tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004438
04.06.2012
Phan Quang
Để lại trần gian một cụm từ

Montauban là một thành phố nhỏ và yên tĩnh nằm trên bờ con sông Tarn ở miền Nam nước Pháp. Tôi không rõ thành phố có được xếp hạng di sản quốc gia hay không, nhưng đi đến đâu cũng gặp những di tích cổ và phố phường thì đầy ắp dấu vết lịch sử.


Thành phố Montauban được lập nên từ thế kỷ thứ XII. Chỉ vì cái tội nhân dân thành phố rời bỏ Giáo hội La Mã để quy theo đạo Tin Lành tuy cũng phụng thờ Thiên Chúa song phủ nhận quyền uy tuyệt đối của Giáo hoàng, Montauban phải chịu không biết bao tai ương. Năm 1598, vua Henri IV ban bố “Chỉ dụ Nantes” đặt nền móng cho hòa hợp tôn giáo, chấm dứt xung đột. Dù vậy, thành phố vẫn tiếp tục chịu cái vạ mà lịch sử nước Pháp gọi là Dragonnades(*). Những tên lính dragon hung dữ được bố trí vào ở từng nhà của những người theo đạo Tin Lành. Chúng hành xử như những bạo chúa, làm tình làm tội người dân kỳ cho đến khi người đó chịu quay trở lại với Giáo hội. Bằng cách ấy trong vòng mấy tháng, “những nhà truyền giáo đi giày đinh” – thuật ngữ lịch sử Pháp – đã đưa 38.000 “con chiên lạc lối” trở về với Chúa. Kinh nghiệm của Montauban được tổng tư lệnh quân đội thời bấy giờ là Louvois cho mở rộng ra toàn nước Pháp. Để yên tâm hơn, giáo chủ Richelieu ra lệnh triệt hạ luôn tất cả thành lũy bao quanh thành phố. Họa vô đơn chí, có thời gian Montauban còn bị nạn dịch hạch gieo chết chóc và kinh hoàng.


Cho dù lịch sử có đa đoan, Montauban ngày nay vẫn tự hào với di sản văn hóa của mình. Nhà thờ Saint-Jacques xây từ thế kỷ XIV-XV được coi như vật báu cổ. Nhà thờ lớn (thế kỷ XVII-XVIII) là một công trình kiến trúc oai phong. Quảng trường với những ngôi nhà mặt tiền có những cánh cổng hình vòm được bảo tồn ba trăm năm nay… Ngỡ ngàng cho tôi hơn cả là cây cầu cổ vắt ngang qua sông Tarn. Nhiều thế kỷ qua, không biết bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, không biết bao nhiêu khói bụi và rêu phong đã phủ xuống mặt cầu tạo nên dấu ấn cổ kính, thế mà cho đến hôm nay những viên gạch xây cầu vẫn đỏ một màu đỏ sâu lắng. Những viên gạch nhỏ xây chồng sin sít lên nhau, kiên nhẫn gắn quyện vào nhau, “thi gan cùng tuế nguyệt”, tạo nên những vòng cung vững chãi vắt ngang sông, ngang phố cho tàu bè lại qua bên dưới và xe cộ lưu thông bên trên. Người ta gọi nó bằng cái tên rất chuẩn xác: “Cầu Cổ”.


Bảo tàng tưởng niệm họa sĩ Ingres, người con ưu tú của Montauban tọa lạc bên chân cây cầu ấy. Nói nép “dưới chân cầu” có lẽ chính xác hơn, vì từ hè phố, còn phải xuống nhiều bậc cấp mới tới cổng để bước vào ngôi nhà. Cũng là nét đặc trưng của mọi thành phố cổ: đường sá mỗi đời mỗi được tôn cao, làm cho các công trình kiến trúc hai bên mỗi ngày mỗi chìm xuống.


Ingres là ai? Tôi cứ tưởng, trừ giới nghệ thuật tạo hình, người Việt Nam ta mấy ai quan tâm đến cái tên lạ lẫm, cho dù ông nổi tiếng. Thế nhưng lịch sử hội họa Pháp lại tôn vinh Jean Auguste Dominique Ingres (1780-1867) là “một người phát kiến nhiều phương thức tạo hình, ông tìm tòi sự hài hòa trong hình họa cũng như sử dụng màu sắc tươi mát”, “Ảnh hưởng của Ingres đối với thời đại ông mang tính quyết định”, vv. Ông được coi là một nghệ sĩ tài năng, để lại nhiều tác phẩm hội họa đẹp trau chuốt thuộc dòng tân cổ điển. Ingres là đại biểu xuất sắc cuối cùng của trường phái nghệ thuật gắn bó với Nhà thờ Thiên Chúa giáo trước làn sóng đang lên của chủ nghĩa lãng mạn Pháp thế kỷ XIX.


Tồi đồ chừng Bảo tàng Ingres vốn là một biệt thự cùng tuổi với cây cầu, được cải tạo thành. Tường nhà xây bằng gạch đỏ, vẫn một màu đỏ sâu lắng như màu gạch xây cây cầu cổ trên kia. Ngôi nhà cùng với khuôn viên không phải hẹp song người xem vẫn có cảm giác chật chội, có lẽ tại có quá nhiều vật phẩm trưng bày. Tôi chỉ nhìn thấy mỗi một nơi thật sự khoáng đãng. Ấy là gian phòng lớn nhất, gọi là Salon, có bày một bức chân dung to của họa sĩ, và ở nơi trang trọng đặt một chiếc vĩ cầm trên bàn. Người hướng dẫn khẽ nói: “Cây vĩ cầm của Ingres đó, ông biết chứ? Đấy là bản gốc”.


“Cây vĩ cầm của Ingres”. À ra thế. Tôi nhớ thời nhỏ bắt đầu học tiếng Pháp, đã biết cụm từ phổ thông le violon d’Ingres, dùng để chỉ một nghề tay trái điêu luyện. Hóa ra cây vĩ cầm của ông họa sĩ này đây. Người nghệ sĩ đã chuyển cây đàn từ tay phải sang tay trái. Ông thành công rực rỡ trong hội họa, song vẫn giữ cây đàn thân yêu bên cạnh suốt đời.


Cậu bé Jean Auguste vốn đa tài. Hình như gia đình từng có mong muốn cậu tiến thân bằng con đường âm nhạc. Hội họa là đam mê sớm bộc lộ, do được cha là một họa sĩ trang trí truyền cho con trai lòng yêu đường nét và màu sắc từ khi cậu còn rất bé. Chàng trai được gửi lên Toulouse theo học tại Viện Hàn lâm. Năm 1797 đến Paris, trở thành học trò của họa sĩ tài danh David. Chỉ bốn năm sau, mới hai mươi mốt tuổi, Ingres đoạt Giải Roma là giải thưởng uy danh nhất của ngành hội họa thời bấy giờ. Ông được mời sang Roma tu nghiệp và hành nghề. Hai mươi năm sau trở lại Paris, ông được bầu vào Viện Hàn lâm quốc gia(*).


Thành công về nghệ thuật tạo hình, học trò đông đảo, danh vọng lớn, Ingres vẫn không rời chiếc vĩ cầm từng mang lại cho ông những phút thư giãn và niềm sảng khoái nội tâm. Nhà soạn nhạc thiên tài và cũng là một tay diễn tấu dương cầm bậc nhất người Hunggari Franz Liszt, một lần nghe Ingres chơi vĩ cầm tại Roma, đã thốt lên: “Diễn xuất với tình cảm chân thực xiết bao!”.


Giã từ thành phố quê hương lên đường lập nghiệp, ba mươi lăm năm sau Ingres mới có dịp quay trở về Montauban để nhìn lại cây Cầu Cổ thời ấu thơ. Lúc này ông đã thành đạt lớn. Tác phẩm Lời nguyện của vua Louis XIII, Giải thưởng Roma, được thành phố Montauban mua về bày trong Nhà thờ lớn. Đứa con của quê hương trở về quê tham dự buổi lễ trọng và các hội mừng diễn ra nhân dịp ấy.


Tuy Bảo tàng Ingres tại Montauban chỉ sở hữu chừng ba mươi tác phẩm lớn của họa sĩ, nhưng lại chứa cả một kho báu về ký họa, đồ họa. Sau chuyến về thăm quê, họa sĩ có tặng cho thành phố một số bản sao tác phẩm của chính mình, tranh của học trò ông và một ít lọ cổ để làm nhà lưu niệm. Năm 1867, họa sĩ qua đời. Điều ít ai ngờ, theo di chúc, ông hiến tặng quê hương tất cả những gì thuộc xưởng họa Ingres danh tiếng của ông ở Paris, tại đó lưu giữ hơn bốn nghìn bức ký họa và đồ họa. Một kho báu thật sự – bởi ngay Bảo tàng quốc gia Le Louvre của nước Pháp cũng chỉ sưu tập chừng một trăm bức vẽ của Ingres, dĩ nhiên có chọn lọc. Rải rác trong các bảo tàng khác và các bộ sưu tập tư nhân, chừng một nghìn bức nữa. Với bốn nghìn bức vẽ, nhà lưu niệm Ingres đột nhiên phình to lên, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ngày nay, hàng năm có tới bốn vạn khách du lịch từ khắp nơi đến thăm bảo tàng.


Nhà danh họa lớn nhất của thế kỷ XX Pablo Picasso sinh thời rất ngưỡng mộ tài năng của Ingres. Bà Florence Viguier, Giám đốc Bảo tàng Ingres quả quyết: “Một điều rất chắc chắn là Picasso đã đến thăm Bảo tàng Ingres hai lần, vào năm 1904 và 1913. Lần đầu, trên đường ông từ Catalogne (Tây Ban Nha) sang Paris. Không phải tạt vào do tiện đường. Ông đã phải dừng lại ở Toulouse, và đổi tàu, mà đường sá đi lại hồi ấy đâu có thuận tiện”.


Để gợi lại mối quan hệ vượt qua thời gian của hai họa sĩ tài danh, mùa hè năm nay (2004), Bảo tàng Ingres tổ chức cuộc triển lãm Ingres-Picasso. Nhiều tác phẩm của Picasso cũng như của Ingres mượn từ các bảo tàng lớn ở nơi khác mang về trưng bày. Trong số ấy có những bức rất nổi tiếng như Phòng tắm Thổ Nhĩ Kỳ của Ingres (1863) và Các cô gái tắm ở Biarritz của Picasso (1918) rút từ bộ sưu tập của Bảo tàng Le Louvre. Cuộc triển lãm này là phần nối tiếp một sáng kiến do Bảo tàng Picasso ở Paris đề xuất và thực hiện mùa xuân năm ngoái: “đối thoại nghệ thuật” giữa hai nhà danh họa sống cách nhau một trăm mấy chục năm, Picasso và Ingres.


“Cây vĩ cầm của Ingres!” Một đời cầm cọ lỗi lạc để lại hậu thế nhiều kiệt tác hội họa, là chuyện bình thường. Nhưng lưu lại cho trần gian một cụm từ thông dụng, làm giàu thêm tiếng mẹ đẻ như trường hợp của Ingres, quả là vinh hạnh hiếm thấy.


2004


Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info







(*) Tương tự Croisades, các cuộc Thập tự chinh dữ dội ở châu Âu thời trung cổ.




(*) Institut de France, thành lập năm 1795, bao gồm năm viện, trong đó có Viện Hàn lâm Văn học.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »