Các bạn có nhìn thấy máu Mỹ Lai chảy tối hôm qua?
Đấy là vào ngày 16 tháng 3 năm 1968. Một ngày giống như hàng nghìn ngày xâm lược khác của Mỹ, một xóm nhỏ Việt Nam giữa hàng trăm xóm khác - mà chúng ta có thể gọi là Oradour*. Mãi ở tận bên nước ấy. Cách xa bờ biển Hoa Kỳ đến 12000 cây số. Một xóm nhỏ chẳng có gì để tự phòng vệ ngoài những hàng tre, và trên không máy bay ném bom Mỹ thường xuyên lượn lờ cùng những cánh cò bay. Một xóm chẳng được ai biết đến tên. Cho đến ngày hôm ấy.
Những người trẻ nhất trong chúng ta tối hôm qua mới có dịp phát hiện, sau hai mươi năm, những hình ảnh ghê rợn do một nhà nhiếp ảnh của quân đội Mỹ chụp được và giữ kín rất lâu. Trong vòng mấy tiếng đồng hồ, đơn vị của trung uý Calley, đơn vị vốn được đào tạo tại các trung tâm huấn luyện Mỹ để giết người, cái trung tâm mà người ta khẳng định cho đến nay vẫn tiếp tục hoạt động theo mô hình ấy, đã tàn sát 500 nông dân, bao gồm người già, phụ nữ và trẻ em đang bú mẹ (phụ nữ thì đã bị hãm hiếp trước khi bị giết hại bằng vũ khí thô sơ).
"Tôi đã giết từ hai mươi đến hai mươi lăm người; tôi cắt cổ họ, chặt tay họ. Đúng, tôi đã làm những chuyện ấy". Một tên lính được Lầu năm góc đào tạo, nay thú nhận vậy. Tên hắn là Fred Wilmer. Hắn nói: "Cho đến ngày xuống mồ, tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng tôi giết người". Tối hôm qua, chúng ta đã nhìn thấy cảnh tượng ấy.
Một tên lính khác, tên là Vanardo Simpson, run rẩy đau đớn khi phảI thuật lại cảnh những con người bị hắn sát hại. Hắn nói: "Ngày nào tôi cũng phải sống với cái cảnh ấy. Cứ cách bốn tiếng đồng hồ, tôi lại phải uống 12 miligam thuốc an thần". Tối hôm qua, chúng ta đã nghe hắn thú nhận vậy.
Những cuộc phỏng vấn trên đây chỉ được thực hiện tại Mỹ năm 1989. Rồi chỉ có viên trung uý Calley là tên tội phạm duy nhất bị kết án dưới áp lực quốc tế và trước sự kinh tởm của dư luận Mỹ, và nó cũng mau chóng được tổng thống Nixon ân xá ngay sau đó. Hiện nó sống cuộc đời lao động khổ sai của một anh chủ hiệu nhỏ. Còn Vanardo, anh chàng thường xuyên uống thuốc an thần kia, hiện là một trong số ba mươi triệu người đang thất nghiệp ở chốn thiên đường nước Mỹ.
Mỹ Lai là tội ác của những kẻ thua trận - hồi ấy chúng tôi đã viết như vậy lên báo - Mỹ Lai ngày nay phô ra với thế giới, tựa một giọt nước được soi rọi dưới kinh hiển vi, cái thực tế nhuốm máu của cuộc chiến tranh thập tự mà Hoa Kỳ đã tiến hành chống chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.
Ngày ký Hiệp định Paris, Nixon từng hứa hẹn rồi sẽ bồi thường chiến tranh cho Việt Nam. Khốn cho kẻ bại trận ư? Không đâu. Chủ nghĩa tư bản chẳng bao giờ tha thứ cho một dân tộc, dưới sự lãnh đạo của một chế độ do chính họ lựa chọn, đã có cái tội là đánh cho chúng thất bại tơi bời. Nước Việt Nam chẳng hề nhận được một đồng đôla nhỏ của Mỹ bồi thường chiến tranh.
Từ dòng máu Mỹ Lai đến cuộc tàn sát ở Salvador, đấy chính là chủ nghĩa đế quốc đang xả súng bắn thẳng vào những người chiến đấu vì những người nghèo; đúng như Đức Cha Romero từng phát biểu: “Nếu chúng ta không lên tiếng phản kháng, thì đến đá rồi cũng sẽ phải gào to lên (lòng căm phẫn của đá)”.
*Oradour là tên một làng ở Pháp, ngày 10-6-1944, bị phát xít Đức tàn sát một lúc 643 người dân, trong đó có 500 phụ nữ và trẻ em (PQ).
Lời dẫn cu3a nhà văn Phan Quang: Mùa xuân 1989, tôi đang ở Paris. Tối hôm ấy cùng một số bạn bè, chúng tôi đã khóc khi xem kênh truyền hình M6 chiếu cuốn phim tài liệu về vụ lính Mỹ tàn sát thôn Mỹ Lai, do những người quay phim tiến bộ Mỹ thực hiện nhân dịp 20 năm ngày diễn ra sự kiện bi thảm ấy. Sáng hôm sau, mở tờ báo L'Humanité (Nhân đạo), cơ quan Trung ương của Đảng cộng sản Pháp, thấy bài báo ngắn của Madeleine Riffaud, mặc dù tôi nghe tin chị hồi đó đang ốm nặng. Đọc xong tôi cắt mẩu báo cho vào cặp và giữ đến hôm nay.
Madeleine Riffaud là một nhà báo nổi tiếng. Chị tham gia kháng chiến chống phát xít, bị Đức quốc xã kết án tử hình khi chị chưa đến tuổi thành niên. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Paris với tư cách thượng khách của nước Pháp. Là phóng viên trẻ của nhật báo Ce soir (Chiều nay), năm ấy Madeleine mười tám tuổi. Năm ấy lần đầu tiên chị được gặp Bác Hồ. Bác đã nghe tiếng chị từ trước. Khi được giới thiệu, Bác ôm hôn lên trán chị và dịu dàng hỏi: "Vậy ra cô gái nhỏ dũng cảm thành Paris là đây ư?". Bác Hồ khuyến khích Madeleine tiếp tục theo nghề báo, và mời chị đến Việt Nam bất cứ lúc nào.
Việt Nam từ đấy là một trong những chủ đề chính của nhà văn, nhà báo trẻ Madeleine Riffaud. Năm 1952, giữa lúc cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt, chị đến Việt Bắc. Những bài báo chị viết nhân chuyến đi này đăng trên báo Nhân đạo và nhiều báo chí tiến bộ khác ở Pháp, một số sẽ chọn in lại trong tập Hoa từ cánh đồng Việt Nam, gây tiếng vang trong dư luận Pháp. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chị lại đến Việt Nam và được gặp Bác Hồ tại Hà Nội.
Thời nước ta chống Mỹ, Madeleine Riffaud là một trong số những nhà báo nước ngoài đầu tiên có mặt tại vùng giải phóng miền Nam, kể cả vùng ven đô Sài Gòn-Chợ Lớn. Tập phóng sự Trong căn cứ Việt Cộng có tác động mạnh đến dư luận châu Âu và được trao Giải thưởng của Tổ chức quốc tế các nhà báo (OIJ) năm 1966. Giặc Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc. Madeleine lại có mặt bên chân cầu Long Biên. Một tập phóng sự nổi tiếng khác ra đời: Ở miền Bắc Việt Nam - Viết dưới bom đạn.
Năm 1969, Bác Hồ đã yếu song Người vẫn vui lòng tiếp đứa cháu gái đến từ đất nước Pháp xa xôi. Ít lâu sau lần gặp ấy, Bác qua đời. Được tin, Madeleine viết một bài đầy xúc động: Bác Hồ ra đi giữa mùa thu. Chị viết: "Có thật là lần này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh viễn ra đI rồi ư? Những ai từng được gặp Người một nơi nào đó trên đất nước Việt Nam trong chiến tranh đều không thể nào tin như vậy...".
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh, Madeleine Riffaud lúc này rất nổi tiếng song sức khoẻ sút kém nhiều, lại viết trên báo Nhân đạo: "Tôi nhìn bông hoa sen trên tấm biểu ngữ, và tưởng lại nhìn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đúng như năm 1946, lần đầu tiên tôi được gặp Người..."
PQ
Nguồn: Cho đến khi giã từ trần thế. Tiểu luận, bút ký của Phan Quang. NXB. Phụ nữ. 2011.
www.trieuxuan.info
|