tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19732723
15.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (8)

Sau lúa, ngô, lúa mì, kê là cây lương thực được trồng nhiều hàng thứ tư trên thế giới. Kê có mặt khắp các châu lục và là thức ăn nuôi sống nhiều triệu người. Theo công bố của tổ chức Lương nông quốc tế, thì diện tích trồng kê lên tới hơn 29 triệu hecta trên vùng bán sa mạc nhiệt đới của châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.


Kê thuộc họ Hòa thảo Graminae, là cây trồng nhiệt đới, nhiệt độ tối thích từ 35 đến 43oC, khả năng chịu hạn cao. So với lúa, năng suất trồng kê thấp, chỉ khoảng 780 kg/ha.


Nhiều thứ kê được trồng nhưng phổ biến nhất là 4 loài sau:


Pennisetum glaucum tên tiếng Anh là Pearl millet


Setaria italica tên tiếng Anh là Foxtail millet


Panicum miliaceum tên tiếng Anh là Proso millet (còn được gọi là common millet, broom corn millet, hog millet or white millet)


Eleusine coracana tên tiếng Anh là Finger millet


Về nguồn gốc của cây kê, các tài liệu chính thức cho rằng, kê được trồng trước hết tại làng Bonfo (Bán Pha) gần thủ phủ Tây An, tỉnh Thiểm Tây, trong quần thể văn hóa Yangshao (Ngưỡng Thiều) Trung Quốc. Tại di chỉ 5000 năm TCN Bonfo, các nhà khảo cổ tìm được nhiều chum vại chứa vỏ kê thuộc hai loài Setaria italia (su) và Panicum miliaceum (ji ) trong những gian nhà kho. So sánh với những di chỉ trồng kê khác trên thế giới, tới nay các nhà khoa học đồng thuận cho rằng cây kê được trồng đầu tiên tại Yangshao Trung Quốc.


Tuy nhiên, có những chứng cứ cho thấy sự thực không hoàn toàn như vậy khiến cho nguồn gốc của cây kê cần được xem xét lại. Trong chuyên luận này, chúng tôi muốn trình bày cách nhìn khác về nguồn gốc cây kê.


Muốn xác định nguồn gốc của cây kê phải giải quyết 2 vấn đề: 1. Người trồng kê ở làng Bonfo là ai? Và 2. Cây kê được trồng trước hết ở đâu?


1. Cư dân làng trồng kê Bonfo 5000 năm TCN là ai?


Trong tác phẩm Nguồn gốc phương Đông (The Cradle of the East), giáo sư Ho Ping-Ti viết:


“ Setaria và Panicum là những cây bản địa (trong những vùng đất cao hoàng thổ Trung Quốc) theo bằng chứng từ những tài liệu cổ, những loài kê hoang dã tồn tại hôm nay, và lịch sử canh nông lâu dài của vùng này.”


Và “Từ bằng chứng của môi trường địa lý, nhân loại thực thể học, những đồ vật tiêu biểu, và văn hóa, cho thấy người Yangshao đến từ miền nam Trung Quốc.”


Ông viết tiếp:


“Bằng chứng từ nhân loại thực thể học: khi so sánh với những nhóm người Mông Cổ khác, người Yangshao mang đăc điểm cơ thể gần nhất với người Trung Hoa hiện đại ở phía nam Trung Quốc và người Đông Dương hiện đại. Giống nhau gần tiếp theo của họ là với người Trung Hoa hiện nay ở phía Bắc Trung Quốc. Họ có những đặc trưng cơ thể rõ ràng khác với người Eskimos của Alaska, Tungus của Manchuria, người Tây Tạng, và những người Mongoloid vùng hồ Baikal. Theo thuật ngữ nhân chủng học Xô viết được chấp nhận bởi trường phái Trung Quốc, người Trung Hoa Yangshao được phân loại thuộc nhánh Thái Bình Dương của chủng Mông Cổ hay còn gọi là chủng Mongoloid phương Nam và như vậy được phân biệt với proto-Tungus của Manchuria, những người được phân loại thuộc về chủng Mongoloid phương Bắc (Ho 1975: 38).(1)


Cho rằng chủ nhân của di chỉ Bonfo thuộc chủng Mongoloid phương Nam là phù hợp với thực tế và được di truyền học xác nhận qua công trình Đa dạng di truyền người Trung Quốc(2). Tuy nhiên, nói nguời Yangshao đến từ miền Nam Trung Quốc cần được xem xét lại.


 Nhiều công trình nhân chủng học cho thấy, vào thời kỳ văn hóa Yangshao, phía Nam Trung Quốc bao gồm lưu vực sông Dương Tử tới toàn bộ Đông Nam Á không hề có người Mongoloid sinh sống. Khảo cổ học đã không phát hiện bất cứ sọ loại hình Mongoloid nào trong vùng mà chỉ có sọ Australoid. Người Mongoloid chỉ xuất hiện ở đây vào đầu thời đại đồ Đồng, khoảng 2500 năm TCN. Như vậy, người Yangshao không thể từ nam Trung Quốc đi lên.


Một vấn đề cần được làm rõ: người Mongoloid phương Nam từ đâu ra?


Muốn trả lời, cần có cái nhìn đầy đủ về lịch sử hình thành dân cư Đông Á.


Nhờ phát kiến di truyền học về nguồn gốc và sự di cư của loài người trên hành tinh, ta biết rằng:


Khoảng 70.000 năm trước, người Khôn ngoan Homo sapiens gồm 2 đại chủng Mongoloid và Australoid từ châu Phi theo đường ven biển Nam Á tới Việt Nam. Tại đây hai đại chủng người tiền sử hòa huyết cho ra cư nhân Việt cổ gồm 4 chủng: Indonesien, Melanesien, Vedoid và Negritoid. Trong môi trường thuận lợi, họ tăng nhân số và lan ra khắp Đông Nam Á rối châu Đại Dương.


 Khoảng 40.000 năm trước, khi thời băng hà cuối cùng đi qua, người Việt từ Đông Dương đi lên chiếm lĩnh đất Trung Hoa. Muộn nhất khoảng 30.000 năm trước, họ đã là chủ nhân toàn bộ Trung Hoa, cả vùng ngày nay là Thiểm Tây, Sơn Tây… Cũng trong thời gian này có những nhóm người Mongoloid riêng rẽ (không hòa huyết với Australoid) theo hành lang phía Tây Đông Dương đi tới vùng Cam Túc, Thiểm Tây. Lúc đầu sống bằng săn bắt, hái lượm sau đó họ chuyển sang du mục và trở thành tổ tiên chủng Mongoloid phương Bắc sống ở Tây Bắc Trung Quốc. Trong một vài bài viết trước đây (Khai sinh người Hán và sự hình thành nước Tàu) tôi cho rằng: “Khoảng 2600 năm TCN, khi vượt Hoàng Hà chiếm đất của người Bách Việt, người Mongoloid phương Bắc đã hòa huyết với người Việt thuộc loại hình Australoid sinh ra chủng mới là Mongoloid phương Nam.” Điều này tuy không sai nhưng chưa đủ. Trên thực tế, tình hình như sau: Do sống gần gũi nhau trên cùng địa bàn, nên cố nhiên có sự gặp gỡ hòa huyết giữa người du mục và người nông nghiệp. Từ những cuộc tiếp xúc tự nhiên như vậy, những đại diện Mongoloid phương Nam đầu tiên ra đời. Do nhu cầu cuộc sống mà sự tiếp xúc Việt-Mông ngày thêm tăng, dẫn tới số lượng người Mongoloid phương Nam ngày thêm đông, cư trú trải dài từ phía Tây đến trung lưu Hoàng Hà, trong đó có Bonfo. Là con lai Việt, họ sống hòa thuận trong cộng đồng Bách Việt. Như vậy, có thể kết luận rằng, chủ nhân của làng trồng kê Bonfo là người được sinh ra tại chỗ. Trong khi tổ tiên họ, người Bách Việt thì từ Đông Dương, từ nam Trung Hoa đi lên.


2. Cây kê được trồng trước hết ở đâu?


Ngay từ năm 1932 của thế kỷ trước, Hội nghị quốc tế về tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội đã kết luận: “Đông Nam Á mà đại diện là Hòa Bình Việt Nam là trung tâm sớm nhất sản xuất công cụ đá mài bóng và cũng là trung tâm sớm nhất sản xuất nông nghiệp của thế giới.”(1)


Người Hòa Bình trên đường thiên di lên phía Bắc đã mang theo công cụ đá mài bén mà tiêu biểu là chiếc Việt. Sau đó giống lúa cùng vật nuôi như gà, chó cũng được người Hòa Bình đưa lên.


 Còn cây kê xuất hiện ra sao? Có hai khả năng.


Thứ nhất, người Yangshao chiếm lĩnh vùng hoàng thổ của Hoàng Hà, trong điều kiện tự nhiên riêng của mình, đã thuần hóa cây kê thành cây lương thực chính yếu.


Nhưng ý tưởng này khó đứng vững khi phân tích toàn cảnh bức tranh nghề nông ở Á Đông.


Giáo sư Zhu Naicheng trong chuyên luận “Tổng quan về nghề trồng lúa tiền sử Trung Hoa” [A Summary of the Chinese Prehistoric Rice-cultivating Agriculture (Zhu 2005)], viết.


 “Khởi nguyên việc trồng lúa ở Trung Hoa vào khoảng 10.000 năm TCN tại hai địa điểm là hang Xianren trong lãnh địa Wannian (Vạn Niên), tỉnh Jiangxi (Giang Tây), và Vách đá Yuchan trong huyện Dao tỉnh Hunan (Hồ Nam), đều thuộc đồng bằng sông Dương Tử, trong khu vực khí hậu cận nhiệt đới Nam Trung Hoa.”


Bài viết cũng liệt kê hàng loạt địa điểm trồng lúa khác giữa lưu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử trong khoảng từ 7000 đến 2000 năm TCN. Giới hạn của việc trồng lúa đạt đến phạm vi 35° vĩ độ Bắc, ở phía nam Hoàng Hà.


 Tài liệu còn cho biết:


“Cả gạo lẫn cây kê đều được gieo trồng trong khu vực giữa sông Hoàng Hà và sông Huai (Hoài). Tiên tiến nhất là văn hóa Liangzhu.”


Và:


“Vài vết tích của lúa gạo được khám phá tại những di chỉ thuộc văn minh Yangshao trong thung lũng Hoàng Hà.”(1)


Những thông tin trên cho ta biết một điều quan trọng là: lúa gạo và cây kê đã được trồng xen nhau trong những di chỉ văn hóa tiền sử Trung Hoa.


Do không được thông tin đầy đủ về niên đại những di chỉ có trồng kê cụ thể nên ta không thể rút ra nhận xét về hành trình của cây kê là từ nam lên hay từ bắc xuống.


Bổ sung cho sự hạn chế này, ta sử dụng nguồn thông tin khác, đó là huyền thoại


Trong bài báo: “Ngôi sao bầu trời bú sữa con heo”(2), của tiến sĩ dân tộc học Nguyễn Tiến Hữu, nguyên giáo sư các đại học Munich và Passau, CHLB Đức có đoạn viết:


 “Tại Đài Loan, thần thoại về đại hồng thủy của bộ tộc bản địa người Tsuwo và người Bunun, thuộc cư dân nói tiếng Nam Á, một phần của khu vực châu Á- Thái Bình Dương, có một đoạn đề cập đến chuyện một ngôi sao rơi xuống ngọn núi biến thành nguồn lửa đầu tiên cho loài người. Nhưng vì đại hồng thủy dâng lên quá cao, ngọn núi bị ngập một nửa, có nguy cơ chìm sâu vào biển nước. Dân làng lánh nạn đổ xô nhau đứng tràn đầy cả núi đồi, nhưng không ai ra tay cứu giúp. Chỉ có một con heo can đảm xông ra bất chấp cuồng bão, hì hục tháo con đập để nước lụt thoát đi, cứu được ngọn núi và lửa trời do vì sao đưa đến cho con người. Sau khi nước lũ rút, chỉ còn cây kê cuối cùng được sử dụng để khôi phục nghề nông. Thần thoại Bana (cũng thuộc ngữ hệ Nam Á) của Việt Nam ta có nhắc đến “cây kê cuối cùng” này.”


Huyền thoại con heo cứu nạn và cây kê cuối cùng nhắc tới cơn Đại hồng thủy xảy ra 7500 năm trước(1). Lúc này người từ những hòn đảo nam Thái Bình Dương dùng thuyền bè di tản khỏi những vùng bị ngập lụt. Trong quan hệ chằng chịt của dân cư Đông Nam Á, rất có thể người Tsuwo và Bunun là hậu duệ của những dân cư nam Thái Bình Dương tránh lụt dạt vào Đài Loan. Những thuyền nhân chạy lụt này cùng với những cây và con giống, đã mang theo huyền thoại gốc gác của mình tới Đài Loan. Huyền thoại này cho ta thấy điều thú vị là vai trò của cây kê trong cuộc sống của người Đông Nam Á cổ: cây kê cuối cùng làm lại cơ nghiệp! Như vậy, chí ít, 7500 năm trước, kê đã được trồng tại khu vực này và có vai trò quan trọng đối với con người. Điều thú vị nữa là truyền thuyết này lại liên quan tới câu chuyện cổ của người Bana sống ở Tây Nguyên Việt Nam. Qua nhiều dẫn chứng về di truyền, ngôn ngữ, và văn hóa, ta biết rằng người Việt cổ từ thời đồ Đá đã di cư ra các đảo nam Thái Bình Dương, mang theo dụng cụ đá mài bén, gà, chó, giống lúa. Rất có thể, cây kê từ đây cũng được sẻ chia với đồng bào hải đảo theo con đường tương tự. Trong cơn bĩ cực do lụt lội, cây kê cuối cùng cứu nạn đã in dấu ấn sâu đậm trong ký ức cộng đồng, được lưu giữ trong huyền thoại của những người chung máu mủ và văn hóa. Ngày nay, cây kê cuối cùng (last millet) trở nên thành ngữ của nhiều nước.


Từ những tư liệu trên, chúng tôi thử đưa ra giả định:


Tại đâu đó ở Đông Dương, cây kê được thuần dưỡng làm thức ăn. Về mặt sinh học, kê gần hơn với cỏ dại cho nên việc chọn lọc, thuần hóa thuận lợi, ít tốn thời gian. Và cây kê trở thành lương thực bổ sung cùng với các loại củ, quả, trai ốc, cá, thú rừng…Tới lúc nào đó, cây lúa được phát minh và chứng tỏ ưu thế vượt trội: chất gạo dễ tiêu hóa hơn, chế biến dễ hơn, thích hợp hơn với môi trường nước vốn có sẵn và đặc biệt là cho năng suất cao hơn. Dần dần lúa gạo thay cho kê trở thành cây trồng chính. Tuy nhiên, với tâm lý được mùa chớ phụ ngô khoai, người Đông Dương vẫn giữ kê là cây trồng phụ, tận dụng những chỗ đất cao, không thể tuới. Và với những tộc người sống ở vùng cao, kê vẫn là cây trồng chính.


Khi lên phía bắc, người tiền sử Việt Nam mang theo gà, chó, lợn, khoai sọ, hạt giống lúa và cả giống kê. Lúa và kê cùng được trồng trên vùng cư trú và theo chân người khai phá lên tới lưu vực Hoàng Hà. Tại vĩ tuyến 35o, trước rào cản khí hậu, cây lúa không vượt qua được, đành dừng chân để cho anh mình là cây kê tiếp bước và cây kê dần dần chíếm vị thế cây lương thực chủ thể của vùng hoàng thổ sông Hoàng Hà.


 Năm 1921, khi phát hiện di chỉ Yangshao và sau đó Bonfo, thấy vương quốc của cây kê 5000 năm TCN, giới khoa học tâm phục khẩu phục cho rằng người Mongoloid phương Nam ở Yangshao là chủ nhân sáng tạo ra cây kê. Nhưng có lẽ sự thực không như vậy. Trước hết, người Yangshao còn quá trẻ, tự họ chưa thể làm nên nền văn hóa rực rỡ như ta thấy. Họ chỉ có thể tiếp thu những điều khôn ngoan này từ tổ tiên Bách Việt. Cây kê cũng là kết quả của sự kế thừa đó. Sự kiện này 2500 năm sau được lặp lại. Khi người Mông Cổ phương Bắc tràn qua Hoàng Hà chiếm đất của người Việt, họ đã hòa huyết với người Việt và thế hệ con lai Mongoloid phương Nam nhanh chóng học nghề nông cùng văn hóa Bách Việt để sáng tạo nền văn hóa Hoa Hạ rực rỡ.


Mặt khác, cũng như cây lúa, cây kê là sản phẩm sáng tạo của người Đông Nam Á. Nhưng kê cũng như lúa gạo không thể tồn tại lâu khi bị chôn vùi trong môi trường nhiệt đới nóng và ẩm nên khảo cổ học không phát hiện được di tích sớm nhất của lúa và kê tại vùng này. Không thấy không có nghĩa là không có! Tin rằng, ngày nay, với công nghệ gene, khoa học sẽ giải đáp lời thách đố này trong tương lai không xa.


Tháng 12. 2007


 


TỔ TIÊN NGƯỜI CHÂU ÂU LÀ AI?


Dưới nhan đề trên, bào mạng Khoahoc.net số ra ngày 9. 8. 2007 đăng bản tin sau:


“Từ trước đến giờ, các khảo cứu gia cứ lầm tưởng rằng người dân châu Âu là do những cuộc di dân, từ hàng triệu năm trước, của các sắc dân gốc Phi châu mà thành. Nhưng sau khi khảo nghiệm hơn 5.000 mẫu răng hóa thạch của những dân gốc Phi châu, Á châu và những giống người khác, các nhà nhân chủng học người Tây-ban-nha, Ý và Georgia đã kết luận rằng những cuộc di dân từ thời xa xưa đến Âu châu đúng ra phần nhiều là do những sắc dân gốc Á châu, chứ không hoàn toàn là từ Phi châu như những giả thuyết mà các khảo cứu gia đã đề quyết bấy lâu.


Qua những phân tích về gen của các mẫu răng có từ 1,8 triệu năm tuổi cho đến những mẫu răng của những người Neanderthal cách đây 250 000 năm, các cuộc khảo nghiệm này đã chứng minh rằng răng của những người da trắng tại Âu châu có những đặc điểm giống những dân tại Á châu hơn là Phi châu. Nghĩa là sự hình thành những người dân tại Âu châu hiện nay là do những cuộc di dân của những dân gốc Á và các sắc dân từ lục địa Phi châu, với những tiến trình khác nhau trong suốt một thời kỳ dài.


Tất cả những khám phá này vừa được tường trình trên tạp chí chuyên khoa PNAS (Proceedings of the National Academy of Sciences) của Hoa kỳ.


 (http://www.radio-canada.ca/nouvelles/Science-Sante/2007/08/07/004-europe-colonisation-asie.shtml?ref=rss)


 


Cũng trên PNAS (Biên bản Viện Hàn lâm khoa học Hoa Kỳ) tôi thấy bản tin sau:


Những khuyên tai 5000 tuổi đã tiết lộ việc buôn bán ngọc theo hải trình dài từ Đài Loan


(5,000 Years Old Jade Earrings Betray Long-Route Seafaring- The jade was coming from Taiwan. By: Stefan Anitei, Science Editor ”Ngọc bích từ thời xưa đã có giá trị ở châu Á và tới nay nó trở lại trong câu chuyện mới: vật dụng bằng ngọc quý tìm được từ những ngôi mộ cổ đã được vận chuyển theo những hành trình dài ngang qua Đông Nam Á bằng những con thuyền buôn. Đó là nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Biên bản Viện Hàn lâm khoa học Mỹ (Proceedings of the National Academy of Sciences- PNAS)


Những phân tích địa chất học cho thấy, phần lớn trong 144 mẫu vật ngọc, từ 5000 năm trước, đã được chở từ Đài Loan, hòn đảo cách bờ biển Trung Hoa 120 km. Đá quý Đài Loan đã được chuyển đi xa 3000 km tới Đông Nam Á. Điều này có nghĩa là 5000 năm trước, cư dân cổ đã thực hiện những chuyến hải hành xa xôi và phức tạp. Những đồ vật ngọc bích được tìm thấy tại 49 địa điểm ở Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Philippine, phần lớn gần những bộ xương cổ chôn dưới đất, trong những lọ, bình hay bên những xương sọ, những khuyên tai chứng tỏ chủ nhân chúng là quý tộc có đặc quyền được sử dụng.


”Tôi cho rằng, [văn hóa Đông Nam Á cổ] tiến bộ hơn là chúng ta nghĩ. Chúng có quan hệ rất rộng. Chúng ta thực sự không thể nghĩ được rằng, ngọc từ Đài Loan được du hành đi xa tới như vậy.” Nhà khảo cổ học Peter Bellmore, đồng tác giả công trình nghiên cứu, thuộc Đại học Quốc gia Úc (ANU) tại Canberra nói. Nhóm khảo cứu phân tích hai kiểu vật phẩm ngọc: vòng đeo tai ba mũi nhọn “lingling-o” và hoa tai hai đầu thú có tuổi từ 500 năm TCN và 500 năm sau CN. Tỷ lệ của sắt, manhê, và kẽm-crômite trong ngọc cho thấy rằng 116 mẫu vật lấy từ 38 địa điểm khác nhau được khai thác từ mỏ ngọc Fengtian phía Đông Đài Loan. Nguồn gốc của 28 mẫu vật khác đến nay không rõ.


”Từ thập niên 40, những nhà khảo cổ học nhận ra rằng, đồ ngọc chế tác có sự giống nhau về phong cách và kiểu dáng giữa những vùng khác nhau ở châu Á. Tuy nhiên chúng ta không hề nghĩ rằng những vật mà chúng ta phân tích đó có cùng nguôn gốc,” Hsiao-Chun Hung, cũng của ANU, người đứng đầu nhóm nghiên cứu nói.


Trong khi chỉ có một khuyên tai tìm thấy ở Đài Loan giống với những mẫu được phân tích thì những mẫu ngọc ở Việt Nam và Thái Lan, bao gồm những mảnh bị bỏ đi hoặc những khuyên tai chưa hoàn chỉnh, chứng tỏ những khuyên tai này đựơc chế tạo tại chỗ. Ngọc bích rất dai và rắn trong khi chế tác nên cần kỹ năng nghề nghiệp cao cùng công cụ sắc.


"Chỉ vài thợ thủ công thật lành nghề mới có khả năng giám định ngọc. Có lẽ, những thợ thủ công này xuất khẩu ngọc bích như một nguyên liệu thô và sau đó ngọc thành phẩm đựơc sản xuất trong lò kim hoàn địa phương. Ngọc bích đến từ Đài Loan, nhưng nhiều đồ vật không phải được làm ở Đài Loan. " Bellmore nói.


Đây là "đóng góp quan trọng cho một vấn đề xứng đáng được quan tâm hơn: kỹ năng hàng hải của những xã hội Đông Nam Á cổ.” Nhà nhân chủng học Charles Higham thuộc Trường đại học Otago New Zealand kết luận.”


*


 Hai bản tin trên tiết lộ những bí mật quan trọng về nhân chủng và văn hóa Đông Nam Á.


Con người xuất hiện đầu tiên tại châu Phi 5 triệu năm trước. Trong hoàn cảnh nào đó và thời gian nào đó họ đã thiên di tới châu Á, để 1,8 triệu năm trước thì từ đây đi sang châu Âu. Đó có thể là những giống người mà đại diện là người Bắc Kinh, người Java. Và giống người cổ từ châu Á sang châu Âu muộn nhất là người Homo Neanderthalensis, cách nay 250.000 năm. Đấy là hành trình của lớp người cổ, đã bị diệt vong.


Hình như lịch sử lặp lại: con người một lần nữa từ châu Phi đi sang châu Á.


Theo những khám phá mới nhất thì người hiện đại Homo sapiens sapiens xuất hiện ở Đông Phi khoảng 160.000 năm trước. Khoảng 70.000 năm trước, họ vượt cửa Hồng Hải tới bán đảo A Rập rồi men theo bờ biển Pakistan, Ấn Độ tới Đông Nam Á. Tại Việt Nam, hai đại chủng Australoid (da đen) và Mongoloid (da vàng) hòa thuyết, tạo ra người Việt cổ gồm hai chủng là Indonesien và Melanesien. Khoảng 40.000 năm trước, khi băng hà tan, người Việt cổ đi lên chiếm lĩnh toàn bộ đất Trung Hoa. Từ đây họ lên cao nguyên Tây Tạng, vào Trung Á rồi tràn sang châu Âu.


Cũng thời gian này, đại chủng Europid (da trắng), những người trong đoàn di cư 70.000 năm trước dừng lại ở vùng Cận Đông, bây giờ nhờ thời tiết được cải thiện, cũng lục tục tiến vào châu Âu theo ngả Posporus. Trên địa bàn châu Âu, những người từ châu Á sang gặp gỡ người từ Cận Đông lên, hòa huyết cho ra tổ tiên người châu Âu hiện đại thuộc chủng Europid (da trắng). Khi phân tích DNA răng, thấy sự đóng góp mờ nhạt ảnh hưởng châu Phi trong dân cư châu Âu chứng tỏ rằng, số người từ châu Á sang có nhân số áp đảo nên để lại dấu ấn di truyền mạnh hơn.


Người cổ Homo neanderthalensis có số phận đặc biệt: Có mặt 250.000 năm trước ở châu Âu, nhưng gặp cơn giá lạnh khắc nghiệt kéo dài 5000 năm từ 40.000 đến 35.000 năm trước, họ đã suy thoái sinh học và tới 24.000 năm trước thì bị diệt vong. Có ý kiến cho rằng người H. neanderthalensis là tổ tiên người châu Âu hiện đại, Nhưng những bằng chứng gene cho thấy dấu vết của họ ở người châu Âu hiện đại quá mờ nhạt, nên họ chỉ có thể là họ hàng xa của con người hiện nay. Cũng có khả năng xảy ra sự hòa huyết gữa họ với H. sapiens nhưng nếu có thì sự đóng góp này của họ cũng không rõ ràng.


 Những phân tích về nhân chủng cùng hoạt động buôn bán ngọc cho thấy:


Châu Phi là nơi khai sinh loài người thì Đông Nam Á là cái nôi của văn minh nhân loại. Do điều kiện địa lý và khí hậu thuận lợi nên những người tới Đông Nam Á nhanh chóng tăng số lượng, bỏ qua đồ Đá cũ, bước sang Đá mới và khoảng 24.000 năm trước đã phát minh cây lúa nước và thuần hóa gà, chó(1), tạo ra nền nông nghiệp sớm nhất thế giới. Vào thiên niên kỷ IV TCN, người Việt cổ tại Đông Á đã làm chủ biển Đông. Những hoạt động mua bán, chế tác ngọc dẫn trên là bằng chứng thuyết phục.


Khai bút 2008


 


SUY NGẪM VỀ TIẾN TRÌNH VĂN MINH NHÂN LOẠI


Từng có thời thịnh hành quan niệm châu Âu là trung tâm của thế giới.


Văn minh châu Âu từ Hy Lạp, La Mã lan tỏa ra khai hóa các dân tộc lạc hậu phương Đông. Nhưng từ giữa thế kỷ XX, nhờ những phát hiện khảo cổ học ở Viễn Đông, quan niệm trên bị xét lại. Có những ý kiến cho rằng, phương Đông là cái nôi của văn minh nhân loại. Từ đây, những đồ Đá Mới tinh xảo rồi cây trồng, vật nuôi cùng tư tưởng nông nghiệp được truyền sang phương Tây. Bài viết Ánh sáng mới từ thế giới bị quên lãng (The New Light on the Fogotten Past) của tiến sĩ G. W. Solheim II thể hiện cách nhìn mới mẻ mang tính cách mạng này. Nhưng công trình có tầm bao quát hơn là Địa đàng ở phương Đông (Eden in the East) của tiến sĩ Stephen Oppenheimer. Bằng kinh nghiệm nhiều năm của thày thuốc khoa nhi sống gắn bó với nhiều đất nước Viễn Đông, ông đã kết hợp những khảo cứu về dân tộc học, ngôn ngữ học, folklor và di truyền học để đưa ra phát hiện lịch sử về vai trò của phương Đông trong văn minh nhân loại. Ông cho rằng, người tiền sử đã tới Đông Nam Á, chiếm lĩnh lục địa Sundaland. Nhờ môi trường thuận lợi nơi đây, họ đã sinh sản nhanh và khoảng 20.000 năm trước đã sáng tạo ra văn minh nông nghiệp. Khoảng 7500 năm trước, do Đại hồng thủy, người từ Viễn Đông di tản bằng thuyền, mang vật nuôi và hạt giống cây trồng cùng tư tưởng về nông nghiệp tới Trung Đông, tạo nên bước phát triển của văn minh phương Tây…


Những tư tưởng của S. Oppenheimer thật mới mẻ và khó phản bác. Nhưng do chưa đủ chứng cứ thuyết phục nên chúng chưa chiếm được lòng tin của giới khoa học.


Mới đây, với bài viết Rời khỏi địa đàng (Out of Eden Peopling of the World(1)) nói về cuộc hành trình của con người ra khỏi châu Phi và chiếm lĩnh thế giới, ông cung cấp những bằng chứng xác thực về tiến trình văn minh nhân loại.


Theo tác giả, hành trình của loài người chiếm lĩnh Trái đất gồm 18 bước như sau:


1. Khoảng 160.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens đã sinh sống ở châu Phi. Bằng chứng khảo cổ học sớm nhất được biết đến là mtDNA và Y- chomosome của người cổ được tìm thấy ở Đông Phi.


2. Từ 160.000 đến 135.000 năm trước


Bốn nhóm người săn bắt-hái lượm đi về phía nam tới Mũi Hảo Vọng, tây nam tới Congo Basin, phía tây tới Côte d’Ivoire, mang theo thế hệ thứ nhất của gen mtDNA típ “L 1”


3. Từ 135.000 tới 115.000 năm


Vào khoảng 125.000 năm trước một nhóm tiến về Sahara xanh, đi qua cổng phía bắc, tới sông Nile tại Cận Đông.


4. Từ 115.000 đến 90.000 năm trước


Nhánh đi tới Cận Đông bị tiêu diệt vào 90.000 năm trước. Một đợt băng giá khốc liệt xảy ra ở vùng này và Bắc Phi. Khu vực này sau đó bị người Neanderthal chiếm.


5.Từ 90.000 tới 85.000 năm trước.


Khoảng 85.000 năm trước, một nhóm băng qua mũi của Biển Đỏ rồi men theo bờ phía nam bán đảo A Rập tới Ấn Độ. Tất cả những người sống ngoài châu Phi đều thuộc nhóm này.


6. Từ 85.000 tới 75.000 năm trước.


Từ Sri Lanka họ tiếp tục men bờ Ấn Độ Dương tới phía tây Indonesia, sau đó tiến vào châu Á. Những người còn ở lại thì đi vòng Borneo tới nam Trung Hoa.


7. Từ 74.000 năm trước tại vùng Toba, Indonesia


Núi lửa Toba của Sumatra phun mãnh liệt tạo ra ‘mùa đông nguyên tử” kéo dài 6 năm và tiếp đó là 1000 năm băng hà cùng sự tàn phá đầy bi kịch, tiêu diệt không dưới 10.000 người. Tro núi lửa phủ dầy 5 m trên Ấn Độ và Pakistan


8. Từ 74.000 đến 65.000 năm trước.


Theo sau sự hủy diệt của tiểu lục địa Ấn Độ, con người tới tái dịnh cư tại đây. Những nhóm vượt biển bằng thuyền từ Timor tới châu Úc và từ Borneo tới New Guinea. Lúc này ở những vĩ độ thấp phương Bắc trở nên mát mẻ hơn.


9. Từ 65.000 đến 52.000 năm trước.


Khí hậu ấm lên vào 52.000 năm trước khiến cho những nhóm người từ bán đảo A Rập tiến lên phía bắc, tới vùng Lưỡi Liềm màu mỡ và trở lại Cận Đông. Từ đây họ tiến vào châu Âu qua eo Bosporus vào khoảng 50.000 năm trước.


10. Từ 52.000 tới 45.000 năm trước


Một đợt băng hà ngắn. Người Aurignacian với văn hóa Đá cũ muộn di chuyển từ Thổ Nhĩ Kỳ tới Bulgaria châu Âu. Đồ đá kiểu mới xuất hiện tại Danube của Hungary sau đó ở Áo.


11. Từ 45.000 tới 40.000 năm trước.


Nhóm từ Đông Á di cư về phía tây qua Trung Á rồi lên Bắc Á. Từ Pakistan họ đi tới Trung Á và từ Đông Dương qua vùng Tebet tiến tới cao nguyên Qinh-hai


12. Từ 40.000 tới 25.000 năm trước


Những người từ Trung Á đi về hướng tây tới Đông Âu, phía bắc tới Vòng Bắc cực và sang Đông Á để bắt đầu tiến về đông bắc lục địa Á – Âu. Thời kỳ này xuất hiện những đồ mỹ thuật, như là Chauvet cave ở Pháp.


13. Từ 25.000 tới 22.000 năm trước


Tổ tiên của thổ dân Mỹ từ Siberia băng qua eo Bering tới Alaska, theo hành lang băng tuyết tới Meadowcroft trước kỳ băng giá cuối cùng….


14. Từ 22.000 tới 19.000 năm trước


Trong suốt thời kỳ Băng hà cuối cùng, phía bắc châu Âu, Á và Bắc Mỹ trở nên hoang vắng, chỉ có từng nhóm người trú tại những nơi ẩn náu. Tại Bắc Mỹ, hành lang băng bị đóng lại và con đường ven biển bị đóng băng.


15. Từ 19.000 tới 15.000 năm


Thời kỳ băng giá cuối cùng 18.000 năm trước. Tại Bắc Mỹ, phía nam vùng băng, những nhóm người tiếp tục phát triển đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và gen. Họ đi xuống Nam Mỹ. Xuất hiện nghệ thuật đá của thổ dân Úc.


16. Từ 15.000 tới 12.500 năm trước


Khí hậu trái đất tiếp tục được cải thiện. Con đường ven biển được mở lại. Con người tới sống ở Monte Verde, Chile khoảng 11.790 đến 13.555 năm trước tính theo C 14. Những công cụ đơn giản bằng đá, đá cuội được phát hiện


17. Từ 12.500 đến 10.000 năm trước.


Khoảng 12.500 năm trước, Bắc Mỹ được chiếm lĩnh lại bởi những người từ phía nam lên và những người sống sót tại chỗ. Tại vùng Cận Bắc cực, 11.500 năm trước, những người sống sót tại khu vực eo Bering trở thành người Eskimo, Aleuts và người nói tiếng Na-Dene


18. Từ 10.000 đến 8.000 năm trước.


Chấm dứt thời băng hà cuối cùng, mở ra sự phát triển nông nghiệp. Sahara trở thành đồng cỏ xanh. Hươu cao cổ xuất hiện ở Niger. Con người tái chiến đất Anh và bán đảo Scandinavia


Nhìn vào con đường khúc khuỷu, quanh co bước trồi bước hụt chinh phục Trái đất của tổ tiên, ta thấy đó là con đường vạn dặm đầy khổ ải và hy sinh.


Hy sinh đầu tiên là những người từ châu Phi tới Cận Đông rồi bị băng tuyết chôn vùi 90.000 năm trước. Những Homo sapiens này là những người tiên phong đi ra khỏi cái nôi châu Phi. Chính do chọn lầm phương hướng, thay vì đi theo hướng mặt trời mọc, họ lại tiến về phía mặt trời lặn trong kỳ ấm áp tạm thời giữa kỷ băng hà nên bị băng tuyết hủy diệt.


Chứng kiến tai họa của những người tiên phong cùng sức ép dân số tăng, một nhóm khác, đã theo con đường ngược lại, vượt qua Hồng Hải, men bờ nam bán đảo A Rập rồi theo hướng mặt trời mọc tiến vế phía Ấn Độ. Là người đi sau nhưng những nhóm người này đã thực hiện được sứ mệnh của mình, trở thành những người đầu tiên ra khỏi châu Phi và là tổ tiên của toàn bộ những tộc người sống ngoài châu Phi.


Được kích thích bởi thời tiết ngày một dễ chịu hơn, nhóm người này hướng theo bờ biển Ấn Độ rồi chiếm lĩnh những hòn đảo lớn ngoài khơi Đông Nam Á, Đông Dương và nam Trung Hoa.


Nhưng thử thách mới đã đến: khoảng 74.000 năm trước, núi lửa Toba vùng Sumatra phun lửa. Nham thạch bao phủ toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ, chôn vùi khoảng 10.000 người và dìm vùng này trong “mùa đông nguyên tử” hàng nghìn năm.


Tai biến thứ ba xảy ra vào thời băng hà cuối cùng 22.000 – 19.000 năm trước. Thời tiết lạnh đột ngột tiêu diệt đại bộ phận những người đã sống ở phía cực bắc lục địa Âu – Á và bắc Mỹ. Chỉ còn từng nhóm nhỏ chống chịu được thì sống vô vàn khó khăn tại những nơi ấn nấp.


Giai đoạn chót của cuộc hành trình diễn ra vào 10.000 đến 8000 năm trước: thời băng hà cuối cùng chấm dứt. Sahara trở thành đồng cỏ xanh. Con người từ Trung Đông tiến vào châu Âu… mở ra sự phát triển nông nghiệp.


Nhìn bao quát hành trình của nhân loại, ta thấy rằng, có lẽ may mắn nhất là những người tới được Đông Nam Á. Trước hết, đây là vùng đồng bằng ven biển rộng mênh mông, khí hậu ấm áp nên rừng rậm, nhiều sông suối, sản sinh nhiều thú rừng, tôm cá, sò ốc… là nguồn thức ăn phong phú. Do địa bàn bằng phẳng, không quá vất vả kiếm sống nên con người sớm định cư thành quần thể lớn. Từ đây sự phân công lao động xuất hiện. Những sáng kiến cá nhân nảy sinh. Người Đông Nam Á sớm từ bỏ đồ Đá Cũ, bước sang đồ Đá Mới với những công cụ cuội mài bén mà đỉnh cao là loại rìu có vai. S. Oppenheimer cho rằng, khoảng 24.000 năm trước, trên địa bàn Đông Nam Á, việc trồng lúa và thuần hóa gia súc được thực hiện. Ý tưởng của ông tuy không được chứng minh bằng những vật chứng cụ thể nhưng có thể tin được nhờ việc phát hiện hạt lúa 13.000 năm trước bên sông Dương Tử. Ông có lý khi cho rằng, lúc đầu con người sống ở đồng bằng Sundaland sau đó đi dần lên vùng đất cao phía tây, phía bắc, nhất là khi nước biển dâng vào 18.000 năm trước. Văn hóa Hòa Bình là kết quả của cuộc di cư này. Khi biển dâng thì địa bàn cư trú tập trung nhất của người tiền sử bị nhấn chìm vì vậy ngày nay chúng ta không tìm được vết tích cuộc sống của họ. Văn hóa Hòa Bình chỉ là rìa của Sundaland đã bị hủy diệt.


Để củng cố ý tưởng của mình, S. Oppenheimer đã dẫn ra khá thuyết phục những truyền thuyết về Đại hồng thủy với việc những “nhà thông thái phương Đông” tới Lưỡng Hà trên những thuyền Noar mang theo con giống cùng những tư tưởng về nông nghiệp. Chính cuộc di tản của thuyền nhân Đông Nam Á tiếp sức cho nền văn minh nông nghiệp Lưỡng Hà mới manh nha. Như vậy, có cơ sở để tin rằng, nông nghiệp xuất hiện ở Đông Nam Á trước phương Tây khoảng 10.000 năm.


Nhận thấy mối quan hệ giữa sự cư trú và trình độ văn minh của người tiền sử, nhà địa lý kiêm toán học người Anh Fuller Buckminster đã xác lập Bản đồ động thái người (Human Dimaxion Maps), cho thấy, vào thiên niên kỷ IV TCN, vùng duyên hải Đông Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại sinh sống. Nhìn sự phân bố dân cư suốt chiều dài lịch sử nhân loại, ta có cơ sở để tin vào tính toán trên. Không phải bỗng dưng mà có hiện tượng đó. Đất lành chim đậu là quy luật của muôn đời!


Có lý do để nghĩ tới lẽ huyền vi của tạo hóa. Trong khi bộ phận khác của nhân loại phải phiêu lưu trên những con đường gian nan và chết chóc, thì số mệnh đã dành cho những người tới Đông Nam Á một địa đàng.


Văn hóa nông nghiệp không sản sinh ra những vị vua thần và nô lệ nên không xây dựng được những công trình đồ sộ như kim tự tháp. Nhưng văn hóa vật thể mà dân nông nghiệp để lại là những công trình trị thủy vĩ đại, bắt đầu từ trước cả thời vua Hạ Vũ, đời đời nối dài mãi, bối đắp mãi thành những con đê. Kỳ quan của dân nông nghiệp còn là những cánh đông mênh mông và hàng ngàn giống cây trồng cùng vật nuôi… Nhưng văn hóa phi vật thể mà dân nông nghiệp cống hiến cho nhân loại mới là to lớn. Trước hết đó là kinh Dịch, cuốn kỳ thư phản ánh bản thể cùng sự vận hành của vũ trụ. Một cuốn kinh vô tự xưa nhất của loài người nhưng luôn luôn mới mẻ, sáng suốt như người thầy thông thái dẫn đường cho nhân loại khám phá vũ trụ và bản thân mình. Về nhân sinh đó là Việt Nho với Nhân chủ, Thái hòa, Tâm linh. Đấy là triết học của mọi dân tộc, của mọi thời đại, cho rằng, trong tam tài thiên, địa, nhân thì con người là chủ, giữ vị trí tôn quý nhất. Với vai trò như vậy, con người sống thái hòa với xã hội và tự nhiên. Con người không chỉ là cơ thể vật chất mà còn là tâm linh. Là Đạo Việt An Vi: không vô vi cũng không hữu vi mà con người sống vì sự an nhiên, an hòa, an bình…


Ba trăm năm qua, trên nền tảng của văn minh du mục, triết học duy lý phương Tây đẩy nhân loại tới bước phát triển thần kỳ. Hơn bao giờ, con người được thụ hưởng những tiện nghi vật chất tưởng như chỉ có trong chuyện thần tiên… Nhưng oái oăm thay, chính trên đỉnh cao phát triển này, con người lại đứng trước sự hủy diệt, mà nguy cơ lớn nhất là sự nóng lên của Trái đất. Giữa nhu cầu phát triển và bảo vệ môi sinh là cuộc mặc cả của những chính trị gia thiển cận. Phải chăng không còn con đường nào cứu vãn Trái đát? Phải chăng con người đui mù đang dấn thân vào cõi chết?


Không hoàn toàn là tuyệt vọng! Những trí tuệ sáng suốt nhất của nhân loại đã hướng về phương Đông và tìm ra trong trầm tích văn hóa nơi cựu lục địa cái cẩm nang quý giá. Đó là Việt Nho với Nhân chủ, Thái Hòa, Tâm linh với Đạo Việt An Vi.


Kippling, nhà tư tưởng xuất sắc của chủ nghĩa tư bản đã nông nổi khi nói “Đông là Đông, Tây là Tây…” Là con người, không có gì thuộc con người lại xa lạ với con người. Phương Đông chính là nơi tích tụ năng lượng văn hóa, tâm linh vĩ đại của nhân loại. Chả có gì phải tự ty hay quá tự hào về chuyện này. Đấy chính là sứ mệnh của phương Đông. Và đây là lần thứ ba tư tưởng phương Đông cứu nhân loại.


Phú Thọ Hòa Sài Gòn, Xuân Mậu Tý


H.V.T


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.







(1) Dẫn theo Zhou Jixi: The Rise of Agricultural Civilization in China.SINO-PLATONIC PAPERS Number 175 December, 2006




(2) J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768.




(1) Nguyễn Thị Thanh: Việt Nam trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giớ. Vietcatholic 30. 9. 2001.




(1) Dẫn theo Zhou Jixi: The Rise of Agricultural Civilization in China.SINO-PLATONIC PAPERS Number 175 December, 2006




(2) http://vietbao.vn/Tet/Ngoi-sao-bau-troi-bu-sua-con-heo/40187285/365/




(1) Stephen Oppenheimer Địa đàng ở phương Đông NXB Lao động 2005




(1) Xem: Stephen Oppenheimer: Địa đàng ở phương Đông. NXB Lao Động H. 2004.




(1) http://www.bradshawfoundation.com/journey/introduction.html



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »