tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21087699
06.06.2012
Phan Quang
Hòn ngọc dữ dội

Qua khỏi đèo, chiếc xe con dừng lại. Chúng tôi xuống xe đi sâu vào rừng. Gọi rừng không hẳn đúng vì thảo vật ở đây phần lớn là những cây thứ sinh không cao lắm lẫn cỏ dại và bụi bờ rậm rịt, che khuất cả đầu người. Địa hình hiểm trở, thoáng trông thì bằng phẳng thế kia nhưng bất ngờ ở đâu đấy có thể gặp những khối đá lớn chồng chất như bức tường chắn ngang lối đi, hoặc là những khe rãnh sâu, bờ dựng đứng. Lần xuống những khe ấy có khi lạc vào những hang động không có mấy dấu chân người.


Đang giữa tiết xuân, bụi bờ, cây cỏ đều nở hoa. Hoa trắng, hoa vàng nhạt, hoa phớt tím, hoa hồng non… Tôi để ý dường như rất ít có màu sắc mạnh ở đây. Chị Alia hỏi tôi:


- Anh có ngửi thấy mùi gì không?


Có. Trong không gian bàng bạc một mùi hương khi thì thoang thoảng như mùi lá hương nhu, khi thì đậm đà hơn một chút, y như mùi tỏa lan từ khóm sả – có lẽ tùy theo sức mạnh của làn gió thổi mà mùi hương mỗi lúc có những cung bậc khác nhau chăng.


Tôi ngắt một chùm hoa, đưa lên mũi ngửi. Hoàn toàn không có hương. Chị Alia cười:


- Anh chớ tìm hương ở từng bông hoa riêng rẽ. Đây là hương của núi rừng. Hương của tất cả các loài hoa. Nếu có mùi nào trội lên chăng thì chắc là hương của loài hoa kia. Nó chính là “hoa của rừng”. Thử ngửi nó, may ra anh mới nhận ra được mùi thơm.


Xin được nói ngay: Từ rừng hoặc núi rừng tôi vừa dùng ở trên là để cho thuận tai người đọc, và vì chưa nghĩ ra được từ tương đương trong tiếng Việt. Tiếng Pháp đọc là maquis; mà nhiều văn bản trước chiến tranh thế giới thứ hai còn cẩn thận lồng nó vào trong ngoặc kép để biểu thị đây là một từ ngoại lai, chưa phổ cập lắm. Từ ngữ ấy vốn xuất xứ từ hòn đảo này. Ở đây từ nhiều thế kỷ trước đã có cụm từ “đi vào maquis”, thoạt đầu có nghĩa là trốn tránh vào rừng. Người ta trốn vào maquis để chống lại nhà cầm quyền, để làm người nổi loạn, thậm chí để làm tướng cướp. Cho đến thời người Pháp kháng chiến chống phát xít Đức chiếm đóng, nội hàm của cụm từ “đi vào maquis” mới mang ý nghĩa tích cực hơn, tốt đẹp hơn, y như người Việt Nam ta nói “vào bưng” hoặc “lên xanh” – vào bưng biền, lên núi xanh để chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ. “Đi vào maquis” để chiến đấu chống phát xít. Từ đó, phát sinh một danh từ mới: maquisard, chỉ người du kích quân.


Loại “hoa rừng”, hay tốt hơn cứ gọi là “hoa của maquis” mà chị Alia vừa nói tới kia là những bông hoa bé bỏng, màu sắc từa tựa như hoa mimôda nhưng nhạt hơn, trắng hơn. Hương của nó không thơm mà hơi hăng hắc. Tôi để ý thấy trong maquis có nhiều loại hoa thường gặp ở nước ta: trúc đào, phượng vàng, sim tím… Mimôda thì rất nhiều. Có những gốc mimôda lâu năm, thân cây xoắn xít vào nhau lớn cả vòng tay ôm. Tôi chợt nhớ hình như có lần ai đó từng nói, chính một người gốc gác từ đảo Corse này đã di thực giống cây ấy lên Đà Lạt, trồng trong vườn biệt thự của mình. Từ cái vườn ấy nó dần dần thích nghi và lan rộng, trở thành một loài hoa Đà Lạt nổi tiếng như hiện nay – quen thuộc đến mức chẳng còn mấy ai, trừ người nghệ sĩ kia, băn khoăn tự hỏi “em từ đâu đến”.


Chị Alia ngắt một bông hoa khác, đưa cho tôi:


- Anh thử ngửi bông hoa này xem. Có đúng là thơm hơn không? Nhưng nó độc lắm, có - thể làm chết người đấy. Ngày xưa, những cô gái thất tình uống nước cây hoa này để tự kết liễu cuộc đời.


Tôi hơi bàng hoàng vì một sự liên tưởng. Bông hoa này đẹp dịu dàng, lại thơm như mùi hồi trong rượu anisette nổi tiếng của người Pháp. Nhưng hình dáng nó tuyệt nhiên không giống hoa cây lá ngón ở miền ngược nước ta, mà tôi có dịp nhìn thấy hoa, nhân chuyến đi thăm bản Mèo trên Hoàng Liên Sơn năm nào. Điều kỳ lạ là hai cây hoa có một điểm giống nhau: hoa cây nào cũng rất đẹp và cũng thoang thoảng mùi hương. Cùng đẹp, cùng thơm và cùng có thể làm chết người.


- Đấy, anh xem – chị Alia nói tiếp – maquis của chúng tôi đẹp thế kia, dễ chịu thế kia, hấp dẫn thế kia nhưng xin chớ mãi say sưa mà đi sâu vào quá. Nó rộng lắm, và nhất là nó chứa đựng nhiều hiểm nguy khôn lường.


Thấy tôi mỉm cười, chị nói:


- Thật đấy mà. Tôi không hù dọa anh đâu. Thời còn là sinh viên tôi từng suýt bỏ mạng vì mải mê đi sâu vào maquis đấy. Lạc hai ngày, và không sao tìm được lối ra. May gặp một đoàn du lịch người Ý cứu. Chậm ít nữa thì tôi chết khát. Có rất nhiều khe suối nhưng đều là suối cạn, chẳng có nước đâu. Lần suýt chết ấy, tôi nhớ đời.


- Đảo của chúng tôi là như vậy đó, anh ơi. – Chị nói thêm – Đẹp lắm mà cũng dữ dội lắm.


*


*   *


Đẹp thì hiển nhiên rồi. Người Pháp vẫn tự hào đây là một viên ngọc của họ giữa Địa Trung Hải mà. Từ trên máy bay, nhìn xuống bờ biển dựng đứng đá hoa cương hồng, rực lên giữa ánh mặt trời giữa nền biển xanh thắm, giữa đảo lấp lánh những đỉnh núi tuyết, tôi thấy hình ảnh hòn ngọc rất gần với thực tế. Còn nói dữ dội cũng đúng. Hòn đảo này dữ dội cả về tự nhiên và lịch sử. Bên bờ biển nắng chớm hè đã chói chang, mà nhìn lên núi cao, tuyết còn phủ trắng đỉnh hiểm trở. Anh bạn tôi tên là Paulo, chồng chị Alia, điều khiển chiếc xe hai cầu rất điệu nghệ. Tuy vậy, nhìn anh hết quẹo trái lại ngoặt phải rất gấp trên con đường men theo bờ biển, thú thật trong lòng tôi cũng hơi lo. Có lẽ hiểu thấu tâm trạng tôi, anh nói: “Anh có biết con đường này tên là gì không? “Con đường với nghìn khúc gấp”. Cái tên ấy có từ ngày xửa ngày xưa. Hồi tôi còn bé xíu đã nghe các cụ gọi như vậy. Ngày nay ngành du lịch phát triển, nó được hiện đại hóa rồi, chứ như ngày trước thì còn ghê nữa”.


Về lịch sử, hòn đảo này luôn đầy biến động. Một nhà văn người Corse viết: “Từ thời đế chế La Mã đến nay, đảo này đã trải qua mười chín lần thay đổi chế độ đô hộ, ba mươi bảy cuộc tổng nổi dậy và bảy thời kỳ vô chính phủ. Đó là lịch sử bi thảm nhất trong vùng Địa Trung Hải”. Đảo Corse trở thành lãnh thổ của Pháp đã hơn hai trăm năm, nhưng hầu như vẫn thường xuyên là một điểm nóng của chính trường nước này. Các phe phái kình nhau. Những phần tử cực đoan thỉnh thoảng gây nên những vụ giết chóc đẫm máu. Mới năm ngoái hay năm kia thôi, cảnh sát trưởng còn bị sát hại. Chính phủ xã hội của Thủ tướng Jospin mùa hè này đã phải trình lên Quốc hội Pháp một dự luật tìm giải pháp thỏa đáng nhằm làm dịu bớt các xu thế đối nghịch nhau ở đây.


Theo con đường nhỏ chúng tôi đi sâu vào rừng hơn ít nữa, chợt nghe tiếng lục lạc. Đó là tiếng lục lạc phát ra từ cổ một đàn dê đang ăn lá cây men theo một sườn đồi chênh chếch. Ông già chăn dê đội chiếc mũ dạ rộng vành, bên ngoài sơ mi còn khoác chiếc áo gi lê không cài cúc thêu hoa văn lạ mắt. Tôi đến gần hỏi chuyện. Ông giương mắt nhìn rồi lắc đầu. Chị Alia giải thích: “Ông ấy không nói tiếng Pháp”.


Anh Paulo nói gì đó với ông ta bằng tiếng bản địa. Ông đưa tay trỏ một ngôi nhà chênh vênh bên sườn núi, giữa vườn cây ăn quả. Tường rào xếp bằng những hòn đá cuội to, tròn và nhẵn thín. Anh Paulo nói: “Ta vào đấy mua phôma dê đi. Loại phôma brocciu đặc sản, các gia đình tự làm, tuyệt không có bán ở các siêu thị”.


Vùng này dường như nhiều thỏ hoang lắm. Thỉnh thoảng lại thấy một vài đôi thỏ đùa giỡn, đuổi nhau chạy băng qua đường nhanh như tên bắn. Chị Alia nói:


- Loài vật này sinh sôi nhanh lắm, săn không xuể. Cho nên chính quyền đặt lệ: Ai bắt được một con thỏ, được thưởng mười frăng.


- Thế thì tối nay ta ăn món xivê thỏ. Chắc chắn là không đắt – tôi nói vui.


- Nhưng dân vùng này lại chẳng mấy ai dùng thịt thỏ. Có lẽ tại vì thời gian gần đây, có dịch bệnh lây lan trong loài vật này… - Chị Alia nói.


Đi sâu vào núi chừng trăm bước, gặp một trại nuôi ong. Mật ong ở đây sản xuất theo lối thủ công. Mỗi năm toàn đảo cung ứng cho thị trường chừng ba trăm tấn mật, “loại mật hoàn toàn tinh khiết”, vì ở đây chưa biết ô nhiễm là gì” – bà chủ trại khoe như vậy. Đi tiếp một đoạn nữa, gặp lò gốm của một nghệ nhân. Trên cái sân rộng trang trí toàn đồ gốm mỹ thuật, có nhiều giá gỗ cao thấp không đều; một bên xếp những chiếc bình mộc vừa được nặn xong, bên kia là những thành phẩm vừa ra lò. “Sản phẩm đơn chiếc. Giá cả thì phải chăng thôi, không đắt như ở Paris đâu. Xin mời quý bà quý ông hãy lựa chọn”, người nghệ nhân già với bộ râu mép gây ấn tượng và một chiếc tạp dề lấm láp đất sét, giang rộng đôi cánh tay niềm nở mời chào.


Con đường ngoằn ngoèo tưởng đi sâu vào núi, nhưng lại đưa chúng tôi trở lại con đường cái. Ven đường, sát vách núi có một cái máng con dẫn nước ngầm từ lòng núi chảy ra đổ vào lòng một cái giếng đá nguyên thủy. Một toán khách du lịch đang xúm xít, chờ đến lượt mình để chụm hai lòng bàn tay lại, hứng nước đưa lên miệng uống.


- Người nào khi uống nước từ con suối ngầm này chảy ra mà trong lòng đang có một điều nguyện ước thì điều ước ấy sẽ linh nghiệm. Anh có muốn thử không? – Chị Alia hỏi tôi – Nhưng anh nhớ cho, trong lòng chỉ được có mỗi một điều ước thôi đấy nhé. Một, chứ không hơn. Rồi anh sẽ hài lòng cho mà xem. Chính bà ngoại tôi đã dặn tôi như vậy khi lần đầu dắt tôi đến đây. Hồi được bà ngoại cho đi thăm giếng thiêng, tôi còn bé xíu. Tôi còn đòi bà ngoại cài lên bím tóc đủ hai con bươm bướm thắt bằng dải lụa. Rồi đến lượt mẹ tôi, mẹ tôi cũng nói với cháu gái câu ấy…


Tôi phân vân trong lòng nhưng không tiện hỏi. Cuộc sống thực là thế này đây, nó như lời chị bạn tôi vốn là người bản địa nói, hay chỉ là những cảnh những chuyện người ta dàn dựng, người ta thêu dệt nên nhằm thu hút khác du lịch? Có lẽ cả hai. Nhà sử học Pierre Antionetti, giáo sư danh dự Trường đại học Aix-Marseille, chẳng đã viết trong Lời kết luận cuốn Lịch sử Đảo Corse đồ sộ xuất bản cách đây chưa lâu của ông, rằng “Corse là một dải đất đầy trái ngược” đó sao?


*


*   *


Sau khi đi gần năm trăm cây số men theo bờ biển, chiếc xe con cắt ngang hòn đảo, vượt rặng núi cao để trở về thị trấn L’Ile Rousse, nơi hai vợ chồng Alia và Paulo có một ngôi nhà xinh xắn nhìn xuống biển, cạnh mấy cây mimôda cổ thụ nở đầy hoa vàng. Chúng tôi dùng bữa tối tại một cái quán nhỏ mang tên thân mẫu Napoléon: Laetezia. Vị hoàng đế nhỏ người và vĩ đại mà nước Pháp luôn tự hào ra đời tại thành phố Ajaccio, thủ phủ lâu đời của đảo Corse này. Hồi chiều, các bạn đã cho tôi ghé qua Ajaccio để chiêm ngưỡng tượng vị hoàng đế oai phong trên mình ngựa đặt chất ngất trên bệ đá hoa cương, mắt nhìn ra biển. Đặt cân đối bốn chung quanh là tượng toàn thân của bốn người anh em trai của ông, chẳng khác bốn vị đại thần “tứ trụ triều đình” đứng chầu hoàng đế.


Tôi tranh thủ rút sổ tay ghi vội một vài chi tiết, sợ để lâu rồi quên đi. Bốn người anh em trai của Napoléon, khác hẳn với ông, mang những cái tên Pháp rất quen thuộc, rất dễ nhớ: Louis, Alphonse, Lucien và… và… Trí nhớ lại phản bội tôi. Tôi quay hỏi ông chủ quán:


- Xin lỗi, chắc ông nhớ, ông giúp tôi: bốn người anh em của Napoléon tên là gì nhỉ? Lucien, Alphonse…


Người chủ quán mà bộ mặt lúc nào cũng cởi mở, cũng tươi cười với khách – đúng như mọi chủ nhà hàng mẫu mực – tự dưng cau mặt lại:


- Napoléon ư? Tôi chẳng quan tâm đến anh em nhà ông ta. Họ chẳng làm được gì cho cái xứ này cả…


Tôi ngơ ngác trông lên tấm biển hiệu trang trọng mang tên bà mẹ của hoàng đế, ngự ở gian chính của nhà hàng. Lại một điều nghịch lý nữa. Ông chủ quán nói tiếp:


- Đối với dân Corse chúng tôi, người duy nhất đáng kính trọng là Paoli, Pasquale Paoli. Chính ông ta là người sáng lập nên thành phố L’Ile Rousse này! Chính ông ta mới xứng đáng là U babu di Patria! Paoli, u babu di Patria.


Tôi nhìn chị Alia cầu cứu. Chị dịch ra tiếng Pháp trong nụ cười. Câu ấy có nghĩa là: Paoli, người cha của Tổ quốc.


À ra thế! Hòn đảo ngọc này quả chứa đựng bao nhiêu điều nghịch lý. Dân số đảo hiện nay khoảng hai trăm ba mươi ngàn người, thì riêng người gốc Bắc Phi chiếm hơn sáu mươi ngàn, còn không biết bao nhiêu người gốc Italia, gốc Tây Ban Nha, gốc Thổ Nhĩ Kỳ… Trong khi đó thì người Corse lại có mặt ở khắp nơi khác trên thế giới, đông nhất là bên Anh. Tại bang Pensylvania của Hoa Kỳ không những có một thành phố mang tên vị danh nhân Paoli mà còn có mấy thị trấn nữa mang tên Corsica hoặc Corsiana. Trong buổi tiếp tôi tại Tòa thị chính, ông phó thị trưởng thành phố Bastia, thủ phủ tỉnh Corse Thượng, giới thiệu mấy người bạn của ông trong Ái hữu những người Corse bạn của Việt Nam đến dự buổi tiếp tân. Ông cho biết ở thành phố Sài Gòn thời trước có khá nhiều người Corse làm ăn sinh sống, thủy thủ, công chức, nhà kinh doanh… Ông nói thêm trong một thoáng tự hào: “Ông tổng quản lý khách sạn Continental Sài Gòn cũng là một người đồng hương của tôi đấy”.


Chị Alia cho biết trên đảo này có một làng mang tên Việt Nam. Xã trưởng là người có mang một phần máu Việt Nam trong huyết quản, hình như gốc gác từ thành phố Hải Phòng – chị quả quyết vậy. Tôi không kịp đến thăm làng ấy. Ngược lại tôi đến được một làng của người gốc Hy Lạp, tên là Cargoese. Ở đấy có hai ngôi nhà thờ rất đẹp, đối diện nhau. Một bên là nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã, bên kia là thánh đường Hy Lạp. Thế kỷ 17, để tránh sự xâm lăng của đế chế Thổ, nhiều người Hy Lạp vượt biển đến đây lập nghiệp. Có những người đến nơi. Nhưng cũng có biết bao người khác bỏ mình trên biển. “Mùa gió chướng, mặt biển đang yên lành, đột nhiên gió mistral hun hút nổi lên, mạnh khủng khiếp, mạnh không kém gì bão. Gió mistral giật với sức mạnh hơn một trăm kilômét/giờ” – chị Alia giải thích. Thi hài nhiều người đắm tàu dạt vào bờ được chôn cất sau hai ngôi nhà thờ kia. Nghĩa trang của họ có tên là Nghĩa trang những người bỏ mình trên biển cả. Dĩ nhiên đây mới là một phần nhỏ thôi những người bất hạnh. Cho nên từ xưa, và cho đến tận bây giờ vẫn còn lệ, vào một ngày nào đó trong năm, cha xứ cùng với dân làng mang hoa ra khơi làm lễ và nguyện cầu cho những người xấu số vô danh, rồi thả hoa xuống biển.


Ông chủ quán chắc nhận ra mình cáu bẳn vô lý, khiếm nhã với khách, lát sau lân la đến chuyện trò với vợ chồng chị Alia. Dạo này chưa hẳn vào mùa du lịch, khách ăn còn thưa thớt. Tôi nghĩ thầm: Chắc là người Corse có tình cảm “đồng hương” mặn mà với nhau lắm. Xem như hai vợ chồng bạn của tôi đây, họ là những nhà trí thức làm việc tận Paris. Thế mà hai ngày qua cùng họ về đây, tôi nhận thấy hầu như anh chị gặp ai ngoài phố cũng quen biết, cũng ôm hôn, cũng chuyện trò thắm thiết. Ông chủ quán này dĩ nhiên là người quen lâu năm của họ.


- Lịch sử cũng trớ trêu lắm, thưa ông - Người chủ quán nói với tôi bằng tiếng Pháp. - Giá như anh chàng nhỏ bé ấy chào đời muộn hơn mấy tháng, hoặc là ngược lại, đảo Corse trở thành lãnh thổ Pháp muộn đi mấy tháng, thì chưa chắc nước Pháp đã có Hoàng đế Napoléon. Vâng, đúng như vậy, thưa ông. Xin ông hãy tin lời tôi. Hòn đảo này trở thành đất Pháp từ tháng sáu năm 1769. Đến 15 tháng tám năm ấy, Napoléon mới chào đời, cho nên mới mặc nhiên trở thành dân Pháp. Nói giả dụ, nếu như ông ta ra đời trước hai tháng, rất có thể ông ta đã là người Italia hoặc là người… - Ông chủ quán nhún vai bỏ lửng câu nói.


Lão này chắc thuộc cánh mà báo chí Pháp gọi là “dân tộc chủ nghĩa” đây, tức là những người đòi cho đảo này được “tự trị” nhiều hơn, thậm chí “độc lập” nữa, tôi nghĩ bụng. Đương nhiên mình là khách vãng lai, ai dại gì xen vào nội tình nước khác. Thành ra tôi cứ ậm ừ, để cho ông chủ quán tha hồ muốn nói gì thì nói.


Đúng là lịch sử – và thời sự hiện nay nữa – của hòn đảo này nhiều xáo động, đầy trắc trở, giống hệt như địa hình của nó vậy. Trước khi trở thành đất Pháp, đảo Corse suốt một trăm sáu mươi năm chịu sự cai trị của người Italia, hay đúng hơn là của chính quyền Gênes, tên một thành phố vùng tây bắc nước này. Dưới sự lãnh đạo của nhà yêu nước Antonio-Philippo-Pasquale Paoli (sinh năm 1725), nhân dân đảo nhiều lần nổi dậy chống ách cai trị của người nước ngoài. Paoli là một người có học, có tầm nhìn xa, được kính trọng. Ông có tham vọng xây dựng ở đảo một nhà nước độc lập. Đã ban hành hiến pháp, xác định quốc kỳ, cho lưu thông tiền tệ riêng… Nhưng thời gian quá ngắn ngủi. Thế kỷ XVIII lại là thời kỳ chủ nghĩa thực dân châu Âu bành trướng mạnh. Hòn đảo xinh đẹp không thể không trở thành nơi tranh chấp quyền lợi của nhiều thế lực khi thì đối chọi nhau khi thì liên kết với nhau: Pháp, Anh, Italia, Áo… Mỗi cường quốc tìm cách nắm lấy một thủ lĩnh, một phe phái trên đảo. Biến động triền miên. Biết bao máu và nước mắt đã tuôn xuống đất này. Nhà tư tưởng lớn thế kỷ Ánh sáng của Pháp, Jean-Jacques Rousseau, cực lực lên án cuộc hành quân của người Pháp để độc chiếm đảo Corse. Ông cho đấy là “một cuộc viễn chinh bất công và lố bịch, đi ngược lại mọi lẽ công bằng, mọi sự nhân đạo, mọi chính sách, mọi lý trí… một cuộc chinh phục vô ích và tốn kém”.


Dù sao thì bánh xe định mệnh đã lăn.


Người dân đảo Corse xưa cũng như nay hết sức tự hào về truyền thống ngang tàng, bất khuất của mình. Không ở đâu như đây, có bài hát ru con thế này: Con trai ngoan hãy ngủ đi con – Khi nào con của mẹ lớn lên – Con sẽ tự mang vũ khí vào mình – Lính tráng, mã tà, con chẳng sợ đứa nào sất – Chúng mà dám làm cho con mẹ điên tiết lên – Thì con mẹ vào maquis con làm ông tướng cướp.


Trong chiến tranh thế giới thứ hai, hai mươi ngàn quân phát xít Đức, Ý đổ bộ lên đảo. “Cứ hai người dân thì có một tên lính chiếm đóng” – một nhà làm sử viết. Thế mà dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc do những người cộng sản đứng đầu là Arthur Giovini làm nòng cốt, nhân dân đảo đã chiến đấu quả cảm. Tranh thủ thời cơ phát xít Đức, Ý đại bại ở mặt trận phía Nam, dân Corse vùng lên tự giải phóng ngày 4 tháng 10 năm 1943 – sớm hơn hai mươi tháng so với thủ đô Paris.


Những điều trên đây không phải ông chủ tiệm ăn Laetezia, mà chính chị Alia đã nói cho tôi nghe, trong thời gian chờ đáp chiếc máy bay của hãng Air-Inter từ Bastia trở lại Paris. Chị nói:


- Vợ chồng chúng tôi làm ăn ở Paris. Nhưng tôi vẫn giữ lại ngôi nhà ở quê mà anh đã thấy đấy. Ngoài ngôi nhà, nơi đó tôi còn có một ít đất, một ít rừng. Nhỡ công việc làm ăn có gặp khó khăn, chúng tôi sẽ lui về quê. Tôi yêu mến, tôi tự hào về hòn đảo của chúng tôi.


Dĩ nhiên không phải tất cả người dân đảo Corse đều giống như ông chủ nhà hàng cực đoan. Rất nhiều người quý trọng Napoléon, rất nhiều người tự hào vì hòn đảo nhỏ bé của họ sản sinh ra một vị anh hùng từng làm khuynh đảo cả châu Âu, một nhà chiến lược vô song, một chính khách đặt nền móng cho thể chế chính trị nước Pháp cận đại. Dưới thời Napoléon nước Pháp có bộ luật dân sự đầu tiên. Thượng viện Pháp, Tòa kiểm toán Pháp cùng nhiều thiết chế chính trị quan trọng khác nữa của nước Pháp ngày nay đều do Napoléon lập nên. Mặt khác cũng có một sự thật là, say đắm trong vinh quang tột bậc, mải mê theo đuổi đại sự quốc gia, vị hoàng đế ít nghĩ đến đảo quê nghèo khó của mình. Đúng là ông chưa từng làm được gì cho quê hương. “Mãi cho đến những ngày bị lưu đày ra đảo Saint Hélène, Napoléon mới có thời giờ suy ngẫm đến hòn đảo nhỏ nơi mình cất tiếng chào đời” – nhà viết sử gốc Corse Pierre Antionetti chua chát ghi nhận.


Dù thế nào thì ở Corse hiện nay vẫn có nhiều thắng cảnh, nhiều công trình mang tên đứa con quang vinh của đảo. Tượng đài của ông không chỉ có ở thủ phủ Ajaccio. Người ta lưu giữ nhiều kỷ vật của ông. Chắc cũng chỉ là một sự ngẫu nhiên thôi, ngôi nhà tôi lưu lại mấy ngày ở đảo cũng mang tên Khách sạn Napoléon Bonaparte. Một tòa nhà đồ sộ, uy nghi làm tôi thật sự ngỡ ngàng khi mới bước vào. Nó tuyệt nhiên không có dáng dấp khách sạn mà giống hệt như cái phủ toàn quyền ở nước ta, xây dựng trên một quả đồi, mặt trước nhìn ra vườn hoa, mặt sau tựa vào một vườn cây cổ thụ. Các phòng ở, các sảnh, các hành lang, các công trình phụ, cái gì cũng rộng và to quá khổ. Nhưng khi cô tiếp tân tươi cười nói: “Ông gặp may. Nếu ông đến chậm hơn hai tuần, khi đã thật sự vào mùa du lịch thì chúng tôi không biết xoay xở thế nào, vì tất cả các phòng đều đã được đặt trước từ nay đến hết năm”, thì tôi chợt hiểu ra ngay.


Người ta đã biết tận dụng mọi cơ sở, mọi tiện nghi có thể tận dụng để phục vụ du lịch, ngành công nghiệp sạch sẽ và lắm lợi ích. Từ những thập niên bảy, tám mươi của thế kỷ trước, Corse đã trở thành một điểm hẹn nổi tiếng của những người du lịch. Hòn đảo cạnh tranh quyết liệt với những đối thủ hàng xóm mạnh hơn mình về nhiều phương diện là Italia và Tây Ban Nha. Lượng khách du lịch hằng năm đến hòn đảo rộng chưa tới chín ngàn cây số vuông này để viếng cảnh, để nghỉ ngơi thường đông gấp sáu, bảy lần dân số toàn đảo, nhờ vậy mang lại cho nền kinh tế Pháp một khoản thu nhập khổng lồ. Ngôi nhà này hẳn là một dinh thự được cải tạo thành khách sạn đây.


Suy đoán của tôi được xác nhận ngay sáng hôm sau, khi tôi lang thang tản bộ quanh khách sạn. Xế con đường dốc dẫn từ đường cái lên, tôi nhận ra một tấm biển đá khắc mấy dòng chữ mạ vàng lời văn cầu kỳ tạm dịch như sau: “Đằng sau những bức tường của tòa lâu đài này, từ 25-10 đến 5-2-1954, đã từng nương náu Quốc vương Mohamed V cùng gia đình trong thời gian Người buộc phải lưu đày bất công. Trong số người tháp tùng Nhà vua lưu đày, có hoàng tử Moulay Hassan, người đã lên nối ngôi Phụ vương dưới tôn hiệu Quốc vương Hassan II kể từ ngày 3 tháng 3 năm 1961, sau khi Quốc vương Mohamed V từ trần.


Nhân dân L’Ile Rousse trân trọng bảo tồn những kỷ niệm mà hoàng gia để lại trong thành phố mình”.


Lịch sử cũng ngoắt ngoéo lắm. Hồi ấy nước Pháp không ủng hộ cuộc chính biến ở Marốc lật đổ vua Mohamed nhưng cũng không muốn gây thù kết oán với những người đang nắm quyền hành. Người Pháp đồng ý cho nhà vua cư trú chính trị, song không muốn cho vua được sống ở thủ đô Paris. Người ta đã dành một tòa lâu đài đồ sộ tại một thị trấn xa xôi trên đảo, cách xa thành phố cảng Calvi tấp nập những hai mươi cây số, cho gia đình vua cư ngụ. Lý do: nhà vua ở đây sẽ được gần với đất nước mình hơn. Điều quan trọng về phần chủ nhà, là có thể cầm chắc ở mỗi tay một con cá.


Con cá lớn nhất là quốc vương. Đúng vào những ngày tôi thăm Corse, tình cờ buổi tối mở tivi, thấy trên màn ảnh truyền hình lộng lẫy cảnh Điện Elysées, vị nguyên thủ quốc gia Pháp đang tiếp đón trọng thể Quốc vương Marốc nhân chuyến thăm chính thức nước Pháp của quốc vương. Quan hệ giữa hai nước trên đôi bờ Địa Trung Hải ngày nay có thể coi là chí cốt.


Dù muốn hay không, nhà vua Marốc đã góp phần mình vào việc mở rộng du lịch của đảo Corse. Nhiều người lắm tiền từ các nơi đổ về đây viếng cảnh, nghỉ ngơi, và cũng là để có dịp được ngủ qua đêm ở nơi từng có bóng dáng một nhà vua bị lưu đày. Nghe như có chất sử thi, cũng đáng đồng tiền bỏ ra lắm chứ. Mà đâu phải chỉ có một chuyện ấy. Người ta còn biết bày ra lắm trò cho khách giải trí. Cô tiếp tân ở khách sạn lúc nào cũng niềm nở: “Tháng sau, mời quý vị trở lại đây. Đấy là dịp Liên hoan quốc tế nhạc Jazz. Quý vị không thích nhạc Jazz lắm sao? Rất tiếc. Chắc quý vị chuộng sự yên tĩnh. Vậy thì tháng tám, mời các vị đến thành phố Saint Florent xem thợ lặn hái san hô. Cả đảo này hiện nay chỉ còn có bảy người đủ sức lặn bộ* xuống đáy biển sâu mấy chục mét để lấy san hôi thôi đấy nhé. Tháng mười quý vị dự Liên hoan Gió. Liên hoan Gió là gì ư? Là hội thi quốc tế thả diều. Quý vị xem, có nơi nào lộng gió như đảo Corse của chúng tôi?” vv. và vv.


*


*   *


Chị Alia và tôi ngồi ở quán giải khát ven bờ biển uống cốc bia, chờ đáp máy bay trở về Paris. Anh Paulo sẽ ở lại đi sau bằng tàu biển, vì anh phải mang theo chiếc xe hơi về. Từ đây đi đường thủy về thành phố Nice chỉ vào khoảng một trăm tám mươi hải lý. “Muốn hiểu cuộc sống thực trên đảo, phải đi bằng xe riêng của mình. Đi theo tua thì chỉ phơn phớt bên ngoài thôi, anh ạ. – Chị Alia nói – Lịch sử đảo này dày dặn lắm. Con người thì mạnh mẽ về tính cách. Jean Jacques Rousseau từng tiên đoán: “Rồi thế giới sẽ kinh ngạc vì nhân dân đảo này”. Nhưng dân đảo chúng tôi xưa kia nghèo lắm. Cho nên mới có chuyện phiêu bạt đi khắp nơi. Có vùng, lương thực chính là hạt dẻ trên rừng. Đến mùa dẻ thì đi nhặt về để dành. Có một thành phố lớn mang tên cây dẻ: La Castagniccia. Tiếng Corse, castagniccia chataignier trong tiếng Pháp ấy mà. Tuy nhiên, nói gì thì nói, đảo Corse mà tách khỏi nước Pháp là tự sát, trước hết là sụp đổ về kinh tế.


“Một nhà văn đã viết thế này: Đảo Corse như quả dẻ. Câu chuyện bắt đầu khi ta cúi xuống nhặt quả dẻ lên. Thoạt tiên, gai nó chích vào tay ta. Nó không chấp nhận. Hãy kiên nhẫn tách cái bọc gai, sẽ thấy lộ ra hạt dẻ nhẵn, bóng và rắn. Nhưng chưa thể ăn ngay đâu nhé. Phải chờ cho hạt khô đi. Rồi bóc cái vỏ lụa, mang đun lên – đun vừa chín tới cho dễ tiêu, nhưng cũng đừng chín quá để cho hạt giữ được độ mềm. Lúc này mới được ăn. Muốn hiểu sâu con người đảo Corse, phải vậy. Muốn thành công ở đây càng phải vậy. Phải biết kiên nhẫn. Và phải có đủ thời gian”.


2001


Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info







* Không mang theo bình thở?



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »