyện, rất được bạn đọc hoan nghênh.


Khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, một tờ tuần báo Tây Đức mở cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc: Ai là người dũng cảm nhất trong số những người đã lập nên các kỳ tích khoa học và thể thao thời đại hiện nay. Kết quả, trong mười người được xếp hạng đầu, tiếp ngay sau Yuri Gagarin nhà phi hành vũ trụ Nga đầu tiên bay vào không gian vũ trụ, là Alain Bombard. Tờ tuần báo Paris Match của Pháp cũng có lần tổ chức thăm dò ý kiến độc giả về Mười kỳ tích nổi bật nhất của con người mấy chục năm vừa qua. Đứng đầu top ten, lại là chuyến vượt đại dương của bác sĩ Alain Bombard. Sau đó mới đến các vụ chinh phục ngọn núi Annapourna cao nhất dãy Hymalaya, vụ một mình đi thuyền buồm vòng quanh thế giới, chuyến vượt eo biển Manche trên máy bay thể thao đạp bằng chân, vv...  Sở dĩ mọi người nhất trí tôn vinh ông vì Alain Bombard có điểm khác những người lập kỳ tích khác là, ông đạt kỷ lục không nhằm mang lại thú vui cho riêng mình hay để dành tiền thưởng, danh hiệu nhà thể thao vô địch..., mà ở chỗ mong muốn góp phần tìm cách cứu mạng sống con người chẳng may lâm nạn. (Theo thống kê rất không đầy đủ, vào giữa thế kỷ trước mỗi năm có ít nhất hai trăm ngàn người bỏ mình trên biển cả vì phong ba, tai nạn).


Kết thúc cuốn vừa là truyện ký vừa là báo cáo khoa học của mình, Alain Bombard viết: "Hy vọng là sự phấn đấu để vươn tới một tình trạng tốt hơn. Sau khi tai hoạ xảy ra, trong tay không còn gì nữa, người đắm tàu chỉ còn có mỗi một điều là hy vọng mà thôi. Và nhất thiết anh phải hy vọng. Vấn đề đặt ra một cách tàn bạo trước mặt anh lúc này là: sống hay chết. Muốn sống, anh phải huy động mọi tiềm năng, dồn tất cả niềm tin vào sự sống, để có đủ dũng cảm và quyết tâm đương đầu với tuyệt vọng".


Tôi không chắc người đi biển họ Phạm đã có dịp đọc cuốn sách của nhà khoa học Pháp, nhưng ý kiến hai người ngẫu nhiên trùng hợp. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo The Los Angeles Times ngay sau khi tai qua nạn khỏi, ông Phạm nói: "Lúc lênh đênh trên biển cả, bạn phải dùng những thứ gì có thể tìm thấy được. Nếu sợ hãi, bạn sẽ chết".


 


            Alain Bombard là một chuyên gia nghiên cứu về biển. Ông từng nhiều năm làm Giám đốc Viện Hải sinh học, Uỷ viên Hội đồng cấp cao về môi trường, Quốc vụ khanh Bộ Môi trường Chính phủ Pháp, sau đấy làm nghị sĩ Nghị viện châu Âu hai nhiệm kỳ. Một số tác phẩm khác của ông là Bên kia đường chân trời (1978), Biển và người (1980),  Hãy cứu lấy cuộc sống (1984)...


            Trong một chuyến sang Pháp cách đây đã lâu, tôi có gặp ông. Một cuộc tiếp xúc ngắn ngủi, tình cờ, bên lề một cuộc tiếp tân. Tôi nói: "Tôi rất tâm đắc tác phẩm của ông. Đúng vậy, sức sống con người mạnh hơn những gì ta hằng tưởng".


Ông cảm ơn. Tôi nói thêm: "Sức sống của con người làm nên sức sống của cộng đồng, của dân tộc. Chính vì chỉ tin vào sức mạnh của phương tiện và vũ khí mà không đánh giá đúng sức sống con người, họ không hiểu nổi sức sống của dân tộc chúng tôi cho nên người Mỹ đã thất bại ở Việt Nam".


Alain Bombard không đáp, ông xiết chặt tay tôi.


 


  2002


Nguồn: Cho đến khi giã từ trần thế. Tiểu luận, bút ký của Phan Quang. NXB. Phụ nữ. 2011.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »