tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20785419
26.05.2012
Tư liệu
Vương quốc Bỉ

Tiếng Hà Lan: België, tiếng Pháp: Belgique; tiếng Đức: Belgien, quốc danh hiện tại là Vương quốc Bỉ (tiếng Hà Lan: Koninkrijk België; tiếng Pháp: Royaume de Belgique; tiếng Đức: Königreich Belgien), là một quốc gia tại Tây Âu. Nước này là một thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu và cũng là nơi đóng trụ sở của tổ chức này, cũng như nhiều tổ chức quốc tế lớn khác, gồm cả NATO.[1] Bỉ có diện tích 30.528km2 và dân số khoảng 10.7 triệu người.


 


Là biên giới văn hoá giữa châu Âu German và châu Âu Latinh, Bỉ là ngôi nhà của hai nhóm ngôn ngữ chính, Flemish và người nói tiếng Pháp, chủ yếu là Walloons, cộng với một nhóm nhỏ người nói tiếng Đức. Hai vùng lớn nhất của Bỉ là vùng nói tiếng Hà Lan Flanders ở phía bắc, với 59% dân số, và vùng nói tiếng Pháp ở phía nam là Wallonia, với 41% dân số. Vùng thủ đô Brussels, có hai ngôn ngữ chính thức, là vùng chủ yếu nói tiếng Pháp gồm trong Vùng Flemish và là nơi sinh sống của 10% dân số.[2] Một Cộng đồng nói tiếng Đức có tồn tại ở đông Wallonia.[3] Sự đa dạng ngôn ngữ của Bỉ và những cuộc xung đột chính trị và văn hoá liên quan tới nó được phản ánh trong lịch sử chính trị và một hệ thống chính phủ phức tạp.[4][5]


 


Về mặt lịch sử, Bỉ Hà Lan và Luxembourg được gọi là Các nước vùng thấp, thường để chỉ một vùng hơi rộng hơn nhóm quốc gia Benelux hiện tại. Từ cuối thời kỳ Trung Cổ cho tới thế kỷ 17, đây là một trung tâm văn hoá và thương mại thịnh vượng. Từ thế kỷ 16 tới cuộc Cách mạng Bỉ năm 1830, nhiều trận đánh giữa các cường quốc châu Âu đã diễn ra tại khu vực Bỉ, khiến nó bị gọi là vùng đất chiến trận của châu Âu[6]—một danh tiếng càng trở nên nổi bật hơn sau hai cuộc Thế chiến. Ngay khi giành được độc lập Bỉ lập tức tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp[7][8] và, ở cuối thế kỷ 19, sở hữu nhiều thuộc địa ở châu Phi.[9] Nửa sau thế kỷ 20 được ghi dấu bởi sự trỗi dậy của những cuộc xung đột cộng đồng giữa người Flemings và Francophone được tiếp sức thêm bởi những sự khác biệt văn hoá ở một khía cạnh và khía cạnh kia là sự phát triển kinh tế không đồng đều của Flanders và Wallonia. Đây là những cuộc xung đột vẫn còn sôi sục và đã dẫn tới nhiều đề xuất cải cách từ một nhà nước Bỉ đơn nhất thành một nhà nước liên bang.


 


 Nguồn gốc quốc hiệuDanh xưng "Bỉ" trong tiếng Việt là giản xưng của Bỉ Lợi Thời (Trung văn giản thể: 比利时; phồn thể: 比利時; bính âm: Bǐlìshí), dịch danh Trung văn của quốc hiệu nước Bỉ.


 


Quốc hiệu nước Bỉ (tiếng Hà Lan: België, tiếng Pháp: Belgique; tiếng Đức: Belgien) bắt nguồn từ Gallia Belgica, tên gọi của một Tỉnh La Mã ở phần cực bắc của Gaul nơi người Belgae, một sự pha trộn giữa người Celtic và Germanic, sinh sống.[10][11]


 


Mười bảy tỉnh (vùng cam, nâu và vàng) và Địa phận giám mục Liège (xanh)Ở thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên, người La Mã, sau khi đánh bại các bộ tộc địa phương, đã thành lập tỉnh Gallia Belgica. Một cuộc nhập cư dần dần của các bộ tộc Frankish Germanic trong thế kỷ thứ 5, đã đưa vùng này nằm dưới sự cai trị của các vị vua Merovingian. Một sự dần thay đổi quyền lực trong thế kỷ thứ 8 đã khiến vương quốc của người Franks phát triển thành Đế chế Carolingian. Hiệp ước Verdun năm 843 phân chia vùng này thành Trung và Tây Francia và vì thế trở thành một tập hợp các thái ấp ở các mức độ độc lập khác nhau, và trong thời Trung Cổ các thái ấp này hoặc là chư hầu của Vua Pháp hoặc là của Hoàng đế La Mã Thần thánh. Nhiều thái ấp trong số đó đã được thống nhất vào bên trong Burgundian Hà Lan ở thế kỷ 14 và 15. Hoàng đế V đã mở rộng liên minh riêng tư của Mười bảy tỉnh trong những năm 1540, biến nó trở thành không chỉ là một liên minh riêng tư theo Sắc lệnh 1549 và gia tăng ảnh hưởng của ông với Địa phận giám mục-Hoàng thân Liège.[12]


 


Cuộc chiến tranh tám mươi năm (1568–1648) đã chia các quốc gia vùng thấp thành Các tỉnh thống nhất (Belgica Foederata trong tiếng Latinh, "Liên bang Hà Lan") ở phía bắc và Nam Hà Lan (Belgica Regia, "Hoàng gia Hà Lan"). Nam Hà Lan nằm dưới sự cai trị liên tục của người Tây Ban Nha và Áo Habsburg và bao gồm hầu hết nước Bỉ hiện đại. Đây là sân khấu của hầu hết các cuộc chiến tranh Pháp-Tây Ban Nha và Pháp-Áo trong thế kỷ 17 và 18.[13] Sau các chiến dịch năm 1794 trong các cuộc chiến tranh cách mạng Pháp, các quốc gia vùng thấp—gồm cả các lãnh thổ chưa bao giờ chính thức nằm dưới sự cai trị của Habsburg, như Địa phận giám mục-Hoàng thân Liège—bị Đệ nhất Cộng hoà Pháp sáp nhập, chấm dứt thời kỳ cai trị của Áo trong vùng. Sự thống nhất các quốc gia vùng thấp trở thành Vương quốc Hà Lan Thống nhất diễn ra sau sự giải tán của Đệ nhất Đế chế Pháp năm 1815.


 


Bảo tàng Nghệ thuật Cổ đại, Brussels.Cuộc cách mạng Bỉ năm 1830 dẫn tới sự thành lập một nhà nước Bỉ độc lập, Cơ đốc và trung lập dưới một chính phủ lâm thời và một nghị viện quốc gia. Từ khi Leopold I được lập lên làm vua năm 1831, Bỉ đã trở thành một nhà nước quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện. Dù ban đầu quyền bầu cử bị giới hạn, quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới được ban hành năm 1893 (với việc bỏ phiếu theo khu vực cho tới năm 1919) và cho phụ nữ năm 1949. Các đảng chính trị lớn ở thế kỷ 19 là Đảng Cơ đốc và Đảng Tự do, với Đảng Lao động Bỉ xuất hiện ở cuối thế kỷ. Tiếng Pháp ban đầu là ngôn ngữ chính thức duy nhất được giới quý tộc và tư sản lựa chọn. Nó dần mất đi tầm quan trọng khi tiếng Hà Lan cũng được công nhận. Sự công nhận này trở thành chính thức năm 1898 và vào năm 1967 một phiên bản Hiến pháp tiếng Hà Lan được chính thức công nhận.[14]


 


Hội nghị Berlin năm 1885 trao quyền kiểm soát Nhà nước Congo Tự do cho Vua Leopold II như vật sở hữu cá nhân của ông. Từ khoảng năm 1900 có sự lo ngại quốc tế ngày càng gia tăng về cách đối xử cực đoan và dã man với dân chúng Congo của chính quyền Leopold II, với ông ta Congo là nguồn thu chủ yếu từ ngà voi và sản xuất cao su. Năm 1908 sự phản đối này khiến nhà nước Bỉ phải nắm trách nhiệm quản lý chính phủ thuộc địa, vì thế nó được gọi là Congo Bỉ.[15]


 


Đức xâm lược Bỉ năm 1914 như một phần của Kế hoạch Schlieffen và hầu hết các trận đánh tại Mặt trận phía Tây trong Thế chiến I diễn ra ở vùng phía tây nước này. Bỉ chiếm các thuộc địa của Đức là Ruanda-Urundi (Rwanda và Burundi hiện nay) trong cuộc chiến và vào năm 1924 chúng được Hội quốc liên uỷ nhiệm cho Bỉ. Sau cuộc Thế chiến thứ nhất, Các quận Phổ Eupen và Malmedy bị Bỉ sáp nhập năm 1925, vì thế dẫn tới sự xuất hiện của một cộng đồng nói tiếng Đức. Nước này một lần nữa bị Đức xâm lược năm 1940 trong cuộc tấn công Blitzkrieg và bị chiếm đóng cho tới khi đoợc giải phóng năm 1945 bởi Đồng Minh. Congo Bỉ giành được độc lập năm 1960 trong cuộc Khủng hoảng Congo;[16] Ruanda-Urundi tiếp nối hai năm sau đó.


 


Sau Thế chiến II, Bỉ gia nhập NATO với tư cách một thành viên sáng lập và thành lập nhóm quốc gia Benelux với Hà Lan và Luxembourg. Bỉ trở thành một trong sáu thành viên sáng lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu năm 1951 và của Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử châu Âu và Cộng đồng Kinh tế châu Âu, được thành lập năm 1957. Cộng đồng Kinh tế châu Âu hiện là Liên minh châu Âu, và Bỉ là nơi đóng trụ sở của các định chế và cơ cấu chính của tổ chức này, gồm Hội đồng châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu và cũng là nơi tổ chức các kỳ họp thông thường và đặc biệt của Nghị viện châu Âu.


 


[sửa] Chính phủ và chính trịBài chi tiết: Chính trị Bỉ


Xem thêm: Nghị viện Liên bang Bỉ, Chính phủ Liên bang Bỉ, và Các đảng chính trị tại Bỉ


Xem thêm thông tin tại: Danh sách vương triều Bỉ, Danh sách Thủ tướng Bỉ, Quan hệ nước ngoài của Bỉ


Bỉ là một quốc gia quân chủ nhân dân, lập hiến và dân chủ nghị viện.


 


 


Cựu Thủ tướng Herman Van RompuyNghị viện liên bang lưỡng viện gồm Thượng viện và một Viện đại biểu. Thượng viện gồm 40 chính trị gia được bầu trực tiếp và 21 đại diện do 3 nghị viện cộng đồng chỉ định, 10 thượng nghị sĩ đồng lựa chọn và các con của nhà vua, là thượng nghị sĩ theo quyền những người trên thực tế không bỏ phiếu. 150 thành viên của Viện đại biểu được bầu theo hệ thống bầu cử tỷ lệ từ 11 quận bầu cử. Bỉ là một trong số ít quốc gia áp dụng bỏ phiếu bắt buộc và vì thế có một trong những tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao nhất thế giới.[17]


 


Vua (hiện tại là Albert II) là nguyên thủ quốc gia, dù có đặc quyền hạn chế. Vua chỉ định các bộ trưởng, gồm cả một Thủ tướng, và phải được Viện đại biểu tín nhiệm để lập chính phủ liên bang. Số lượng các bộ trưởng nói tiếng Hà Lan và tiếng Pháp là tương đương như được ghi trong hiến pháp.[18] Hệ thống tư pháp dựa trên luật dân sự và có nguồn gốc từ luật Napoleon. Toà phá án là cơ quan tối cao, với Toà phúc thẩm ở mức thấp hơn.


 


Các định chế chính trị của Bỉ rất phức tạp, hầu hết quyền lực chính trị được tổ chức xung quanh nhu cầu đại diện cho các cộng đồng văn hoá. Từ khoảng năm 1970, các đảng chính trị quốc gia quan trọng của Bỉ đã chia rẽ thành các thành phần riêng biệt chủ yếu đại diện cho các lợi ích chính trị và ngôn ngữ của các cộng đồng. Các đảng chính trong mỗi cộng đồng, dù gần gũi với phái chính trị trung dung, thuộc ba nhóm chính: phe tự do cánh hữu, phe Dân chủ Thiên chúa giáo xã hội bảo thủ và những người xã hội hình thành nên cánh tả. Các đảng đáng chú ý khác bắt đầu phát triển từ nửa sau thế kỷ 20, chủ yếu quanh các chủ đề ngôn ngữ, quốc gia, hay môi trường và gần đây là các đảng nhỏ hơn đi theo một số ý tưởng tự do riêng biệt.


 


Một loạt các liên minh chính phủ Dân chủ Thiên chúa giáo từ năm 1958 đã bị tan vỡ sau cuộc bầu cử năm 1999 sau cuộc khủng hoảng dioxine đầu tiên, một scandal nhiễm độc thức ăn lớn.[19][20] Một 'liên minh cầu vồng' gồm sáu đảng xuất hiện: phái Tự do nói tiếng Flemish và tiếng Pháp, những người Dân chủ Xã hội, Đảng Xanh.[21] Sau này, một 'liên minh tía' của những người Tự do và Dân chủ Xã hội được thành lập sau khi Đảng Xanh mất ghế trong cuộc bầu cử năm 2003.[22] Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Guy Verhofstadt từ năm 1999 tới năm 2007 đã thành công trong việc cân bằng ngân sách, thực hiện một số cải cách thuế, và cải cách thị trường lao động, lên kế hoạch loại bỏ hạt nhân và đưa ra khung pháp lý cho phép việc truy tố nghiêm khắc hơn với tội phạm chiến tranh và khoan dung hơn với việc sử dụng các chất ma tuý loại nhẹ. Những giới hạn về cản trở cái chết không đau đớn được giảm bớt hôn nhân đồng giới được hợp pháp hoá. Chính phủ khuyến khích tăng cường ngoại giao ở châu Phi[23] và opposed the invasion of Iraq.[24] Liên minh của Verhofstadt có kết quả tồi trong cuộc bầu cử tháng 6 năm 2007. Trong hơn một năm, nước này đã trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị.[25] Cuộc khủng hoảng này tồi tệ tới mức nhiều nhà quan sát đã dự đoán một khả năng phân chia nước Bỉ. Từ ngày 21 tháng 12 năm 2007 tới ngày 20 tháng 3 năm 2008 Chính phủ tạm quyền Verhofstadt III đảm đương chức vụ. Liên minh này của những người Flemish và những người Dân chủ Thiên chúa giáo Francophone, Flemish và những người Tự do Francophone cùng với những người Dân chủ Xã hội Francophone là chính phủ tạm quyền cho tới ngày 20 tháng 3 năm 2008. Vào ngày này một chính phủ mới, dưới sự lãnh đạo của Yves Leterme Dân chủ Thiên chúa giáo Flemish, phe giành thắng lợi trong cuộc bầu cử liên bang tháng 6 năm 2007, tuyên thệ nhậm chức trước nhà vua. Ngày 15 tháng 7 năm 2008 Leterme thông báo việc từ chức của nội các tới nhà vua, và không có tiến bộ nào trong việc cải cách hiến pháp được thực hiện.[26] Tháng 12 năm 2008 một lần nữa ông đệ đơn từ chức tới nhà vua sau một cuộc khủng hoảng liên quan tới việc bán Fortis cho BNP Paribas.[27] Trước tình hình này, đơn từ chức của ông đã được chấp nhận và Herman Van Rompuy thuộc phe Dân củ Thiên chúa giáo Flemish tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng ngày 30 tháng 12 năm 2008.[28]


 


Trong bảng xếp hạng Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2007, tổ chức Phóng viên không biên giới xếp Bỉ (cùng với Phần Lan và Thuỵ Điển) đứng hạng 5 trong 169 nước.[29]


 


Các cộng đồng:


  Cộng đồng Flemish / khu vực tiếng Hà Lan


         Cộng đồng Flemish & tiếng Pháp/ khu vực song ngữ


   Cộng đồng Pháp / khu vực tiếng Pháp


  Cộng đồng nói tiếng Đức / khu vực tiếng Đức


 Các vùng:


  Vùng Flemish / Khu vực tiếng Hà Lan


  Vùng thủ đô Brussels / khu vực song ngữ


  Vùng Walloon / các khu vực tiếng Pháp và tiếng Đức


Sau một sự sử dụng có thể truy nguyên từ thời các toà án Burgundian và Habsburgian,[30] ở thế kỷ 19 cần phải nói tiếng Pháp để có thể thuộc về tầng lớp trên cầm quyền và những người chỉ có thể nóitiếng Hà Lan thực tế là các công dân hạng hai. Cuối thế kỷ 19, và tiếp tục tới thế kỷ 20, các phong trào Flemish xuất hiện phản đối tình hình này. Tuy Walloons và hầu hết dân cư Brussels chấp nhận tiếng Pháp như ngôn ngữ thứ nhất, Flemings khước từ và đã thành công trong việc đưa tiếng Hà Lan trở thành ngôn ngữ chính thức của Flanders. Sau thế chiến II, chính trị Bỉ dần bị thống trị bởi sự tự quản của hai cộng đồng ngôn ngữ chính của nó. Những căng thẳng giữa các sắc tộc gia tăng và hiến pháp đã được sửa đổi để ngăn chặn bất kỳ nguy cơ xung đột nào.


 


Dựa trên bốn vùng ngôn ngữ được xác định năm 1962–63 (vùng tiếng Hà Lan, song ngữ, tiếng Pháp và tiếng Đức), những lần sửa đổi liên tục của hiến pháp nhà nước năm 1970, 1980, 1988 và 1993 đã thiết lập một nhà nước liên bang đơn nhất với quyền lực chính trị được phân chia thành ba cấp[31][32]:


Chính phủ liên bang, có trụ sở tại Brussels.


Ba cộng đồng ngôn ngữ:


Cộng đồng Flemish (nói tiếng Hà Lan);


Cộng đồng Pháp (ví dụ nói tiếng Pháp);


Cộng đồng nói tiếng Đức.


Ba vùng:


Vùng Flemish, được chia thành năm tỉnh;


Vùng Walloon, được chia thành năm tỉnh;


Vùng thủ đô Brussels.


Phần quy định về ngôn ngữ trong hiến pháp xác định các ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các vùng, cũng như các giới hạn địa lý của các định chế có quyền về các vấn đề riêng biệt. Dù điều này sẽ cho phép bảy nghị viện và chính phủ, khi các Cộng đồng và các Vùng được thành lập năm 1980, các chính trị gia Flemish quyết định sáp nhập cả hai. Vì thế Flemings chỉ có một cơ quan nghị viện và chính phủ duy nhất có quyền lực với mọi vấn để riêng biệt của địa phương ngoại trừ với các vấn đề liên bang.[33] Các biên giới chồng lấn của các Vùng và các Cộng đồng đã tạo ra hai thứ lập dị: lãnh thổ Vùng thủ đô Brussels (đã tổn tại từ sau các vùng khác khoảng gần một thập kỷ) được gồm trong cả các Cộng đồng Flemish và Pháp, và lãnh thổ Cộng đồng nói tiếng Đức nằm toàn bộ bên trong Vùng Walloon. Những xung đột giữa các cơ cấu được giải quyết tại Toà án Hiến pháp Bỉ. Cơ cấu này được dự dịnh trở thành một thiết chế hoà giải để cho phép các nền văn hoá khác nhau cùng chung sống hoà bình.[7]


 


Cơ quan chính quyền liên bang gồm tư pháp, quốc phòng và cảnh sát liên bang, an ninh xã hội, năng lượng nguyên tử, chính sách tiền tệ, nợ công và các mặt khác của tài chính công. Các công ty thuộc sở hữu nhà nước gồm Belgian Post Group và Đường sắt Bỉ. Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm về các trách nhiệm của Bỉ và các định chế liên bang của nó với Liên minh châu Âu và NATO. Chính phủ liên bang kiểm soát phần lớn lĩnh vực chăm sóc y tế, nhà ở và đối ngoại.[34] Ngân sách –không tính nợ- được kiểm soát bởi chính phủ liên bang chiếm tới 50% thu nhập thuế quốc gia. Chính phủ liên bang sử dụng khoảng 12% nhân viên dân sự.[35]


 


Các cộng đồng chỉ có quyền trong khu vực địa lý ngôn ngữ đã được xác định, ban đầu hướng tới các cá nhân của một cộng đồng ngôn ngữ: văn hoá (gồm cả truyền thông), giáo dục và sử dụng ngôn ngữ liên quan. Những vấn đề mở rộng của cá nhân không liên quan trực tiếp tới ngôn ngữ gồm chính sách y tế (chăm sóc và ngăn ngừa) và hỗ trợ cá nhân (bảo vệ trẻ em, an sinh xã hội, trợ giúp gia đình, dịch vụ hỗ trợ người nhập cư, vân vân).[36]


 


Các vùng chỉ có quyền trong các lĩnh vực liên quan chặt chẽ tới lãnh thổ của họ. Chúng gồm kinh tế, việc làm, nông nghiệp, chính sách sử dụng nước, nhà ở, công trình công cộng, năng lượng, vận tải, môi trường, quy hoạch thị trấn và nông thôn, bảo vệ thiên nhiên, tín dụng và thương mại nước ngoài. Họ giám sát các tỉnh, khu đô thị và các công ty liên cộng đồng.[36]


 


Trong nhiều lĩnh vực, mỗi cộng đồng có nhiều mức độ tiếp cận khác nhau với vấn đề riêng biệt của họ. Ví dụ, về giáo dục, quyền của các Cộng đồng không bao gồm việc đưa ra quyết định về tính chất bắt buộc cũng không được phép đặt ra các yêu cầu tối thiểu về chất lượng, đây là những vấn đề thuộc liên bang.[34] Mỗi cấp độ chính phủ có thể tham gia vào nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế gắn liền với quyền lực của nó.[37][37] The treaty-making power of the Region's and Communities' Governments is the broadest of all the Federating units of all the Federations all over the world.[38][39][40]


Những dải đất lấn biển dọc theo sông YserBỉ có chung biên giới với Pháp (620 km), Đức (167 km), Luxembourg (148 km) và Hà Lan (450 km). Tổng diện tích nước này, gồm cả diện tích mặt nước, Là 33.990 kilômét vuông; diện tích đất liền riêng là 30.528 km2. Bỉ có ba vùng địa lý chính: đồng bằng ven biển ở phía tây bắc và cao nguyên trung tâm đều thuộc về Châu thổ Anglo-Belgian; các vùng đất cao Ardennes ở phía đông nam là một phần của vành đai kiến tạo Hercynian. Châu thổ Paris chiếm một phần tư diện tích mũi cực nam nhỏ của Bỉ, Lorraine Bỉ.[41]


 


Đồng bằng ven biển chủ yếu gồm các đụn cát và đất lấn biển. Sâu hơn phía trong lục địa là vùng đất cao dần lên được tưới tiêu bởi nhiều kênh lạch, với các thung lũng màu mỡ và đồng bằng cát phía đông bắc của Campine (Kempen). Những quả đồi nhiều cây và các cao nguyên Ardennes gồ ghề và nhiều đá hơn với những hang động và các hẽm núi nhỏ, và là nơi sinh sống của hầu hết các loài sinh vật hoang dã của Bỉ nhưng ít có giá trị nông nghiệp. Kéo dài về phía tây tới Pháp, vùng này kết nối ở phía đông với Eifel tại Đức nhờ cao nguyên High Fens, tại đây Signal de Botrange là đỉnh cao nhất nước ở độ cao 694 méts (2.277 ft).[42][43]


Khí hậu kiểu đại dương ôn hoà, với lượng mưa khá lớn trong mọi mùa (Xếp hạng khí hậu Köppen: Cfb). Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 ở mức 3 °C (37,4 °F) và cao nhất vào tháng 7 ở mức 18 °C (64,4 °F). Lượng mưa trung bình tháng thay đổi trong khoảng 54 milimét (2,1 in) vào tháng 2 hay tháng 4 tới 78 mm (3,1 in) vào tháng 7.[44] Mức trung bình năm giai đoạn 2000 tới 2006 nhiệt độ tối thiểu ban ngày đạt 7 °C (44,6 °F) và tối đa 14 °C (57,2 °F) và lượng mưa hàng tháng 74 mm (2,9 in); tăng khỏng 1 °C và gần 10 so với các giá trị thông thường ở thế kỷ trước.[45]


 


Về địa lý thực vật, Bỉ nằm giữa các khu vực châu Âu Đại Tây Dương và Trung Âu của Vùng quanh Boreal bên trong Giới Boreal.[46] Theo WWF, lãnh thổ Bỉ thuộc vùng sinh thái Đại Tây Dương với rừng pha trộn.[47]


 


Vì có mật độ dân số cao, vị trí ở trung tâm Tây Âu và những nỗ lực chính trị không đủ, Bỉ phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Một báo cáo năm 2003 cho thấy lượng nước tự nhiên của Bỉ (các con sông và nước ngầm) có chất lượng thấp nhất trong số 122 quốc gia được nghiên cứu.[48] Trong Chỉ số Thực hành Môi trường thí điểm năm 2006, Bỉ đạt 75.9% về tổng thực hành môi trường và được xếp hạng thấp nhất trong số các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, dù vẫn đứng thứ 39 trên 133 nước.[49]


Bỉ có nền kinh tế toàn cầu hoá mạnh[50] và cơ sở hạ tầng vận tải của nước này được kết nối với toàn bộ châu Âu. Vị trí ở trung tâm một khu vực công nghiệp hoá cao khiến nước này trở thành quốc gia đứng hạng 15 thế giới về thương mại năm 2007.[51][52] Nền kinh tế có đặc trưng ở nguồn nhân lực có khả năng sản xuất cao, GNP cao và xuất khẩu trên đầu người cao.[53] Các mặt hàng nhập khẩu chính của Bỉ là thực phẩm, máy, kim cương thô, dầu mỏ và các sản phẩm hoá dầu, hoá chất, vải vóc và phụ kiện và hàng dệt may. Các sản phẩm xuất khẩu chính gồm ô tô, sản thực phẩm, sắt và thép, kim cương đã gia công, dệt may, nhựa, sản phẩm hoá dầu và các kim loại phi kim. Kinh tế Bỉ hướng mạnh tới dịch vụ và có bản chất kép: một nền kinh tế Flemish năng động và một nền kinh tế Walloon ỳ ạch phía sau.[7][54] Là một trong những thành viên sáng lập Liên minh châu Âu, Bỉ hỗ trợ mạnh mẽ một nền kinh tế mở và sự mở rộng các quyền lực của các định chế EU để tích hợp các nền kinh tế của các quốc gia thành viên. Từ năm 1922, Bỉ và Luxembourg đã là một thị trường duy nhất về thuế quan và tiền tệ: Liên minh Kinh tế Bỉ-Luxembourg.


 


Bỉ là quốc gia đầu tiên ở lục địa châu Âu trải qua cuộc Cách mạng công nghiệp, đầu những năm 1800.[55] Liège và Charleroi nhanh chóng phát triển công nghiệp mỏ và sản xuất thép, và nó phát triển mạnh cho tới tận giữa thế kỷ 20 tại thung lũng Sambre–Meuse, sillon industriel và biến Bỉ trở thành một trong những quốc gia công nghiệp hoá nhất thế giới từ năm 1830 tới năm 1910.[56] Tuy nhiên, tới những năm 1840 ngành công nghiệp dệt của Flanders rơi vào cuộc khủng hoảng nặng nề và vùng này gặp nạn đói trong khoảng thời gian 1846–50.


 


Sau Thế chiến II, Ghent và Antwerp trải qua một giai đoạn phát triểm mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hoá chất và hoá dầu. Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và năm 1979 khiến nền kinh tế rơi vào giảm phát; nó đặc biệt kéo dài tại Wallonia, nơi ngành công nghiệp thép đã trở nên kém cạnh tranh và sụt giảm mạnh.[57] Trong thập niên 1980 và 90, trung tâm kinh tế của đất nước tiếp tục chuyển về phía bắc và hiện tập trung tại vùng Flemish Diamond đông đúc.[58]


 


Tới cuối thập niên 1980, các chính sách kinh tế vi mô của Bỉ đã dẫn tới đỉnh cao nợ chính phủ lên tới khoảng 120% GDP. Tới năm 2006, ngân sách đã cân bằng và nợ công tương đương 90.30% GDP.[59] Năm 2005 và 2006, tăng trưởng GDP thực ở mức 1.5% và 3.0%, hơi lớn hơn mức trung bình của khu vực đồng Euro. Tỷ lệ thất nghiệp là 8.4% năm 2005 và 8.2% năm 2006 cũng gần ở mức trung bình.[60]


 


Từ năm 1832 tới năm 2002, đồng tiền tệ của Bỉ là franc Bỉ. Bỉ đã chuyển sang dùng đồng euro năm 2002, với bộ tiền xu đầu tiên được đúc năm 1999. Tuy những đồng xu euro Bỉ tiêu chuẩn được thiết kế để đưa vào lưu thông có chân dung Vua Albert II, điều này không xảy ra với các đồng xu kỷ niệm, nơi các thiết kế được lựa chọn tự do.


 


 


Các khu vực và địa điểm chính tại BỉĐầu năm 2007 gần 92% dân chúng Bỉ là công dân Bỉ, và khoảng 6% là công dân của các quốc gia thành viên khác của Liên minh châu Âu. Những sắc tộc chủ yếu là người Italia (171.918), người Pháp (125.061), người Hà Lan (116.970), người Marốc (80.579), người Tây Ban Nha (42.765), người Thổ (39.419) và người Đức (37.621).[61][62]


 


Brussels, thủ đô của Bỉ và là khu đô thị lớn nhất nước.Hầu như toàn bộ người Bỉ sống tại đô thị—97% năm 2004.[63] Mật độ dân số Bỉ là 342 trên một kilômét vuông (886 trên dặm vuông)—một trong những mức cao nhất châu Âu, sau Hà Lan và một số tiểu quốc như Monaco. Vùng có mật độ cao nhất là Flemish Diamond, được bao xung quanh bởi vành đai Antwerp–Leuven–Brussels–Ghent. Ardennes có mật độ dân số thấp nhất. Ở thời điểm năm 2006, Vùng Flemish có dân số khoảng 6.078.600, người với Antwerp (457.749), Ghent (230.951) và Bruges (117.251) các thành phố đông dân nhất; Wallonia có 3.413.978 người, Charleroi (201.373), Liège (185.574) và Namur (107.178). Brussels là nơi sinh sống của 1.018.804 người trong 19 khu đô thị của nó, hai khu có dân số trên 100.000 người.[64]


Các ngôn ngữ chính thức:


  tiếng Hà Lan (~59%)


  tiếng Pháp (~40%)


  tiếng Đức (~1%)


Bỉ có ba ngôn ngữ chính thức, xếp theo thứ tự từ lớn xuống nhỏ theo số người sử dụng là tiếng Hà Lan, tiếng Pháp và tiếng Đức. Một số thứ tiếng không chính thức của các cộng đồng nhỏ cũng được sử dụng.


 


Vì không có cuộc điều tra dân số nào, không có dữ liệu thống kê chính thức về phân bố hay sử dụng ba ngôn ngữ chính thức hay các phương ngữ của Bỉ. Tuy nhiên, nhiều tiêu chí, gồm cả ngôn ngữ của cha mẹ, giáo dục, hay vị thế ngôn ngữ thứ hai của người sinh ở nước ngoài, có thể là cơ sở ước tính. Ước tính 59%[65] dân cư Bỉ nói tiếng Hà Lan (thường được gọi là "Flemish") và tiếng Pháp được sử dụng bởi 40%. Tổng số người nói tiếng Hà Lan là 6.23 triệu, tập trung ở vùng Flanders ở phía bắc, trong khi những người nói tiếng Pháp chiếm 3.32 triệu sống tại Wallonia và ước tính 0.87 triệu người hay 85% Vùng thủ đô Brussels song ngữ nói tiếng Pháp.[66][67] Cộng đồng nói tiếng Đức gồm 73.000 người ở phía đông Vùng Walloon; khoảng 10.000 người Đức và 60.000 người Bỉ cũng là người nói tiếng Đức. Khoảng 23.000 hay hơn số người nói tiếng Đức sống tại các khu đô thị gần cộng đồng.[3][68]


Các biển báo song ngữ tại Brussels.Cả Bỉ nói tiếng Hà Lan và Bỉ nói tiếng Pháp đều có những khác biệt nhỏ về từ vụng và sắc thái ngữ nghĩa so với ngôn ngữ được sử dụng tại Hà Lan và Pháp. Nhiều người Flemish vẫn nói các phương ngữ tiếng Hà Lan trong môi trường địa phương của mình. Walloon, từng là ngôn ngữ vùng chính của Wallonia, hiện chỉ thỉnh thoảng được dùng và được hiểu, chủ yếu bởi những người già. Các phương ngữ của Wallonia, cùng với các phương ngữ Picard,[69] không được sử dụng trong đời sống công cộng.


Giáo dục là bắt buộc từ sáu tới mười tám tuổi với các công dân Bỉ, nhưng nhiều người có thể tiếp tục học tới khi 23 tuổi. Trong số các quốc gia OECD năm 2002, Bỉ có tỷ lệ dân cư trong độ tuổi 18–21 theo học sau cấp hai cao nhất, ở mức 42%.[70] Dù ước tính 98% dân số trưởng thành biết chữ, có lo ngại ngày càng tăng về nạn mù chữ chức năng.[69][71] Chương trình Đánh giá Sinh viên Quốc tế, được điều phối bởi OECD, hiện xếp hạng giáo dục Bỉ đứng hàng 19 thế giới, cao hơn nhiều so với mức độ trung bình của OECD.[72]


 


Phản ánh cơ cấu kép của hình thế chính trị Bỉ hồi thế kỷ 19, được đặc trưng hoá bởi Đảng Tự do và Đảng Cơ đốc, hệ thống giáo dục được chia thành hệ thống thế tục và tôn giáo. Hệ thống thế tục được điều khiển bởi các Cộng đồng, các tỉnh, hay các khu đô thị, trong khi hệ thống tôn giáo, chủ yếu là nhánh giáo dục Cơ đốc, được tổ chức bởi các cơ quan tôn giáo, dù vẫn được trợ cấp và do các Cộng đồng giám sát.[73]


 


Thánh đường Thánh Michael và Gudula tại BrusselsTừ khi nước này giành độc lập, Công giáo Rôma - vốn từng có vai trò quan trọng trong chính trị Bỉ - đã gặp sự đối trọng từ các phong trào tự do tư tưởng mạnh.[74] Tuy nhiên Bỉ vẫn chủ yếu là một quốc gia thế tục bởi Hiến pháp phi giáo hội quy định tự do tín ngưỡng và chính phủ nói chung tôn trọng quyền tự do theo hay không theo tôn giáo. Trong thời cầm quyền của Albert I và Baudouin, vương triều này nổi tiếng vì ủng hộ Công giáo.


 


Mang tính biểu tượng và cốt yếu, Giáo hội Công giáo Rôma vẫn có một ví thế đáng kể. Ý tưởng của Bỉ về 'các tôn giáo được công nhân'[75] đã mở ra con đường cho Hồi giáo tiếp nối và có được vị thế tương tự Do thái giáo và Tin lành. Tuy các tôn giáo nhỏ khác, như Hindu giáo, không có vị thế như vậy, Phật giáo đã thực hiện những bước đi đầu tiên tiến tới việc được công nhận vào năm 2007.[73][76][77] According to the 2001 Survey and Study of Religion,[78] khoảng 47% dân số tự coi mình là Kitô hữu, trong khi Hồi giáo đứng thứ hai với 3.5%. Một cuộc điều tra năm 2006 tại Flanders, nơi được coi là có tôn giáo mạnh hơn ở Wallonia, cho thấy 55% coi mình là người theo đạo và 36% tin rằng Thiên Chúa tạo ra thế giới.[79]


 


Theo cuộc điều tra gần đây nhất của Eurobarometer vào năm 2005,[80] 43% công dân Bỉ trả lời rằng "họ tin rằng có một Thiên Chúa", trong khi 29% trả lời rằng "họ tin rằng có một số kiểu sức mạnh tinh thần hay cuộc sống" và 27% trả lời rằng "họ không tin có bất kỳ một hình thức sức mạnh tinh thần, Thiên Chúa hay cuộc sống nào".


 


Ước tính từ 3% tới 4% dân số Bỉ là người Hồi giáo (98% Sunni) (350 000 tới 400 000 người).[81][82] Đa số tín đồ Hồi giáo người Bỉ sống tại các thành phố lớn, như Antwerp, Brussels và Charleroi. Nhóm người nhập cư lớn nhất tại Bỉ là người Marốc với 264.974 người. Người Thổ là nhóm đứng thứ ba, và nhóm Hồi giáo thứ hai, chiếm 159.336 người.[83] Cũng có một nhóm nhỏ dân cư là tín đồ Hindugiáo.[cần dẫn nguồn] Hơn nữa khoàng 10.000 tín đồ đạo Sikhs cũng sống tại Bỉ.[84]


 


Trong suốt lịch sử đất nước, Bỉ luôn có những đóng góp vào sự phát triển khoa học và công nghệ. Những nhân vật nỏi bật thời Tiền hiện đại phát triển ở Tây Âu gồm nhà bản đồ Gerardus Mercator, nhà giải phẫu Andreas Vesalius, nhà nghiên cứu thảo mộc Rembert Dodoens và nhà toán học Simon Stevin.


 


Sự phát triển nhanh chóng và dày đặc của mạng lưới đường sắt Bỉ đã khiến các công ty lớn như La Brugeoise et Nivelles (hiện là chi nhánh BN của Bombardier Transportation) phát triển những công nghệ riêng biệt và có tầm quan trọng về kinh tế như khai thác mỏ ở độ sâu lớn trong quá trình cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất và nổi tiếng trong lĩnh vực kỹ thuật mỏ.


 


Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 chứng kiến những tiến bộ quan trọng của Bỉ trong khoa học ứng dụng và khoa học thuần tuý. Nhà hoá học Ernest Solvay và kỹ sư Zenobe Gramme (École Industrielle de Liège) đã đặt tên mình cho quá trình Solvay và Gramme dynamo trong những năm 1860. Bakelite được phát triển giai đoạn 1907–1909 bởi Leo Baekeland. Georges Lemaître (Đại học Cơ đốc Leuven) được cho là người đã đề xuất lý thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ năm 1927. Ba giải Nobel Y học đã được trao cho những người Bỉ: Jules Bordet (Université Libre de Bruxelles) năm 1919, Corneille Heymans (University of Ghent) năm 1938 và Albert Claude (Université Libre de Bruxelles) cùng với Christian De Duve (Université Catholique de Louvain) năm 1974. Ilya Prigogine (Université Libre de Bruxelles) được trao giải Nobel Hoá học năm 1977.[85]


 


Đời sống văn hoá hiện nay tập trung bên trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ và nhiều rào cản đã khiến sự tồn tại của một cộng đồng văn hoá chung ít được nhắc tới.[7][86][87] Từ thập niên 1970, không có các trường đại học song ngữ trong nước ngoại trừ Viện Hàn lâm Quân sự Hoàng gia, không có truyền thông chung[88] và không có một tổ chức văn hoá hay khoa học lớn duy nhất trong cả hai cộng đồng chính. Các lực từng giữ người Bỉ liên kết với nhau -Cơ đốc giáo La Mã và sự đối lập kinh tế và chính trị với người Hà Lan- không còn mạnh.[89] Dù có chia rẽ chính trị và ngôn ngữ từng gây bất đồng trong nhiều thế kỷ, vùng nước Bỉ ngày nay đã từng là nơi phát triển của các phong trào nghệ thuật lớn có ảnh hưởng to lớn trên văn hoá và nghệ thuật châu Âu.


 


Những đóng góp vào hội hoạ và kiến trúc đặc biệt đa dạng. Nghệ thuật Mosan, Early Netherlandish,[90] Phục hưng Flemish và trường phái Baroque[91] và những ví dụ khác về kiến trúc Roman, Gothic, Phục hưng và Baroque[92] là các dấu mốc trong lịch sử nghệ thuật. Tuy nghệ thuật thế kỷ 15 tại các nước vùng thấp chủ yếu là các tranh tôn giáo của Jan van Eyck và Rogier van der Weyden, thế kỷ 16 có đặc trưng ở sự đa dạng đề tài như các tranh phong cảnh của Peter Breughel và tranh theo chủ đề tái hiện cổ điển của Lambert Lombard.[93] Dù phong cách Baroque của Peter Paul Rubens và Anthony van Dyck phát triển ở đầu thế kỷ 17 tại Nam Hà Lan,[94] sau đó nó dần suy tàn.[95][96] Trong thế kỷ 19 và 20 nhiều hoạ sĩ lãng mạn, biểu hiện và siêu thực Bỉ xuất hiện, gồm cả James Ensor, Constant Permeke, Paul Delvaux và René Magritte. Phong trào CoBrA tiên phong xuất hiện những năm 1950, trong khi nhà điêu khắc Panamarenko vẫn là một nhân vật đáng chú ý trong nghệ thuật hiện đại.[97][98] Nghệ sĩ Jan Fabre và hoạ sĩ Luc Tuymans là những nhân vật nổi tiếng trên phạm vi quốc tế trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại. Những đóng góp của Bỉ trong kiến trúc tiếp tục kéo dài tới thế kỷ 19 và 20, gồm cả tác phẩm của Victor Horta và Henry van de Velde, là những nhà sáng tạo chính của trường phái Art Nouveau (Nghệ thuật Mới).[99][100]


 


Thế kỷ 19 và 20 là thời điểm xuất hiện của những nghệ sĩ violin lớn, như Henri Vieuxtemps, Eugène Ysaÿe và Arthur Grumiaux, trong khi Adolphe Sax phát minh ra saxophone năm 1846. Nhà soạn nhạc César Franck sinh tại Liège năm 1822. Âm nhạc hiện đại tại Bỉ cũng nổi tiếng. Nghệ sĩ nhạc Jazz Toots Thielemans và ca sĩ Jacques Brel cũng có danh tiếng quốc tế. Trong nhạc rock/pop, Telex, Front 242, K's Choice, Hooverphonic, Zap Mama, Soulwax và dEUS đều nổi tiếng.[102]


 


Bỉ cũng đã tạo ra nhiều tác gia nổi tiếng, gồm nhà thơ Emile Verhaeren và các nhà tiểu thuyết Hendrik Conscience, Georges Simenon, Suzanne Lilar và Amélie Nothomb. Nhà thơ và nhà soạn kịch Maurice Maeterlinck đã đoạt Giải Nobel văn học năm 1911. The Adventures of Tintin của Hergé là truyện tranh Franco-Belgian nổi tiếng nhất, nhưng nhiều tác gia lớn khác, gồm cả Peyo (The Smurfs), André Franquin, Edgar P. Jacobs và Willy Vandersteen đã đưa ngành công nghiệp hoạt hình Bỉ lên ngang tầm với Hoa Kỳ và Nhật Bản.


 


Điện ảnh Bỉ, đã đưa một số tiểu thuyết lớn của Pháp lên màn ảnh.[103] Other Belgian directors include André Delvaux, Stijn Coninx, Luc and Jean-Pierre Dardenne; well-known actors include Jan Decleir and Marie Gillain; and successful films include Man Bites Dog and The Alzheimer Affair.[104] Trong những năm 1980, Viện Hàn lâm Nghệ thuật Hoàng gia tại Antwerp đã tạo ra nhiều người sáng lập khuynh hướng thời trang quan trọng, được gọi là Antwerp Six.[105]


 


The Gilles of Binche, in costume, wearing wax masksVăn hoá dân gain đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá Bỉ: nước này có số lượng khá lớn các đám diễu hành, đoàn cưỡi ngựa, 'ommegangs' và 'ducasses',[106] 'kermesse' và các festival địa phương khác, hầu như luôn luôn có một bối cảnh thần thoại hay tôn giáo đi kèm. Carnival of Binche với Gilles nổi tiếng của nó và 'Processional Giants and Dragons' Ath, Brussels, Dendermonde, Mechelen và Mons được UNESCO công nhận là Tuyệt tác truyền khẩu và phi vật thể của Nhân loại.[107] Các ví dụ khác là Carnival Aalst; các cuộc diễu hành mang đậm tính tôn giáo của the Holy Blood tại Bruges, Virga Jesse Basilica ở Hasselt và Hanswijk tại Mechelen; festival ngày 15 tháng 8 tại Liège; và festival Walloon tại Namur. Có nguồn gốc từ năm 1832 và được khôi phục trong những năm 1960, Gentse Feesten đã trở thành một truyền thống hiện đại. Một ngày lễ không chính thức quan trọng là Ngày Thánh Nicholas, một lễ hội cho trẻ em và, tại Liège, cho các sinh viên.[108]


Bóng đá và đua xe đạp là các môn thể thao phổ biến nhất tại Bỉ. Với năm lần giành chiến thắng tại Tour de France và nhiều giải đua xe khác, vận động viên Bỉ Eddy Merckx được xếp hạng #1 trong số những tay đua xuất sắc nhất mọi thời đại.[109] Kỷ lục đua xe tính giờ của ông (được lập năm 1972) đã tồn tại trong 12 năm. Jean-Marie Pfaff, cựu thủ môn Bỉ, được coi là một trong những người xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá.[110] Bỉ hiện đang cùng Hà Lan xin đồng đăng cai World Cup 2018.[111] Cả hai nước trước kia từng là nơi tổ chức Giải vô địch bóng đá châu Âu năm 2000. Bỉ cũng từng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu năm 1972.


 


Kim Clijsters và Justine Henin đều từng là Tay vợt của năm của Hiệp hội Tennis Nữ khi họ được xếp hạng tay vợt nữ số một. Trường đua Spa-Francorchamps cũng là nơi diễn ra vòng đua Belgian Grand Prix thuộc Giải vô địch Công thức 1 Thế giới. Tay đua người Bỉ, Jacky Ickx, đã giành tám Grands Prix và sáu 24 Hours of Le Mans và hai lần về nhì Giải vô địch Công thức 1 Thế giới. Bỉ cũng có danh tiếng về motocross; các nhà vô địch thế giới gồm Roger De Coster, Joël Robert, Georges Jobé, Eric Geboers, Joël Smets và Stefan Everts.


 


Các sự kiện thể thao được tổ chức hàng năm tại Bỉ gồm cuộc thi đấu điền kinh kỷ niệm Memorial Van Damme, vòng đua Belgian Grand Prix Công thức 1, và một số cuộc đua xe đạp cổ điển như Ronde van Vlaanderen và Liège-Bastogne-Liège. Olympic mùa hè năm 1920 đã được tổ chức tại Antwerp, Bỉ.


 


 


Brussels waffles, commonly known as Belgian waffles outside of Belgium. Many different types of waffle are popular in Belgium.[sửa] Ẩm thựcBài chi tiết: Ẩm thực Bỉ


Nhiều nhà hàng được đánh giá cao của Bỉ xuất hiện trong hầu hết các cuốn hướng dẫn ẩm thực danh tiếng, như Michelin Guide.[112] Bỉ nổi tiếng về bánh quế và khoai tây chiên (french fries). Trái ngược với cái tên của nó (french là của Pháp), khoai tây chiên cũng có nguồn gốc từ Bỉ. Cái tên "french fries" thực tế miêu tả cách cắt khoai tây. Động từ "french" có nghĩa là cắt thành miếng nhỏ. Các món đặc sản quốc gia là "thịt nướng và khoai tây chiên với salad", và "trai với khoai tây chiên".[113][114][115]


 


Các nhãn hiệu chocolate và kẹo hạt dẻ của Bỉ, như Callebaut, Côte d'Or, Neuhaus, Leonidas, Guylian, Galler và Godiva, đều nổi tiếng thế giới và được bán rộng rãi.


 


Bỉ sản xuất hơn 500 loại bia. Bia Trappist của Tu viện Westvleteren luôn được xếp hạng là loại bia ngon nhất thế giới.[116] Công ty bia lớn nhất thế giới theo sản lượng là Anheuser-Busch InBev, có trụ sở tại Leuven.[117]


 


Du lịch


Chỉ là một nước nhỏ với số dân 10 triệu người, nhưng vương quốc Bỉ lại là quốc gia chiếm vị trí quan trọng về kinh tế trong hệ thống các quốc gia khối châu Âu. Với những cảnh quan tuyệt đẹp và không khí trong lành, xứ sở Chocolate đã tạo ra sức hấp dẫn lạ thường cho những du khách đến tham quan nơi đây. Nằm ở Tây Âu, vùng Đông Nam vương quốc Bỉ là bình nguyên với rừng Adennes có đỉnh Boteranger cao 649 mét. Các đồng bằng đất vàng màu mỡ ở trung tâm là khu vực nông nghiệp. Ven biển có đồng bằng Campin và Flander. Phía sau các đụn cát duyên hải là các diện tích mới được khai khẩn từ các đầm lầy ven biển.


Bỉ có nhiều khí hậu khác nhau từ ngày này qua ngày kia, nhưng nhìn chung khá gần giống với khí hậu ở miền quê. Lượng mưa hằng nằm nhẹ và khá là đều đặn. Mùa hè thời tiết khá là dễ chịu với nhiệt độ trung bình ban ngày là dưới 20 độ C và có ánh nắng ấm áp. Mùa đông hơi khắc nghiệt. Vùng biển thường đóng băng và có mây mùa, vì vậy nếu đến Bỉ vào mùa này thì tốt hơn hết là bạn nên tránh xa vùng biển.


 


Để tránh thời tiết ẩm ướt nhiều kèm theo cái lạnh giá buốt thì bạn nên sắp xếp đến Bỉ vào tháng 5 đến tháng 9 (khỏang cuối mùa xuân và đầu mùa hè). Điều bất lợi khi mà bạn đi vào thời gian này đó là khách du lịch khá đông đúc, bạn sẽ khó mà tìm được phòng ốc với đầy đủ tiện nghi mà mình muốn. Nhất là khi bạn đi đến Bruges thì vấn đề này lại càng khó giải quyết. Brussels thì khá vắng vẻ hơn vào suốt mùa hè (giữa tháng 7 đến giữa tháng 9), nhiều khách sạn cũng giảm giá phòng nữa.


 


Vào tháng 4 thì thời tiết hay thay đổi nhiều nhất. Khi bạn vừa ngồi uống cà phê trên sân thượng vừa đợi bình minh ló dạng thì chỉ 1 phút sau khi mặt trời mọc, bạn sẽ phải nhanh chóng đi tìm chỗ trú nắng ngay. Không biết nên dùng từ ngữ nào cho đúng để nói về mùa đông êm diệu từ khỏang tháng 11 đến tháng 3. Ban ngày trời khá u ám và ẩm ướt, đôi khi có tuyết rơi nhẹ nhẹ. Do đó có nhiều du khách cũng đến đây vào thời gian này. Suốt mùa hè có diễn ra hầu hết các sự kiện. Ngòai thời gian này ra còn có vài lễ hội lớn khác nữa, điểm nhấn đó là ngày hội ăn chay.


 


Đến Bỉ, nhiều du khách sẽ ghé thăm Brussel. Đây là quê hương của tổ chức NATO và liên minh Châu Âu. Tuy thành phố này không được ưa chuộng nhiều như những nơi khác nhưng với lối kiến trúc của thành phố này chắc chắn sẽ làm cho du khách chóang ngợp và thích thú. Tiêu biểu nhất là Quảng trường Grand với lối kiến trúc Gothic, thánh đường Gudule và Michael cùng với công viên Mont des Art. Một số nơi khác mà du khách có thể ghé thăm đó là quảng trường Royale được xây từ năm 1774 đến năm 1780 với lối kiến trúc của vua Louis đệ XVI, hay bảo tàng nghệ thuật cổ truyền, bảo tàng nghệ thuật hiện đại. Đặc biệt bức tượng chú bé đang tè Manneken-Pis vốn nổi tiếng là biểu tượng của Bỉ là điểm tham quan mà du khách không thể bỏ lỡ. Có rất nhiều dị bản về "lý lịch" chú bé. Người thì cho rằng đây là thiên thần bé nhỏ đã dùng nước tiểu dập tắt mọi đám cháy lớn cứu nguy cho cư dân toàn thành phố. Truyền thuyết khác lại nói đây là một chú bé dũng cảm đã cứu Brussels khỏi bị thiêu hủy bởi quân xâm lược Tây Ban Nha trước khi rút đi. Truyền thuyết cũng kể chú bé huyền thoại này đã nhiều lần bị các đạo quân xâm lược cướp đi nhưng lại luôn tìm được đường về với thành phố quê hương.


 


Đặc biệt, bạn còn có thể tham quan các thắng cảnh nổi tiếng của tất cả các nước châu Âu trong vòng nửa ngày. Từ trung tâm Brussel, bạn chỉ mất 15 đến 20 phút bằng tàu hay xe buýt để đến khu Heyseil, nằm phía Bắc Brussel. Ở đây, bạn sẽ có dịp chiêm ngưỡng tất cả thủ đô của các nước châu Âu. Đó là công viên Mini-Europe, một châu Âu thu nhỏ với những công trình kiến trúc nổi tiếng khắp thế giới như Tháp Eiffel, Tháp nghiêng Pisa, Đồng hồ Big Ben… tại thủ đô châu Âu này. đây, bạn có thể cảm nhận như bạn đang đi du lịch qua từng nước. Đó là Paris, với những hình công trình đã quen thuộc như Tháp Eiffel, Cổng chào chiến thắng (Arc de Triomphe) trên đại lộ Charle De Gaulle, Nhà thờ Sacre-Coeur trên đồi Montmartre và Lâu đài Chenonceaux ở giữa dòng Cher. Mọi thứ đều được tái hiện hoàn hảo, kể cả sông Cher hay đồi Montmarte. Còn biết bao những mô hình tuyệt đẹp, từ những nước nhỏ hơn như Aó, Séc, Đan Mạch, Hà Lan, Lithuania, Litvia…Mỗi khi bạn bước chân vào một quốc gia nào đó, bạn sẽ nghe quốc ca của nước đó cất lên. Một không gian hoàn hảo! Bên cạnh những công trình kiến trúc, ở đây còn tái hiện một châu Âu với các thành tựu khoa học kỹ thuật.


 


Brugge được xem là một trong những thành phố du lịch hấp dẫn nhất, tuyệt vời nhất của Vương quốc Bỉ và của cả châu Âu với cái tên gọi rất gợi cảm “Venise phương bắc”. Tại đây, du khách sẽ tìm lại được những ngôi nhà cổ xưa từ thế kỷ 13, những con đường nhỏ lát đá dành cho những chiếc xe thổ mộ từ thời vang bóng, những cối xay gió cùng với những con kênh xinh đẹp. Tất cả những hình ảnh đó sẽ tạo nên một bức tranh cổ xưa đưa bạn về lại với quá khứ, về lại với những năm tháng thời kỳ hoàng kim nhất của lục địa châu Âu già cỗi. Nổi tiếng ở đây là Nhà Thờ Đức Bà với tháp chuông cao nhất châu Âu (120m) được xây bằng đá năm 1089, Tháp chuông Le Beffroi nổi tiếng lớn nhất nhất châu Âu, được xây dựng trong khoảng 1248-1300, cao 83 mét với 366 bậc thang gồm 47 chuông lớn nặng gần 27 tấn.


 


Nếu ai đó đến Bỉ không muốn dừng ở Brugge – một đô thị quá thay đổi ít còn nét riêng – thì hãy ghé Ghent. Đây là thành phố lớn nhất vùng đông Flanders với rất nhiều di tích lịch sử, cảnh quan kiến trúc cổ và nét tinh tế ẩm thực nằm hài hòa với công trình hiện đại. Đó là chưa kể sự đóng góp của hai con sông và mạng kênh chằng chịt tỏa ra 70 km bán kính từ khu cảng biển khiến bức tranh toàn cảnh Ghent đầy đủ chất sơn dầu táo bạo lẫn nét thủy mặc nhẹ nhàng. Những quảng trường có từ thời Trung cổ dành cho người đi bộ ở đây vẫn tĩnh lặng hơn bất kỳ nơi nào khác, đến nỗi một tiếng bồ câu gù hay tiếng ngựa gỗ trẻ đong đưa vẫn nghe rõ trong không gian êm ả. Số lượng 45.000 sinh viên ở đây càng làm đậm đà thêm không khí học thuật giai đoạn giả kim những ngày nào. Nhiều người đến Ghent để được ngắm tàng thư nghệ thuật dưới hầm thánh đường St Bavo.


 


Đến để bấm phím đàn organ vĩ đại bằng gỗ sồi ở thượng lâu nhà nguyện cho âm thanh vang vọng mái vòm. Cung điện các tử tước xây năm 1180 thu hút khách tham quan nhờ bộ sưu tập vũ khí phong phú, kho dụng cụ gia hình rợn người và cả những dàn máy chém khét tiếng của một nước Bỉ cổ xưa. Kẻ nhàn du sẽ cố trèo 444 bậc tam cấp lên đỉnh tháp đồng hồ Belfry cao 95m để được ngắm toàn cảnh trải dài của thành phố xa tít tắp. Ai đến Ghent cũng muốn nghe tiếng chuông đồng hồ đặc biệt gõ 6 tiếng vào lúc 5 giờ 30, một sai sót cố ý theo truyền thống mà chỉ ở Ghent mới có. Hoa của người Viking Hà Lan đã là xứ hoa của thế giới nhưng hoa của Ghent mang những ý nghĩa riêng. Cứ 5 năm một lần, mọi hang cùng ngõ hẻm ở đây sặc sỡ sắc màu hoa với Liên hoan hoa quốc tế.


 


Sân bay quốc tế lớn nhất ở Bỉ đó là sân bay Brussels. Tuy nhiên hiện nay chưa có đường bay thẳng từ Việt Nam đến sân bay này. Vì vậy bạn phải đi quá cảnh sang nhiều nước mới có thể tới BỈ được.


 


Thường sẽ bay theo các hãng Vietnam Airlines (học bổng nhà nước), ThaiAirways (BTC) hoặc Malaysian Airline (VLIR).  Đi theo Vietnam Airline sẽ bay sang sân bay Charle De Gaule ở Paris rồi đi tàu Thalys sang Bỉ. Thai Airways thì bay từ Hà Nội qua Bangkok – Frankfurt – Brussels. Còn Malaysian Airline thì Kualalampur – Zurich – Brussels. Nói chung là chỉ có đi Vietnam Airline sướng nhất nhưng giá đắt nhất, còn bay các hãng kia đều phả quá cảnh nhiều và mệt mỏi.


 


Đi qua Paris bạn sẽ làm thủ tục nhập cảnh vào EU ở Paris, qua Franfurt thì làm thủ tục nhập cảnh ở Frankfurt. Còn nếu bay qua Zurich thì bạn sẽ làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay Zeuvantee (Brussels).


Lưu ý khi quá cảnh ở các sân bay đông như Paris hay Frankfurt: Bạn nên lấy vé có thời gian quá cảnh từ 2 tiếng trở lên do việc làm thủ tục nhập cảnh và tìm địa điểm tiếp tục đi có thể mất nhiều thời gian. Nếu bạn nhận được vé có thời gian quá cảnh quá ngắn (khoảng 1 tiếng) nên xin đổi lại.


 


Việc đi lại ở Bỉ khá là dễ và rẻ chứ không như những nơi khác : mắc, khó đặt trước chỗ. Mặc dù xe búyt và xe ô tô cho thuê cũng khá là thuận tiện nhưng các phương tiện giao thông nội thành như hệ thống xe điện lại có ưu thế nhiều hơn. Phương tiện chạy nhanh nhất đó là xe lửa chạy nối liền giữa các thành phố. Nếu đi những chặng đường dài bằng xe búyt sẽ khiến cho du khách cảm thấy mệt mỏi. Ở các thành phố Brussels và Antwerp có một hệ thống phương tiện giao thông công cộng khá là tốt, bao gồm xe điện và tàu điện Metro. Taxi thì có mặt ở ngòai các trạm ga xe điện, nhưng chạy tính theo kilomet và khá mắc. Ngòai ra đi lại bằng xe đạp cũng khá là phổ biến ở miền Bắc. Nơi này có nhiều làn đường chỉ dành riêng cho xe đạp, vì vậy mà làm một chuyến du ngọan bằng xe đạp cũng là một lựa cho tuyệt vời. Bạn có thể thuê xe đạp tại những nhà ga xe điện. Ở Bỉ, bạn còn có thể thuê tàu để tự do khám phá những dòng sông và kênh rạch ở đây.


 


Antwerp là địa điểm chính của Bỉ nằm trong vùng Flanders. Sự thân thiện nồng nhiệt của người dân Antwerp và thiên hướng bẩm sinh của họ trong việc ăn ngon, mặc đẹp, cùng với cuộc sống nhộn nhịp bên ngoài biến nơi đây thành địa điểm thư giãn và đáng để tham quan.


 


Nổi tiếng vì là “thành phố kim cương lớn nhất thế giới” – hơn 70% kim cương được buôn bán ở Antwerp. Chợ kim cương là khu vực trung tâm kinh tế của Bỉ. Hơn 85% kim cương thô, 50% kim cương cắt và 40% kim cương công nghiệp trên thế giới được giao dịch ở thành phố này.


 


Trong thế kỷ 16, Antwerp là một trong những trung tâm tài chính quan trọng của thế giới, thương nhân từ khắp nơi ở Châu Âu và châu Á đến đây mua bán hàng hóa. Sau khi bị Tây Ban Nha bao vây năm 1585, vai trò trung tâm kinh tế bị Amsterdam giành lấy. Tuy nhiên, kể từ thế kỷ 19 và đặc biệt là thế kỷ 20, Antwerp đã lấy lại vai trò quan trọng trong kinh tế của mình. Đây là thành phố lớn thứ 2 tại Bỉ sau Brussels, có cảng chính của châu Âu.


 


Là thành phố giàu tiềm năng lịch sử lâu đời, Antwerp có nhiều lâu đài lịch sử thú vị từ nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, cùng với vô số bảo tàng tuyệt đẹp. Hiện nay, nơi đây là thành phố thời thượng, thu hút nhiều nghệ sĩ nước ngoài đến thăm viếng. Điều này phản chiếu qua các cửa hàng và quán rượu thời thượng trong thành phố. Antwerp là thành phố có nhiều bộ mặt. Có thể đây không phải là thành phố được bảo tồn như một di tích lịch sử của thời Trung Cổ so với Bruges hay Ghent nhưng đây là thành phố năng động, hòa quyện sự cổ điển và hiện đại tạo nên nét rất riêng.


 


Để tránh thời tiết ẩm ướt nhiều kèm theo cái lạnh giá buốt thì bạn nên sắp xếp đến Antwerp vào tháng 5 đến tháng 9 (khỏang cuối mùa xuân và đầu mùa hè). Điều bất lợi khi mà bạn đi vào thời gian này đó là khách du lịch khá đông đúc, bạn sẽ khó mà tìm được phòng ốc với đầy đủ tiện nghi mà mình muốn.


 


Vào tháng 4 thì thời tiết hay thay đổi nhiều nhất. Khi bạn vừa ngồi uống cà phê trên sân thượng vừa đợi bình minh ló dạng thì chỉ 1 phút sau khi mặt trời mọc, bạn sẽ phải nhanh chóng đi tìm chỗ trú nắng ngay. Không biết nên dùng từ ngữ nào cho đúng để nói về mùa đông êm diệu từ khỏang tháng 11 đến tháng 3. Ban ngày trời khá u ám và ẩm ướt, đôi khi có tuyết rơi nhẹ nhẹ. Do đó có nhiều du khách cũng đến đây vào thời gian này. Suốt mùa hè có diễn ra hầu hết các sự kiện. Ngòai thời gian này ra còn có vài lễ hội lớn khác nữa, điểm nhấn đó là ngày hội ăn chay.


 


"Ông già phun nước" của Vương Quốc Bỉ 


Châu Âu thu nhỏ, tượng đài "Chú bé đứng tè" và những cối xay gió hiền hòa, vương quốc Bỉ vẫn còn nhiều điều để bạn khám phá.


Brussels - Thủ đô của Vương quốc Bỉ, đồng thời cũng là thủ đô của Liên Hiệp Châu Âu - là một trong những thành phố có từ nhiều thế kỷ trước với nét kiến trúc nghệ thuật độc đáo, ghi dấu một nền văn mình cực thịnh còn tồn tại. Nơi đây có đặt trụ sở của NATO, Quốc hội, Quảng trường lớn nổi tiếng Grand Place và khu trung tâm đẹp nhất Châu Âu.


 


Ấn tượng đầu tiên của du khách khi đặt chân đến Brussels là cây xanh và hoa tràn ngập khắp nơi tạo cho du khách cảm giác dễ chịu và thoải mái. Những rừng cây xanh lớn ở Brussels giúp điều hòa thời tiết cho đô thị, cũng là nơi người dân xứ "Socola" thường đến cắm trại và nghỉ ngơi vào cuối tuần. Cây rừng phủ kín trên đồi, tràn xuống các thung lũng và xen cả vào trong phố.


 


Trước nhà ga trung tâm lúc nào cũng có những tuyến xe buýt mang biển hiệu "Visit Brussels Line". Với giá cước khoảng 20 euro, du khách sẽ tham quan được hầu hết các cảnh đẹp chính ở Brussels. Xe buýt hai tầng, có trang bị ống nghe cá nhân ở các ghế ngồi, giới thiệu với du khách bằng 6 ngôn ngữ (Pháp, Hà Lan, Đức, Anh, Tây Ban Nha và Bỉ) những công trình nổi tiếng của thủ đô Brussels giúp cho du khách mới đến làm quen với thành phố quyến rũ này.


 


Ở Brussels còn có "châu Âu thu nhỏ" trong công viên Brussels với mô hình khoảng 300 danh lam thắng cảnh tiêu biểu của hơn 10 nước châu Âu. Trong công viên rộng 250.000m2 này tập hợp khá đầy đủ các thành tựu lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của các nước trong cộng đồng châu Âu, từ tòa công sở hiện đại của Ủy ban châu Âu đến các cung điện lộng lẫy, đền thờ nguy nga, các cối xay gió hiền hòa hay tu viện trang nghiêm ...


Nổi bật giữa lòng Brussels là Quảng trường Lớn (Grand Place) với diện tích 20.000m2 xây vào thế kỷ XI với nền lát đá hoa cương. Quảng trường này đã được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Văn hóa nhân loại và từng được Đại văn hòa Victor Hugo ca tụng là "quảng trường đẹp nhất thế giới". Quảng trường này cũng thuộc top di sản được bảo tồn tốt nhất châu Âu bởi nó hoàn toàn lành lặn khi mà cả nước Bỉ đã từng là chiến trường chính của châu Âu. Có thể nói Grand Place chính là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Bỉ và các nước khác trong khối EU.


 


Bao quanh quảng trường là những tòa nhà tráng lệ xây dựng từ thế kỉ XV, tạo nên một khung cảnh nguy nga. Xưa kia, nơi đây quy tụ các phường buôn và những thợ thủ công từ khắp nơi về kiếm sống. Phía Nam quảng trường là Tòa thị chính, công trình kiến trúc cổ Gothic điển hình được khởi công xây dựng từ năm 1402, với điểm đặc biệt là cổng chính không nằm ở ngay giữa như thông thường mà hơi bị lệch sang bên. Đối diện Tòa thị chính là tòa nhà trước kia mang tên Cung điện Hoàng đế (Kings House) mặc dù xưa nay chưa từng có nhà vua nào ngự nơi này. Từ thế kỷ 16, tòa nhà này là Trung tâm Hành chính còn giờ đây là Bảo tàng thành phố. Phía Đông quảng trường là khách sạn Thiên nga trắng nổi tiếng. Đây là nơi mà 150 năm trước Mác và Ănghen từng ở trong suốt 3 năm lưu lại Bỉ và đã hoàn thành tác phẩm lớn "Tuyên ngôn Cộng sản".


 


Atomium là tòa cao ốc thiết kế theo mô hình cấu trúc nguyên tử, xây dựng cách dây đúng 50 năm, cao 103m, do kiến trúc sư André Waterkeynn phác họa, được ví như tháp Eiffel của Brussels.


 


Công trình kỷ niệm Atomium có hình dạng là 9 khối hình quả cầu, kết cấu giống như tinh thể, rỗng bên trong, mỗi quả có đường kính 18m, các quả cầu ở xung quanh kết nối với mặt cầu ở trung tâm bằng các đường ống hình trụ có cầu thang dành cho người đi bộ ở trong dài 35m. Bên trong 9 quả cầu kim loại của Atomium có các hoạt động về bảo tàng, nhà hàng ... Khi đứng trên đây, du khách sẽ nhìn được tổng thể cảnh quan của Brussels. Vé vào xem bên trong quả cầu này là 9 euro (hơn 200.000 VNDD) kể từ tháng 3/2006, Bỉ đã chính thức cho lưu hành tiền kim loại mệnh giá 2 euro mới, một mặt của đồng tiền này có hình Atomium.


Dù chỉ được xem là biểu tượng không chính thức của Brussels nhưng bức tượng Manneken Pis "chú bé đứng tè" cũng là một trong những tượng đài nổi tiếng châu Âu. Khác với nhiều bức tượng nổi tiếng khác, bức tượng trứ danh này chỉ cao 60cm, đặt trên đài đá hoa cương cao 2m ngoài trời, với mái tóc xoăn, chiếc mũi hếch. Đây là tác phẩm của bậc thầy điêu khắc Jerome Duquesnoy được hoàn thành vào năm 1619, đến năm 1817 thì được thay bằng bức tượng đồng.


 


Dù đã có rất nhiều dị bản về "lý lịch" chú bé nhưng nghe có vẻ hay nhất là câu chuyện liên quan đến tinh thần ái quốc. Chuyện kể rằng khi quân Tây Ban Nha rút khỏi Brussels, đã phóng hỏa đốt thành phố và một chú bé, không biết ngây thơ hay thơ ngây nhưng dám đứng giữa cơn hỏa hoạn làm "lính cứu hỏa" bằng cách... tè, cùng hy vọng cứu thành phố khỏi bị thiêu rụi.


 


Mỗi năm, các nhân vật quan trọng và nhiều chính khách khi đến Brussels đều tặng những bộ y phục đẹp cho chú diện vào những dịp lễ trọng đại. Tính đến năm 2003, gia tài của chú đã lên đến con số 740 bộ trang phục và được đưa vào trưng bày trong Bảo tàng thành phố. Đến đây vào mùa Giáng sinh, bạn sẽ thấy chú được mặc bộ đồ ông già Tuyết thật đáng yêu. Bức tượng này cũng là mặt hàng lưu niệm được du khách ưa chuộng nhất với rất nhiều kích cỡ từ lớn đến nhỏ


 


Những nét văn hóa thú vị


Nếu các nước khác gây bất ngờ cho du khách bằng những phong tục độc đáo, đầy màu sắc thì nước Bỉ sẽ mang đến cho bạn nhiều điều thú vị nho nhỏ từ những nét văn hóa rất bình dị. Món khoai tây chiên fritkots lừng danh và niềm đam mê truyện tranh đặc biệt của dân Bỉ sẽ khiến không ít du khách cảm thấy nước Bỉ thật hồn nhiên và tươi trẻ.


 


Dù chỉ là khoai tây chiên nhưng fritkots là loại khoai bintje đặc biệt của Bỉ và được chiên bằng kỹ thuật "bí truyền" khiến ai ăn cũng "nhớ đời"! Và thương hiệu fritkots trứ danh nhất ở Brussels là Nhà Antoine đã hơn 4 đời làm món này. Ngoài Nhà Antoine, hàng tháng chính quyền Brussels còn có giải thưởng "Bàn tay vàng chiên fritkots" để khuyến khích các đầu bếp luyện tay nghề với món ăn truyền thống nổi tiếng này. Toàn nước Bỉ có khoảng 8.000 nhà hàng chuyện làm món fritkots.


 


Trên đường phố Brussels, ngoài món fritkots được bán khắp nơi, du khách còn gặp rất nhiều truyện tranh ở các nhà sách lớn nhỏ. Ở ngay thủ đô Brussels cũng có một nhà bảo tàng truyện tranh riêng biệt (Musée de la BD), lưu trữ gần như tất cả các truyện tranh nổi tiếng thế giới.


 


Dân Bỉ thích đọc truyện tranh một cách lạ lùng. Đi trên đường phố Brussels, thỉnh thoảng bạn sẽ bắt gặp các hình nộm khổng lồ dựng ven đường: Đó là những nhân vật truyện tranh mà dân Brussels ưa thích như Tintin, Gaston, Lucky Luke, chó Snoopy ... Rất nhiều người thích đứng cạnh các hình nộm này để chụp ảnh lưu niệm.


Quay lại với các "ông lớn" công trình - Maison Du Roi đã từng là cửa hàng bánh mỳ và tòa án pháp luật nhưng chưa bao giờ là một cung điện hoàng gia như ý nghĩa cái tên của nó


 


Nhà hát kịch Opera Bỉ lại mang chút hơi hướng của đền thờ Parthenon của Hy Lạp


 


Cối xay gió không nằm trong thành phố nhưng lại có rất nhiều ở các vùng nông thôn


 


Wikipedia


Vzone

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thanh Phương - Cô gái Việt kể lại giây phút rợn người khi chứng kiến tục thiên táng của người Tạng - Tư liệu sưu tầm 20.10.2017
Ải Chi Lăng - Nhiều tác giả 20.10.2017
Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc: Tầm nhìn 30 năm - Tư liệu 18.10.2017
Thác 7 tầng - địa danh kỳ thú còn hoang sơ ở Nghệ An - Nhiều tác giả 18.10.2017
Liên Xô chi phối Đảng Cộng sản Mỹ như thế nào? - Harvey Klehr 17.10.2017
Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế? - Nguyễn Hải Hoành 13.10.2017
Về bài thơ sám hối của Vua Trần Minh Tông - Hồ Tấn Nguyên Minh 13.10.2017
Trang điểm cung đình - Trịnh Bách 13.10.2017
Về cuộc ‘Thảm sát huyện Đạo’ bị che dấu ở Trung Quốc - Tư liệu 11.10.2017
Nuôi biển Công nghiệp ở Việt Nam - Thời cơ và thách thức - Nguyễn Hữu Dũng 09.10.2017
xem thêm »