tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19350881
30.05.2012
Phan Quang
Hành hương về chốn tuổi thơ

Ngọn núi ấy hiện hữu trong tôi không rõ tự bao giờ.


Có lẽ từ ngày tôi bắt đầu học bập bẹ vài ba từ tiếng Pháp. Lần ấy một người anh họ dạy học trong Huế về thăm quê, ghé nhà cho em một cuốn sách tập đọc. Cuốn sách mỏng khổ rộng bìa cứng với những tranh minh họa nhiều màu hấp dẫn làm sao. Chưa đọc thông loại chữ này, nhưng lật đi lật lại và ngắm nhìn các tranh vẽ, tôi cũng hiểu. Bìa cuốn sách ấy vẽ một ngọn núi sừng sững giữa biển thắm có những con sóng trắng đùa giỡn dưới chân. Một ngọn núi cao được bao bọc bởi tường thành xây bằng đá hộc. Tường cao lắm song vẫn không che khuất ngọn các cây nhô lên từ phía trong thành. Lưng chừng núi có những pháo đài đen kịt. Trong những pháo đài ấy tôi đoán chắc đang xếp hàng cơ man chàng kỵ sĩ đầu đội mũ đồng, mình mặc áo giáp cũng bằng đồng, tay cầm ngọn giáo đồng nhọn dài và dĩ nhiên rất sắc, cỡi trên lưng những con tuấn mã đang chực lồng lên phi xuống núi đưa các kỵ sĩ đón đánh quân thù. Và điều kỳ diệu nhất, bí ẩn nhất là chất ngất trên chóp núi không biết ai làm sao xây nên được một nhà thờ cao ngất nghểu đến vậy. Cái tháp chuông chĩa thẳng lên trời trông như một mũi giáo. Ở cái chóp nhọn trên cùng của mũi giáo ấy mang một ngôi sao vàng tỏa ánh hào quang.


Ấy là ánh hào quang không bao giờ tắt của Thánh Michel, vị đứng đầu các thiên thần, người đã có công quật ngã con Rồng dữ - anh tôi bảo vậy. Và anh còn lật trỏ cho tôi xem ở trang trong bức tranh vẽ Thánh Michel đưa ngọn giáo đâm suốt qua thân con rồng xấu xí.


Ngọn núi ấy đeo đẳng tôi tới mức đến tuổi đi học, khi bắt đầu đọc lõm bõm các loại Sách hồng viết bằng tiếng Pháp cho trẻ con, dù không thể xa rời cuốn từ điển, tôi đã cố lùng sục tìm cho được sách viết về ông thánh Michel và ngọn núi Michel. Tôi khám phá thêm bao nhiêu điều vừa thực vừa ảo, pha trộn huyền thoại vào chính sử.


Ngọn núi này không phải mọc lên giữa biển từ hồi khai thiên lập địa. Nó vốn ở giữa một vùng rừng rậm ven bờ biển. Có thế người ta mới đắp được thành lũy để bảo vệ vùng Bretagne này chống lại các cuộc xâm lăng chứ. Có thế mới xây được nhà thờ cao chất ngất và rước ông Thánh Michel, vị thiên thần đứng đầu các thiên thần của Thượng đế về làm vị thần phù hộ cho cả vùng đất quê hương chứ.


Và chắc hẳn Thượng đế nhân từ muốn phù hộ người Bretons gìn giữ quê hương cho nên Người ban phép lạ. Sau một đêm hãi hùng mưa to gió lớn, một đêm sóng thần nổi lên dữ dội tưởng chừng sắp nuốt chửng cả trần gian; sáng sớm ra mọi người trên đảo kinh hoàng nhận thấy rừng rậm mênh mông bao quanh hòn núi đã ngập chìm dưới biển. Núi tách khỏi đất liền. Chung quanh ngọn núi đã trở thành hòn đảo, giờ đây là nước thẳm mênh mang. Mọi người trên núi đều an toàn vì đã được Thánh Michel phù trợ. Từ nay họ còn có thêm thế mạnh. Từ nay, bất kỳ quân thù từ hướng nào tới cũng không thể áp sát chân núi. Nhờ vậy, trong hơn một trăm năm chiến tranh giữa Anh và Pháp, vùng Tây Bắc nước Pháp bị người Anh xâm chiếm nhiều lần, song chưa một lần ngọn núi được Thánh Michel đỡ đầu rơi vào tay phe đối địch.


Chưa hết đâu. Còn có một ông vua nước Pháp một lần chiến thắng từ vùng này đưa xa giá trở về Paris. Ngọn quân kỳ của vua trong chuyến khải hoàn ấy là một tấm vải điều thêu hình Thánh Michel quật ngã con Rồng dữ.


Vài chục năm sau, hoàng tử lên kế vị vua cha, tưởng nhớ công ơn đấng thánh đỡ đầu, đã lập ra một Dòng hiệp sĩ mang tên Thánh Michel. Dòng này chỉ gồm ba mươi sáu hiệp sĩ. Vị số một đương nhiên là Thánh Michel. Nhà vua là hiệp sĩ đứng đầu ba mươi tư vị còn lại của dòng này trên trần thế. Được mang Huân chương Dòng hiệp sĩ ấy là vinh quang tột đỉnh của vương hầu bá tước thời bấy giờ.


Ngọn núi mang tên Thánh Michel đã đeo đẳng tôi suốt cả thời thơ ấu cho đến khi trở thành một anh mặc áo lính, làm “phóng viên mặt trận”. Dù chưa có đánh chác gì, tôi cũng đã mấy lần lướt qua cái chết, nhiều lần thấy bom đạn nổ sát bên mình, nhiều lần vốc nắm đất rải xuống huyệt người đồng đội. Những mộng mơ của tôi thời thanh niên, qua các giấc ngủ miên man vì sốt rét hay chập chờn thèm ăn, không còn trăng sao nữa, mà thường là cảnh hãi hùng bị máy bay địch săn đuổi hoặc cảnh chạy tránh giặc càn. Trừ một lần. Sau nhiều ngày ngồi bó gối trên chiến khu nhìn mưa rừng đằng đẵng, da diết nhớ gia đình dưới xuôi và mường tượng trở lại những ngày ấu thơ, đêm hôm ấy tự dưng tôi lại thấy hiện về trong giấc mơ ngọn núi Thánh Michel. Chỉ một lần ấy thôi. Suốt chín năm dài chiến tranh chống Pháp, mỗi một lần ấy thôi.


Sau này, tôi được đi đó đi đây nhiều. Mắt được nhìn thấy nhiều cảnh hay vật lạ. Nước Pháp không còn lạ lẫm đối với tôi. Không chỉ nước Pháp của thủ đô Paris, nước Pháp ở các thành phố lớn mà là nước Pháp trong chiều sâu - La France profonde - như các bạn Pháp thích dùng. Có thể hiểu là vùng nông thôn có chiều sâu truyền thống. Tuy nhiên, mắt tôi chưa một lần nhìn thấy ngọn núi Thánh Michel.


Vào mùa thu của cuộc đời, tôi tự bảo có lẽ phải đến thăm cái núi ấy thôi trước khi quá muộn. Và chuyến đi ấy tôi phải được hoàn toàn thoải mái, nghĩa là không có ai săn đón để bắt tôi theo những chương trình đã định, dự những cuộc tiếp tân mệt bã người, nói những câu uốn lưỡi ba lần. Tôi sẽ đi làm một cuộc hành hương trở về tuổi thơ, cùng những người thân thiết.


*


*   *


Hai vợ chồng Paul-Marthe cùng cậu con trai lớn và hai chúng tôi. Năm người trên một chiếc xe không lấy làm lớn, dĩ nhiên không thoải mái bằng ngồi một mình trong khoang sau của chiếc xe công vụ mà những người phụ trách lễ tân của bạn lúc nào cũng ưu ái dành cho khách nước ngoài. Bù lại mọi người đều hớn hở, đều hài lòng.


Đã có quá nhiều kinh nghiệm về những chuyến đi xa dịp Lễ Phục sinh, Paul có sáng kiến chúng tôi sẽ đi sớm lên một ngày, và về cũng sớm hơn một ngày. Như vậy tránh được những giờ cao điểm. Đường từ Paris về Saint Malo chừng hơn năm trăm cây số. Từ thành phố này sang núi Saint Michel còn mất thêm một giờ xe. Mọi người hành hương đến núi Michel thường ghé qua đêm tại Saint Malo. Đây là một thành phố cảng rất cổ, có nhiều điều thú vị. Nhưng đối với tôi nó chẳng có ý nghĩa gì. Ước mơ của tôi, cái đích của tôi trong chuyến đi là được tận mắt nhìn ngọn núi thần kỳ của tuổi thơ.


Thành phố Saint Malo nườm nượp khách du lịch. Người nơi khác đông hơn dân bản địa. Hầu như ai cũng lạ lẫm như ai. Một lần chúng tôi đang dạo phố thì có một chiếc xe sang trọng từ từ ghé sát hè. Cửa kính trước hạ xuống, một phụ nữ xinh đẹp thò đầu ra ngoài: “Chào quý bà quý ông. Xin lỗi, xin vui lòng cho biết từ đây ra ga đi lối nào?”. Trông ra chị còn ngỡ ngàng hơn chúng tôi. Marthe (mà tôi thích gọi là Mai hơn) cười: “Cô này từ Đức sang nghỉ Lễ. Trông biển xe thì biết. Saint Malo đang có sức thu hút”.


Nhưng tôi đâu có quan tâm đến thành phố cổ xưa quê hương F.R. de Chateaubriand, một chủ súy của văn học lãng mạn Pháp, nơi còn giữ được cái thành và hào lũy do chính Vauban, người đã để lại dấu ấn kiến trúc quân sự ở nước ta với các thành Huế, Quảng Trị, Sơn Tây... đích thân xây dựng. Hôm sau, chúng tôi lên đường sớm.


Mùa xuân khá lạnh. Chúng tôi theo con đường lượn sát bờ biển, qua những cánh đồng colza(*) nở hoa vàng tươi và các đồng lúa mì xanh mượt đây đó có những đống phân bò vun ủ, một vài cái tháp tròn - vết tích các cối xay gió ngày xưa. Nhà cửa ở đây toàn xây bằng đá. Mái cũng lợp đá đen. Vùng Bretagne thời trước vốn dĩ không phát triển bằng các nơi khác, ngày nay cũng không được coi thuộc loại giàu có nhất nhì trong nước, mặc dù du lịch đã góp phần làm đổi thay hẳn bộ mặt. Thỉnh thoảng gặp một đàn bò nhẩn nha gặm cỏ. Nga nhận xét: “Con nào cũng mập. Mà sao không thấy ai làm việc trên đồng?”. Mai thì trầm ngâm: “Dường như mùa xuân ở đây đến sớm hơn Paris”.


Tôi thầm mong có dịp nhìn xem một cối xay gió nguyên vẹn. Chẳng phải chờ lâu. Một cái tháp tròn chơi vơi bốn cánh quạt còn nguyên dạng kia, có đường ống dẫn xuống một dãy nhà ngang thấp lè tè - tôi nghĩ chắc là nhà đóng bao bột mì. Xa xa nhô lên một tháp chuông nhà thờ nhọn hoắt. Cảnh quan giống hệt bức tranh trong cuốn sách của tôi thời ấu thơ. Điểm lạc lõng duy nhất là cái ăngten parabôn trắng hếu to tày cái nong treo đầu ngôi nhà đen đủi; tuy ở khá xa tôi vẫn đọc được cái nhãn hiệu quảng cáo cho hãng viễn thông Nokia.


Ra khỏi điểm dân cư, trước mắt chúng tôi giờ đây là đồng cỏ chạy dài tới sát biển. Đột nhiên, qua một khúc ngoặt, sừng sững hiện ra ngọn núi Saint Michel. Tôi suýt reo lên. Paul (chúng tôi quen gọi là Phương) tìm chỗ đỗ xe. Khấp khởi tưởng đến nơi rồi, kỳ thực còn khá xa. Bởi chung quanh chỉ là đồng cỏ và biển trời, cho nên ngọn núi cao thon thả trông như gần lại. Nắng sớm làm lóe sáng ngôi sao trên ngọn tháp nhà thờ. Tôi nhìn rõ ánh hào quang của Thánh Michel, y hệt như hơn sáu mươi năm về trước.


Chúng tôi đang say sưa chụp ảnh thì một chàng cảnh sát mặt đỏ ửng vì lạnh phóng xe đạp đến. Thì ra quãng đường quẹo này cấm đỗ xe. Tôi cười nịnh anh: “Một nữa thôi, ông vui lòng”. Anh chàng lúc lắc cái đầu, lên xe đi.


Buổi sáng, thủy triều xuống, phơi ra bãi cát còn lưu giữ hình dáng những lượn sóng xa gần. Khách du lịch thích lội bộ xuống đấy chơi. “Nhưng nguy hiểm lắm. - Phương nói - Vào giờ triều lên, nước dâng cuồn cuộn, chạy không kịp đâu. Vì vậy sắp đến tầm triều dâng, cảnh sát lội xuống bãi xua người du lịch lên bờ. Nhiều người không tin, hoặc ỷ sức cứ nấn ná chờ xem; đến khi triều dâng mênh mông, không kịp chạy vào bờ thật. Mà cấp cứu ở đây rất tốn kém, chỉ có thể dùng trực thăng câu người. Chính quyền địa phương gần đây phải ra một quy chế, ai cố tình để xảy ra tai nạn, phải tự mình thanh toán mọi phí tổn phát sinh”.


Leo núi cao, lội sình lầy cũng là những thứ hấp dẫn người chán cảnh phố phường. Chẳng thế mà cái ngọn núi cỏn con kia - xin Thánh Michel xá cho cái tội báng bổ - năm vừa qua thu hút hơn ba triệu du khách.


*


*   *


Mai nói: “Có ba vị đứng đầu các thiên thần: Thánh Gabriel, Thánh Raphael và Thánh Michel. Ở Pháp, Thánh Michel có ngọn núi này, Thánh Raphael có một thành phố ở miền Nam mang tên ông, còn Thánh Gabriel chưa có chỗ nào. Chắc còn chờ một nơi linh hiển”.


Tôi nhìn Mai. Chị không đùa một chút nào. Chị thông thạo mọi chuyện, hầu như tôi có băn khoăn điều gì, chị đều giải đáp sáng gọn. Đôi vợ chồng này đến là lạ. Sinh hoạt rất Tây, mà lại gắn bó quá đỗi với Việt Nam. Phương thì khỏi phải nói. Giống như bao nhiêu trí thức Việt kiều khác cùng thế hệ với anh, Phương vốn là học sinh ở nội thành Sài Gòn. Hoạt động chống Mỹ ngụy bị lộ, may có người bà con cưu mang, tìm cách cho ra nước ngoài. Anh vừa đi làm vừa theo học. Giật được cái bằng đại học, đang theo cao học thì Hội nghị hòa bình về Việt Nam mở tại Paris. Các anh tạm bỏ mọi công chuyện, chuyên tâm phục các “Phái đoàn” - hoặc đoàn miền Nam do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu, hoặc đoàn miền Bắc do Bộ trưởng Xuân Thủy lãnh đạo. Các anh say sưa hoạt động trong phong trào kiều bào. Sau ngày giải phóng miền Nam, tôi có đôi lần đến thăm bà cụ mẹ anh Phương. Lần nào cũng nghe bà cụ phàn nàn: “Lạ cho cái thằng Phương, bác nghe nói ở bên Pháp ngày nào nó cũng đeo cái túi tòn ten đi từ sáng cho tới khuya. Bác nhắn sang, làm gì kệ mày nhưng phải lấy vợ cho má vui, rồi mày muốn công tác gì, má đâu có ngăn”.


Chị Mai chỉ có nửa dòng máu Việt trong người. Song tôi nhìn thấy ở chị một phụ nữ Việt Nam trọn vẹn, không chỉ ở dáng người nhỏ nhắn, mái tóc đen, ở giọng nói tuy hơi ngập ngừng nhưng phát âm khá chuẩn, mà nhất là ở cung cách chị cư xử với gia đình nhà chồng, với bà con, bè bạn: chu đáo, tế nhị, tận tình. Cái đáng lạ là chị rời Việt Nam sang Pháp từ ngày còn bé tí. Không rõ bà mẹ đã giáo dục như thế nào mà truyền được cho con gái cốt cách Việt Nam, làm cho chị gắn bó với quê hương đến vậy. Một lần tôi hỏi về quê mẹ chị. Mai bâng khuâng: “Đâu đó gần Hải Phòng”. Tôi không hỏi kỹ hơn, có lẽ chị cũng chẳng biết nhiều. Nhớ một lần tôi đưa chị về thăm mạn Hải Phòng, Quảng Ninh - chuyến đi ấy đã lâu lắm, hồi đất nước mới thống nhất - lúc qua phà Bạch Đằng, chị mơ màng nhìn rất lâu về phía chân trời xa. Một thoáng ấu thơ trở về trong người phụ nữ nửa Việt nửa Pháp này chăng? Mai hoạt động trong đoàn thanh niên Việt kiều, tham gia đoàn đại biểu thanh niên từ trong nước ra dự các Festival ở Sofia, ở La Habana... Từ bán cầu bên kia, chị gửi nhờ mấy anh bạn mang về Hà Nội tặng tôi một đĩa hát toàn những bài ca cách mạng Cuba.


Phương thì trong cuộc sống cái gì cũng hơi “quá tả”. Mai thì mực thước và cực kỳ ngoan đạo, từ thuở bé cho đến bây giờ chị không bỏ một buổi lễ chủ nhật nào. Chị đã đến núi Thánh Michel mấy lần, không phải đi du lịch như chúng tôi lần này, mà là hành hương thật sự. Phương nói vui, dĩ nhiên khi không có mặt vợ: “Sau này cho bà ấy lên thiên đường, mình tôi về địa ngục”. Anh chị nuôi dạy con cái rất ngoan, hai đứa con trai đều thi đỗ vào trường lớn cả. Hồi còn bé tí các cháu đã được ba má dẫn về Việt Nam thăm quê.


*


*   *


Còn sớm thế mà xe hơi đã đỗ kín cái bãi xe dài cả cây số ven đường, dưới chân núi Thánh Michel.


Một chiếc cầu cạn ngoằn ngoèo dẫn khách đến cây cầu thật bắc qua hào trước khi qua cổng tường thành vào bên trong. Cả ngọn núi là một pháo đài. Tấm đá lớn khắc ba chữ cổ Tour du Roy nhắc mọi người chớ quên đây thuộc lãnh địa nhà vua. Vừa qua khỏi cổng, gặp luôn hai khẩu súng thần công chĩa vào mình. Đạn dược chỉ là hai đống viên gang tròn bị nước mặn ăn mòn nham nhở. Còn lại là những dòng người du lịch, những dòng người vô tận. Và san sát và chen chúc những gian hàng chật hẹp bán đủ mọi thứ hàng hóa trên đời. Xem gì đây? - mọi người hỏi nhau. Nga cười: “Xem người. Người đi xuống, kẻ leo lên. Giống hệt như ta trẩy hội Chùa Hương ngày rằm tháng giêng. Chủ yếu ngắm các thiện nam tín nữ. Nam mô A Di Đà Phật. Có lẽ chúng ta cũng nên niệm Phật cho đỡ thấy đường cao. Các anh chị nhìn xem, dốc ở đây còn dựng đứng hơn đường vào động Thiên Trù”.


Chỗ nào có đông người xúm xít, cầm chắc ấy là nơi có thể xoay xở để bấm một ảnh đẹp. Toán người này chụp chưa xong, những người khác đã vội đến tranh chỗ. Quả là trên núi chẳng có mấy nơi rộng đủ độ lùi cho các ông bà phó nhòm nghiệp dư thoải mái thu hình vào ống kính.


Xem gì? Không ít nơi. Và đều có sẵn biển hướng dẫn. Dưới hầm sâu của pháo đài có các xà lim nhốt tù thời trung cổ. Nhưng phải xuống tận tầng âm bốn cơ. Trên cao có tu viện. Lên đấy có thể xin phép vào tham quan. Có điều phải cố gắng leo chừng... ba nghìn bậc đá! Dĩ nhiên các bạn có thể ngừng lại ở lưng chừng thôi. Ở đấy, sau dãy tường thành có sân bãi đủ rộng để tập hợp quân sĩ. Các hiệp sĩ của nhà vua xưa kia từ chỗ này sẵn sàng cảnh giác với biển, nơi các đội thuyền buồm của đối phương có thể bất ngờ đến gây hấn.


Gặp một linh mục rủng rỉnh chùm chìa khóa cầm tay. Cha André Fournier. Cha được giao trách nhiệm hướng dẫn khách thăm tu viện. Điều nghịch lý là các thầy tu ở đây thuộc dòng bénédictin, dòng tu chuộng sự yên tĩnh và ẩn dật, ít giao du với người đời. Nhưng biết làm sao? Nhà tu cũng cần có thu nhập. Cha Fournier thở dài: “Vào mùa hè (là mùa cao điểm du lịch), khi cần mua thực phẩm, chúng tôi phải lách qua đám đông đi bộ bốn cây số đến siêu thị gần nhất. Lượt về, lại phải chen chúc qua dòng người để leo lên ba nghìn bậc cấp”. Cha nói tiếp: “Ngày nay, chẳng mấy khách du lịch quan tâm đến cái tu viện. Dòng chúng tôi được thiết lập nơi đây đã hơn mười thế kỷ, thế mà bây giờ mọi người coi chúng tôi chẳng qua là một viện bảo tàng. Khách đến đây trong buổi sáng, bấm luôn một lúc vài cuộn ảnh, ghé khu buôn bán mua hàng lưu niệm. Thế là xong, coi như đã hành hương đến được núi Thánh Michel”.


Tôi cười thầm: “Có lẽ trừ chị Mai, còn cả đoàn chúng tôi đây cũng giống như mọi người khác vậy thôi, thưa cha kính mến”.


Ồn ào, lộn xộn nhất là khu chợ. Tuy nhiên đàng nào người tham quan cũng phải qua đây nếu muốn đi xa hơn, lên cao hơn. Và còn phải quay trở lại. Đất đai chật hẹp thế mà vẫn không thiếu thức gì: khách sạn, nhà hàng, quán giải trí, hiệu bán thức ăn nhanh, phòng bưu điện... Đâu đâu cũng là nơi bán hàng lưu niệm. Đến đâu cũng mua sắm được vật phẩm tiêu dùng, kể cả đồ trang sức và quần áo thời trang. Những thương nhân đứng tuổi đĩnh đạc trong các gian nhà lịch sự kia là ông tây bà đầm chính hiệu, gốc gác dân bản địa. Còn đông hơn, thường xuyên chen lấn ven các nẻo đường chật chội thiếu tiện nghi này, là đội quân những người bán rong. Người Arập, người Bắc Phi, người Trung Á, người Thổ Nhĩ Kỳ... Người nào cũng miệng rao, tay đong đưa hàng hóa, có khi gí sát vào mũi khách, chào mời.


Nổi bật trong mọi thứ hàng hóa là biểu tượng ngọn núi thánh với gác chuông cao vút giữa biển sóng dập dờn. Núi in trên bưu thiếp, trên áo thun, trên những tờ tranh dân gian đỏ xanh lòe loẹt, trên những tấm khiên và những thanh kiếm nhựa, trên các đĩa gốm đĩa sứ đĩa gỗ để bày trên giá sách hoặc treo lên tường... Thế mà đâu đâu cũng có người hỏi mua. Những người bán đóng gói liền tay.


Chúng tôi ai nấy đã vã mồ hôi dù trời vẫn lạnh. Ấy thế mà còn phải thất thểu lội bộ dưới nắng ra bãi lấy xe. Các chai nước suối cầm tay vợi hết từ bao giờ.


*


*   *


Chị Mai giới thiệu: “Vùng này có bốn loại đặc sản, ai đã đến đây mà chưa dùng thì coi như chưa đến; nước giải khát cidre, bánh crêpe, rượu calvados và một thứ bánh tráng miệng gọi theo tiếng Breton là Koning Aman, chúng ta sẽ dùng trong bữa trưa nay. Còn bây giờ đi ăn bánh bích quy. Chắc mọi người đã đói”.


Ăn không mất tiền. Bởi chúng tôi vào một nhà hàng lớn, nơi trưng bày và giới thiệu sản phẩm các hãng làm bánh quy. Từ xa đã nhìn thấy cái biển quảng cáo chiếm trọn chiều rộng bức tường tầng hai của căn nhà: Biscuterie de Bretagne. Bánh quy xứ Bretagne bán khắp nước Pháp và xuất khẩu đi nhiều nơi. Trên mặt bàn rộng, bày la liệt các loại bánh quy rời. Ai đã bước vào đây thì tự do vốc, tha hồ ăn. Thảo nào các cô gái bán hàng ở đây cô nào cũng béo ục ịch.


Bánh crêpe (tôi gọi bánh xèo tây) được làm bằng mạch ba góc và thường tráng lẫn phó mát và cà chua. Nó là mặt hàng bình dân, đâu chẳng có bán ê hề. Quanh khu nhà thờ Monmartre ở Paris, nơi ngày đêm không mấy khi ngớt khách du lịch, có cả một dãy quán lộ thiên chuyên bán bánh crêpe, các cô cậu choai choai lưng đeo ba lô nhỏ, xếp hàng chờ làm bánh nóng, rồi vừa đi vừa ăn vừa thổi phù phù. Nhưng, người ta đồn không đâu có bánh crêpe làm theo lối truyền thống ngon bằng bánh ở thành phố Saint Malo. Có đúng vậy không? - “Thì anh Phương chẳng bảo với tôi rằng về Việt Nam muốn ăn bánh xèo phải vào tận trong xứ Huế quê anh ấy cơ mà”, chị Mai nhìn chồng cười hóm hỉnh.


Hôm qua ở Saint Malo chị Mai đã kéo chúng tôi dùng bánh kếp uống bia nâu gu Ănglê (dân Bretons vốn gốc người thiểu số từ các hòn đảo thuộc Anh trên biển Manche vì lánh sự đàn áp của người Anglo-Saxons mà sang đây lập nghiệp) ở chính cái hiệu Crêperie Le Gallo hiện diện trong tất cả các cuốn sách hướng dẫn du lịch ngày nay. Hiệu ở bên trong thành cổ. Các biển quảng cáo hiệu này bao giờ cũng kèm theo mấy chữ La tinh intra-muros (có nghĩa là ở trong thành) để phân biệt với các hiệu bánh crêpe khác. Phải cất công đến tận đấy, mới là người sành.


Le Gallo là một căn nhà cổ. Các bàn ăn làm bằng gỗ mộc gắn lên chân gang độc cước chôn chặt xuống nền nhà. Ghế ngồi không có lưng tựa để dễ dàng đút vào gầm bàn khi cần dọn dẹp. Chỉ bán mỗi một món độc chiêu là bánh xèo, dùng cùng bia nâu hoặc nước cidre. Thế mà chưa đến giờ mở cửa đã có khách chen lấn. Toàn khách du lịch các nơi khác đổ về. Nước cidre cất từ quả táo, độ cồn thấp, thức uống quốc hồn quốc túy của vùng này. Lúc đi ngang qua thị trấn Pontonson trên đường đến đây, tôi thấy có một biển hướng dẫn vào thăm Viện bảo tàng... nước xít, Musée du Cidre (!) Không hiểu người ta trưng bày những gì trong đó. Thật lòng tôi thấy món-bánh-niềm-tự-hào của dân Bretons kém xa các loại bánh xèo bánh khoái dân dã ở Việt Nam ta. Còn nước xít, nếu có đưa sang Hà Nội, chắc sẽ bị bia hơi sớm cho ra rìa.


Trong hiệu bánh bích quy có một ngăn bày bán rượu đặc sản calvados. Tôi định bốc luôn vài chai cho tiện. Phương ngăn lại: “Tội gì. Tôi đưa các vị đến nhà sản xuất, tha hồ được nếm trước khi mua. Và giá chắc phải mềm hơn. Nhân thể xem cho biết”.


Đúng là của một đồng công một nén. Phải lái xe vòng vèo mấy chục phút qua các cánh đồng lúa mì và cải colza. Đường tốt thật đấy nhưng muốn hỏi thăm chẳng biết hỏi ai, vì ngược xuôi toàn ô tô, tịnh không có bóng một người đi bộ hoặc làm việc giữa cánh đồng. Đang ngày lễ trọng mà. Chỉ có cách nhìn vào bản đồ để định hướng. Tìm đến được tấm biển đề Le Producteur (nhà sản xuất) rồi, còn phải đi thêm bốn cây số nữa mới tới trang trại.


Cổng trại mở toang. Khách tự do lái xe vào, tìm chỗ đỗ, rồi đến một dãy nhà dài, kín như bưng. Nhìn mãi mới thấy nơi treo tấm biển Ouvert (mở cửa). Trong nhà tối nhờ nhờ. Định thần một lát mới thấy vệt sáng từ trần nhà chiếu xuống soi sang một cái quầy bày nhiều loại rượu và ly cốc lớn bé. Bà chủ to béo đẫy đà từ nhà trong bước ra. Bà mở rộng cửa cho ánh sáng tràn vào, rồi rót các loại rượu ra những cái ly bằng ngón tay mời chúng tôi lần lượt nếm.


Lúc này tôi mới có điều kiện nhìn kỹ ngôi nhà. Cả mấy gian dài xếp toàn thùng gỗ sồi lớn nhỏ ủ rượu. Trên mỗi thùng có ghi bằng phấn trắng năm bắt đầu cho rượu vào ủ. Xế cửa, bày một cái cối ép nho thủ công kềnh càng. “Bày cho vui, bây giờ đã cơ khí hóa, không dùng loại dụng cụ này nữa”. Thấy tôi chụp ảnh, một người đàn ông vừa bước vào, giải thích.


Đấy là ông chủ trại. Ông đi ủng, bộ áo quần lao động lấm đất. “Ngày lễ ông cũng làm việc sao?” - “Thì cũng đảo qua một vòng, xem gia súc nó thế nào”, ông nheo mắt cười.


Thấy tôi quan tâm hỏi han, ông mời ra thăm trại. Ông vừa nhấc tấm liếp ngăn lối đi tắt từ sân ra vườn, mấy đàn gà mẹ gà con xao xác chạy, bay. Một đống lớn phân ủ không xa nhà. Mấy chiếc rơmóc đã xếp nhiều cây táo non, chắc sẽ đưa đi trồng sau ngày nghỉ lễ.


Trại của ông bà rộng sáu hécta. Mỗi hécta trung bình trồng sáu trăm cây táo. Đây là loại táo chuyên dùng làm nguyên liệu cất làm rượu calvados, không phải là loại táo quả để ăn.


- Sản lượng rượu hàng năm ư? Cái ấy còn tùy thuộc vào năng suất quả. Có năm được, có năm mất mùa. – Ông chủ trại xởi lởi – Các vị chỉ cần nhớ cho, từ một trăm tấn quả táo, có thể làm ra hai mươi nhăm hecto-lít cidre. Và cứ một trăm lít cidre, lại sẽ cất được bảy lít cồn, loại cồn có độ cao bán ở cửa hàng dược phẩm. Độ rượu calvados nằm ở khoảng giữa cồn và nước xít. Đây mới là bán thành phẩm. Phải mang ủ. Tối thiểu ủ năm năm mới thành rượu calvados. Đấy còn gọi là “chờ cho rượu già”. Laisser vieillir, “để cho nó già”, không có cách nào khác. Nhưng để lâu quá hai mươi năm thì rượu lại giảm mùi thơm. Trong thời gian ủ, độ cồn giảm ít nữa, xuống khoảng 40-45 độ. Thế là vừa đẹp. Trung bình, từ một trăm lít cidre lấy được năm, sáu lít rượu calvados nguyên chất. Tuổi rượu được tính bắt đầu từ ngày 01 tháng bảy. Vì vậy các trang trại bao giờ cũng cố gắng hoàn tất việc thu hái quả, ép, cất và cho vào thùng ủ trước ngày 30 tháng sáu. Như vậy bắt đầu từ ngày hôm sau, rượu đã được tính một năm tuổi.


- Có pha chút hương liệu chứ? – Tôi hỏi.


Chủ trại nghiêm mặt:


- Tuyệt đối không. Nghiêm lắm. Ngoài sự kiểm tra của Nhà nước, các trang trại còn kiểm tra chéo lẫn nhau. Màu nâu hồng của rượu mà các vị thấy đấy, là màu tự nhiên do thời gian mang lại, có một phần do chất lượng của gỗ thùng, đóng bằng gỗ sồi. Uy tín của nhà, tín nhiệm của cả vùng, thưa ông. Nguyên chất. Tuy nhiên chất lượng rượu cũng còn tùy thuộc vào chất lượng quả táo thu hái hằng năm, lại còn tùy thuộc phần nào vào độ lửa khi chưng cất. Nguyên tắc là nhiệt độ trong lò cất phải ổn định. Chúng tôi đốt lò bằng củi, làm sao ổn định bằng nhiệt độ trong lò cất công nghiệp. Dù sao, nguyên liệu của chúng tôi chất lượng cao, rượu sản xuất ở đây là thứ thiệt.


Chúng tôi mua vài chai rượu làm quà. Dù mua ở nơi sản xuất, các chai đều có dán tem thuế. Bà chủ còn cẩn thận hỏi: “Các vị cần hộp không?” Hộp làm bằng bìa cứng, nhãn mác đàng hoàng, sang trọng chẳng kém gì những thứ bày bán trong các siêu thị. Giá cả chẳng mềm hơn chút nào, như bạn tôi tưởng.


Chủ trại thân hành tiễn chúng tôi ra tận xe, đưa thêm tấm danh thiếp trước khi bắt tay. Bàn tay to và thô ráp. Nhìn thấy chiếc kéo con cài ở túi áo, tôi tò mò hỏi: “Ông mang chiếc kéo tỉa cây luôn theo người ư?”.


Ông chủ trại ranh mãnh mỉm cười:


- Tôi tiết lộ với ông một điều bí mật. Tôi vừa đi câu cá hồi ngoài sông về. Không có phép, vì mùa này cấm câu. Sáng nay bị cảnh sát chặn xe hai lần. Nhưng tôi đã tính trước, dùng cái kéo này cắt môi con cá, lôi cái lưỡi câu cùng con mồi trong miệng nó vứt tỏng xuống sông ngay khi vừa câu được. Cho nên các vị ấy chẳng làm gì được. Nhờ cái kéo tùy thân đấy, thưa ông. Đi câu không chỉ là môn thể thao. Nó còn là một nguồn thu không phải tính thuế, ông hiểu cho.


*


*   *


Cũng như mọi người đến viếng núi Saint Michel, tôi mang về từ chuyến đi ấy nhiều vật mang biểu tượng ngọn núi thiêng liêng để giữ làm kỷ niệm và tặng bạn bè. Chị Mai còn gửi tôi mang về cho các cháu mấy cái áo thun có hình ngọn núi và ngôi sao. Không rõ các cháu có dùng không, vì mốt thời trang ở Hà Nội hiện nay hình như không còn là những chiếc áo thun in hình sặc sỡ cùng dòng chữ lạ lẫm nữa. Riêng cái đĩa sứ mà tôi đã chọn rất cẩn thận và xách kè kè ở tay, không dám để trong va li sợ vỡ, cái đĩa ấy nhất định tôi sẽ bày trên bàn viết. Để mỗi lần tạm ngừng tay, lại mơ màng làm chuyến hành hương về chốn ấu thơ, tìm phút thư giãn cho đầu óc và tâm hồn mệt mỏi. Điều chắc chắn là từ nay, ngọn núi thánh sẽ không còn hiện lên trong giấc mơ của tôi nữa.


2001


(còn tiếp)


Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info







(*) Một loại cải dầu.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »