tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19350932
26.05.2012
Phan Quang
Quán nghệ sĩ ở Paris

Paris có nhiều “quán nghệ sĩ”. Đây là một nét đặc trưng của thủ đô nước Pháp, nảy sinh từ một nền tảng văn hóa dày dặn, tồn tại và phát triển qua hàng thế kỷ bất chấp chiến tranh, biến động xã hội và đổi thay chính thể. Các “quán nghệ sĩ” - người Pháp gọi là quán cà phê văn học - thường là những nơi bán cà phê đồng thời bán cả rượu và thức ăn, được các văn nhân, nghệ sĩ và trí thức thượng lưu lui tới và trở thành những trung tâm văn hóa thật sự. Lịch sử các quán nghệ sĩ ở Paris gắn liền với những tên tuổi lớn của văn học, nghệ thuật Pháp và quốc tế vài trăm năm lại đây. Số nổi bật trong họ đã trở thành những danh nhân văn hóa đích thực.


La Closerie des Lilas tạm dịch là “Trại hoa tử đinh hương” nằm ở góc đại lộ Montparnasse và đại lộ Đài thiên văn là một trong những quán nghệ sĩ nổi tiếng ấy.


*


*   *


Lần đầu tiên tôi đặt chân tới Paris, mấy ông bạn nhà báo, nhà văn kéo đi uống cà phê. Chui qua cái cổng nhỏ tết bằng cây lá, đi ngang một rẻo đất vừa là vườn vừa là sân man mác mùi hương hoa tử đinh, chúng tôi bước vào căn phòng dài và hẹp chen chúc hầu như kín người. Không còn cái se lạnh đầu xuân và các hàng cây nở rộ những chùm hoa trắng dịu hoặc phơn phớt hoa cà khiêm tốn nép sát vào nhau ở ngoài trời. Trong phòng không khí nồng nàn hương cà phê, rượu thơm và xì gà hảo hạng.


Khó khăn lắm tôi mới theo kịp người phục vụ tới được chiếc bàn đã giữ chỗ. Chiếc bàn vuông nhỏ được kéo ra, cho khách lách vào dãy ghế mềm kê sát vách, rồi đẩy vào ngay để khỏi vướng lối đi. Người bạn lịch sự đưa tay mời qua cái cười nụ:


- Mời anh ngồi vào chỗ của Lênin kia.


Vâng, đúng là ở góc chiếc bàn, ngay trước mặt tôi, có tấm biển đồng đỏ bằng ngón tay khắc mấy chữ V.I.Lénine. Đối diện với LéninePaul Fort, một nhà thơ rất nổi tiếng của nước Pháp thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Người ta lưu truyền rằng hai vị nhiều lần chơi cờ với nhau ở chiếc bàn này. Góc bàn bên trái là Apollinaire. Trước mặt nhà thơ này là một nhà văn - lâu quá rồi tôi không nhớ rõ tên. Tôi liếc sang chiếc bàn bên cạnh, thấy có RimbaudVerlaine, “hai chàng thi sĩ choáng hơi men” mà chàng Xuân Diệu đa tình của chúng ta từng ca ngợi.


- Những ngày sống ở Paris, thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, không chiều nào Ernest Hemingway không đến đây - bạn tôi nói. Chắc anh đã biết, trong tác phẩm Paris là một ngày hội và nhất là trong Mặt trời vẫn mọc, Hemingway mô tả cuộc sống nồng nhiệt trong các quán cà phê parisiens, đấy chính là bầu không khí ở Closerie des Lilas này. Nhưng nhà văn không có thói quen uống và viết ở bàn. Chỗ ưa thích của ông là chiếc ghế vắt vẻo trước quầy rượu kia, cho nên tên của ông được gắn ở đó. Người ta bảo Hemingway viết Paris là một ngày hội(*) ở quầy rượu ấy. Sở thích của ông là rượu Bourbon, một loại Whisky người Bắc Mỹ quen dùng.


Phải hồi lâu, tôi mới quen dần bầu không khí ồn ào để có thể bình tĩnh ngắm nghía căn phòng. Đồ vật gây ấn tượng nhất ở đây là chiếc quầy đồ sộ đóng bằng gỗ gụ thứ thiệt, chính gốc Cuba, và các tủ rượu san sát chai lọ đủ kiểu, đủ màu cũng được thửa từ gỗ gụ bên kia Đại Tây Dương, lâu ngày ánh lên một nước nâu hồng thật sang trọng. Còn dãy ghế mềm bọc da đỏ sẫm cũng như các ghế tựa mảnh khảnh và bé bỏng (để tiết kiệm không gian) và các đồ đạc khác thì trông cũng thường thường thôi.


Cái đặc biệt quý hiếm là cái “thần” toát lên từ những đồ vật này, từ bầu không khí luôn luôn náo nhiệt và thân tình kia, mà ngày nay chúng ta gọi theo thời thượng là “văn hóa phi vật thể”. Cái thần ấy được lưu lại bàng bạc mơ hồ từ cuộc sống tinh thần của văn nghệ sĩ gắn liền với sáng tác của họ, từ các trường này phái nọ do họ sáng tạo nên rồi bị chính họ phản bác, đả kích, hạ bệ để đề xướng nên trường phái mới... Có những dòng văn học, nghệ thuật đã và sẽ còn lưu truyền với lịch sử như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực, phái ấn tượng, phái tự nhiên... song cũng có những thứ quái dị rồi sẽ và trên thực tế đã tan biến đi cùng với những trận mưa cuối thu lạnh lẽo. Nhân dịp kỷ niệm một trăm năm mươi năm ngày thành lập Trại hoa, nhật báo Libération (Giải phóng) số ra ngày 7-5-1997 viết: “Ở Closerie này đã ra đời các trường phái tượng trưng, trường phái huy hoàng do Saint - Pol Roux đề xướng và rồi bị chủ nghĩa siêu thực đẩy vào quên lãng; đã hình thành và khích bác lẫn nhau giữa phái siêu thực và phái suy đồi; đã xuất hiện dòng dandysme và phong trào các hydropathes (?), chủ nghĩa paroxisme và chủ nghĩa magisme (?!)...”.


Từng uống cà phê hoặc nhấm nháp ly rượu ở Closerie des Lilas có bao đấng tài danh của văn học, nghệ thuật Pháp. Văn sĩ Émile Zola thường kéo bạn mình là họa sĩ Paul Cézane đến đây. Hai anh em Goncourt, những người sẽ sáng lập nên Viện hàn lâm văn học mang tên họ, các nhà thơ nổi tiếng: Leconte de l’Isle, Théophile Gautier và Stéphane Mallarmé, Rimbaud cùng Verlaine, và Apollinaire và Aragon... Nhà thơ Aragon thời trẻ đã từng trèo lên cửa sổ tầng hai Trại hoa này và hò hét đến khản cả giọng Abdel Krim muôn năm! ngay giữa lúc Pháp đang cùng Tây Ban Nha tiến hành cuộc chiến tranh đè bẹp phong trào dân tộc do nhà yêu nước người Marốc ấy lãnh đạo. Trong khi đó, nhà thơ Paul Fort đề xướng và chủ trì sinh hoạt Những tối thứ ba của thi ca... Các danh họa Picasso, Gaugin là khách hàng quen thuộc của Closerie. Trong số danh nhân nước ngoài, bên cạnh Hemingway có thể kể nhà viết kịch Mỹ Arthur Miller, tác giả Cái chết của người chào hàng, nhà văn gốc Mỹ La tinh Julien Green về sau vào quốc tịch Pháp, và nhiều người nữa.


Giới chính khách cũng thích lui tới khu Trại hoa này. Một phần vì bản thân họ cũng là văn nhân, trí thức, phần khác còn để tự giới thiệu với công chúng - chơi thân với những người nổi tiếng thì mình thêm cơ may nổi tiếng, và trước hết là có thể hốt thêm một số phiếu bầu của cử tri các kỳ tuyển cử. Anh bạn tôi cho biết, nhà ông Michel Rocard một nhân vật lớn của Đảng Xã hội cũng gần đây thôi, cho nên hồi làm Thủ tướng, bận rộn là thế mà thỉnh thoảng ông vẫn tạt sang đây uống rượu khuya với bạn bè. Làm khổ cánh mật vụ phải cảnh giới vòng trong vòng ngoài.


Để kỷ niệm những người nổi tiếng - và chủ yếu là để tự tôn vinh - nhà hàng dành cho mỗi danh nhân một mẩu đồng khắc danh tính của họ và gắn lên mặt bàn, nơi họ quen ngồi. Cần nói rõ cách làm ấy không phải là thứ độc quyền của Trại hoa tử đinh hương.


Đương nhiên trong số khách hàng từng lui tới ở đây, sẽ lưu lại với thời gian những tài năng đích thực. Còn bao nhiêu vị giàu có hoặc đấng tai to mặt lớn, bao nhiêu người mang ảo vọng thiên tài, bao nhiêu kẻ hãnh tiến, bao nhiêu tên quậy phá thì mấy ai nhớ đến tên. Có chăng một vài người. Ví như anh chàng nhà văn hạng ba hoặc hạng tư gì đấy tên là Alfred Jarry. Sinh thời, anh ta được nhiều người biết đến không phải do tác phẩm của mình mà chủ yếu ở cách chơi ngông. Một tối anh dẫn một người đẹp kiêu kỳ đến quán nghệ sĩ... Ngà ngà giữa hai ly rượu, anh chàng rút súng lục nổ một phát đoành vào tấm gương soi gắn ở tường rồi quay lại nói với cô bạn gái: “Bây giờ băng giá đã tan, hẳn hai ta có thể nói chuyện với nhau rồi chứ, hở phu nhân?” (Trong tiếng Pháp, từ glace có nghĩa là tảng băng mà cũng có nghĩa là tấm gương). Khách khứa trong nhà hàng có người giật thột song chẳng ai lấy thế làm phiền lòng. Mọi người đều biết súng lục của anh chàng nhồi toàn đạn giấy.


Lịch sử quán nghệ sĩ Trại hoa tử đinh hương bắt đầu từ hơn một trăm năm mươi năm trước. Dưới triều vua Louis Philippe, nước Pháp trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính sâu sắc. Cơn khủng hoảng này sẽ châm ngòi cho cuộc cách mạng tháng hai năm 1848 lập nên nền Cộng hòa đệ nhị. Để trốn tránh thực tại, thanh niên trí thức Pháp vùi đầu vào các cuộc hoan lạc thâu đêm suốt sáng. Năm 1847, một nhà kinh doanh tên là Boulier mua lô đất có nhiều cổ thụ và hoa tử đinh ở góc hai đại lộ này và thiết kế thành nhà hàng - vũ trường dành cho giới thượng lưu, mở cửa ba tối mỗi tuần. Vũ trường được trang trí huy hoàng “y hệt như cảnh trong Nghìn lẻ một đêm vậy” - một tờ báo hồi ấy tường thuật. Chính ông chủ vũ trường cũng không ngờ mình đã khai sinh cho một quán nghệ sĩ cực kỳ nổi tiếng, mà khách hàng càng về sau lại càng không chỉ là những người có của mà thôi. Thoạt đầu người ta gọi nơi này đơn giản là Vườn nhà ông Boulier hoặc Khu trại nhà Boulier. Cái tên văn vẻ Closerie des Lilas chính là do khách hàng đặt cho.


Phải nói rằng vị trí nhà hàng ở một nơi quá ư thuận lợi. Cách không mấy xa là Viện Hàn lâm Văn học Pháp. Ven các đường phố gần là trụ sở nhiều tạp chí văn nghệ và nhà xuất bản - một số cơ sở thời ấy hiện nay vẫn còn. Đi quá ít nữa là Vườn hoa Luxembourg tuyệt vời với tòa lâu đài vẫn được khoe là đẹp nhất nước Pháp. Và Trường Đại học Sorbonne. Và khu La tinh của những sinh viên, trí thức lúc nào cũng sôi động...


Trại hoa tử đinh hương tồn tại qua mấy cuộc cách mạng và vài cuộc chiến tranh, kể cả đại chiến thế giới lần thứ nhất. Trong khoảng thời gian khá dài ấy, thành phố Paris đã được chỉnh trang nhiều lần. Mặt đường ở khu phố này mở rộng. Một đầu nút xe điện ngầm được xây dựng ở phía bên kia ngã sáu, nơi mấy đại lộ giao nhau. May mắn sao, khu trại không bị ảnh hưởng nhiều. Chỉ có bức tượng bằng đồng đen của Thống chế Ney, vị tướng lĩnh đầu đàn của Hoàng đế Napoléon là được lùi về gần khu trại hơn xưa. Bây giờ, bên ngoài giậu hoa ngài Thống chế vẫn cầm gươm ngồi rất thẳng trên lưng ngựa. Ngài quay lưng lại Trại hoa như không muốn vướng mắt trước cảnh nhốn nháo của những văn nhân, nghệ sĩ có vẻ ăn không ngồi rồi. Vả chăng trong quán nghệ sĩ này, cũng chẳng ai quan tâm là có ngài Thống chế đang đằng đằng sát khí bên sau giậu thưa kia.


Dù sao thì quán nghệ sĩ cũng không thoát khỏi nanh vuốt của cuộc đại khủng hoảng kinh tế. Tiếp đó là chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mãi đến năm 1952, Trại hoa tử đinh hương mới hoàn hồn và sống trở lại dưới sự chèo chống của một nhà kinh doanh nữ. Nó là tài sản riêng của gia đình bà suốt bốn mươi bốn năm.


*


*   *


Chuyện ẩm thực sang trọng và cầu kỳ, tinh tế và tốn kém thì ở thành phố Paris thiếu gì chốn. Cái làm cho các quán nghệ sĩ nổi danh và tồn tại lâu dài là những hoạt động mang tính văn chương, nghệ thuật đích thực của nó.


Linh hồn của các hoạt động này cuối thế kỷ XIX thuộc về nhóm Thi sơn của Leconte de l’Isle và của trường phái tượng trưng mà tên tuổi nổi bật nhất là Stéphane Mallarmé. Người chủ súy nửa đầu thế kỷ XX là nhà thơ Paul Fort. Từ tuổi thanh xuân đến năm qua đời ở tuổi tám mươi tám, nhà thơ này đã xuất bản gần năm mươi tập thơ, hầu hết bắt nguồn cảm hứng từ truyền thống văn nghệ dân gian, ca ngợi thiên nhiên, quê hương cũng những nghề dân dã.


Paul Fort nhớ lại: “Tôi bước chân đến Closerie des Lilas lần đầu tiên vào năm 1903. Từ đấy tôi không làm sao rời khỏi nơi này được nữa. Lễ thành hôn của tôi cũng được tổ chức ở Trại hoa này vào năm 1910”. Paul Fort đã đề xướng và chủ trì đều đặn sinh hoạt Những ngày thứ ba của thi ca. Nhờ hoạt động ấy cộng với chiều dày các thi phẩm của mình, ông được chính thức tôn vinh là “Ông hoàng của các nhà thơ”.


Truyền thống văn nghệ ấy, ngày nay người ta vẫn cố gắng phát huy. Năm 1986, Trại hoa lập Giải thưởng dành cho những nhà viết kịch bản xuất sắc dưới sự bảo trợ của Viện Điện ảnh quốc gia Pháp. Các kỳ họp của Hội đồng Giải thưởng dành cho các sách mỹ thuật mang tên André Malraux(*) hàng năm vẫn nhóm họp ở Trại hoa. Cách đây chưa lâu, thành lập thêm Giải về văn chương châm biếm. Giải này cũng được trao hàng năm. Từ năm 1997, cứ dịp xuân về, người ta lại tổ chức Hội hoa tử đinh hương.


Kỷ niệm 150 năm ngày ra đời Closerie des Lilas, báo chí Pháp không tiếc lời ngợi ca hiệu cà phê văn học này. Tạp chí Le Figaro Magazine đưa lên tít: Ở Trại hoa tử đinh hương, Paris lại trở thành ngày hội. Tuần báo L’Express đăng bài kèm ảnh: Nở lại một thời hoa li la... Nhật báo Libération (Giải phóng) chạy tít lớn: Trại hoa tử đinh hương, những huyền thoại của một thế kỷ vĩ đại. Họa báo Paris Match nhấn mạnh: Vũ trụ của Hemingway đang được hồi sinh ở Closerie des Lilas. Dưới đầu đề Hoa tử đinh hương lại nở rộ, nhật báo Le Figaro mở đầu bài viết như sau: “Hỡi bố Hemingway thân yêu, chúng con mời bố hãy ngồi dậy từ nấm mồ của mình và trở về đây an nghỉ cho đúng nơi: Cái Closerie des Lilas của bố cuối cùng đã tạo lập lại được bầu không khí văn chương mà bố từng biết những năm vô tư giữa hai cuộc đại chiến... Ở quầy rượu, bảng tên khắc đồng của bố được gắn kia, bên cạnh tên của Arthur Miller, vào cái nơi trí tuệ nhất và cũng văn chương nhất của thành phố Paris này...”. Đến thời báo The Time xuất bản bên kia bờ biển Manche, vẫn chịu tiếng oan là kỳ thị người Pháp cũng có bài và ảnh về sự kiện này.


*


*   *


Thời kinh tế thị trường theo xu thế toàn cầu hóa, cuộc sống văn chương, nghệ thuật với truyền thống lâu bền đến đâu cũng khó tránh khỏi tác động của đồng tiền. Sở dĩ báo chí Pháp thông tin rầm rộ về sự kiện kỷ niệm một nhà hàng - cho dù là nhà hàng văn chương - còn có một lý do nữa. Giữa thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, Trại hoa tử đinh hương làm ăn thua lỗ. Chủ nhân của nó rao bán. Có nguy cơ cái quán nghệ sĩ trứ danh ở lô đất vô cùng thuận lợi và quý hơn vàng này bị người mua dẹp đi để sử dụng vào mục đích khác. Giữa lúc ấy, xuất hiện một vị cứu tinh. Ông ta là người nước ngoài, chắc chẳng có tơ vương gì nhiều đến lịch sử văn học nghệ thuật nước Pháp, song vẫn hứa nếu mua được sẽ sẵn sàng không chỉ duy trì mà còn “nâng cấp” hoạt động văn hóa của Trại hoa. Và ông đã thực hiện lời hứa.


Ăn uống ở Closerie đương nhiên đắt đỏ. Khách không cẩn thận thì “vượt mốc ba số không” như bỡn (tức là vượt mức một nghìn frăng một người - tiếng lóng của khách hàng). Bởi ngoài giá tiền ghi trên thực đơn, xin quý khách nhớ cho còn phải cộng thêm hai mươi phần trăm thuế TVA và mười lăm phần trăm phí phục vụ. Đến khách giàu sang còn phát ớn. Ông chủ mới đã nghĩ ra nhiều sáng kiến trong đó có một “công thức trọn gói” (nói nôm na là ăn theo suất), bao gồm thức uống và giá cả phải chăng thôi, gọi một cách lịch sự là các bữa ăn trưa - làm việc dành cho các nhà doanh nghiệp. Nhờ vậy khách lại đông lên.


Đúng vào dạo ấy, tôi có việc ghé Paris. Anh bạn nhà văn bảo:


- Anh còn nhớ cậu thanh niên đầu bù như cái rế, chủ nhà hàng Closerie des Lilas không? Nó bán đứt cái cơ sở của nó rồi. Nghe đâu làm ăn thua lỗ, hai mẹ con cãi lộn, cuối cùng quyết định bán cơ ngơi, mỗi người ôm một mớ tiền đi lập cơ sở mới. Cậu André vẫn theo nghề cũ. Nó mở nhà hàng riêng ở đường... quận... Cơ sở bé thôi, nhưng chắc báo chí thương nó cho nên hôm khai trương nhà hàng, nhiều báo trong đó có tờ Le Monde (Thế giới) có cử phóng viên đến dự và đưa tin. Có lẽ chiều nay chúng ta nên đến thăm nó. Cậu chàng làm ăn tài tử thế, không biết cửa hiệu này rồi sẽ thọ được bao lâu.


Cậu chàng không chỉ làm ăn tài tử mà còn chơi ngông. Trước đây có đêm Trại hoa vắng khách, André ra đầu đường tập họp những người vô gia cư vẫn ngủ vật vờ trên hè phố, rước vào quán nghệ sĩ và mời họ uống rượu. Ai cần dùng thức gì, sức uống được bao nhiêu, xin cứ tự nhiên. Những người bồi bàn sẵn sàng phục vụ họ như vẫn làm với mọi khách sang.


Quán mới mở của André nhỏ thôi, đặt trong một cái hành lang hun hút chật chội. Trên tường, lồng trong khung kính đẹp, những mẫu báo cắt đưa tin về ngày khai trương nhà hàng, với sự có mặt của một số văn nhân nghệ sĩ và nhà báo tên tuổi. Dĩ nhiên cậu có người giúp việc, nhưng với khách quen hoặc muốn bày tỏ sự trọng thị, chính tay cậu ta soạn bàn và bưng bê. Nhân thể bắt tay khách, nói đôi câu chuyện bâng quơ. Cũng là một cách tiếp thị.


Trở lại với Trại hoa. Vị cứu tinh ấy là một người gốc Bosnia, một nước nhỏ mới tách ra từ Liên bang Nam Tư. Báo chí viết rằng lúc mới bước chân đến thành phố Paris hoa lệ này, cách đây hai mươi năm, trong túi hai ông bà vẻn vẹn có một nghìn hai trăm frăng. Với tài “thao lược” hiếm thấy, ông bà hiện nay làm chủ nhiều nhà hàng cao cấp, tài sản lên tới cả trăm triệu frăng. Ông bà đã bỏ ra ba mươi triệu frăng (khoảng sáu triệu đô la Mỹ theo tỷ giá lúc bấy giờ) để cứu cái quán nghệ sĩ lừng danh cho nó khỏi bị biến thành một siêu thị hoặc trung tâm thương mại. Bạn tôi rỉ tai tôi:


- Anh chàng ấy giàu lên không phải nhờ kinh doanh nhà hàng như báo chí viết đâu. Anh ta phất chủ yếu là nhờ các vụ áp phe có nhiều nghi vấn nhân cuộc chiến dai dẳng ở vùng Bosnia - Heczêgovina quê hương anh ta. Thì xưa nay đau khổ cho những người này vẫn mang lại giàu sang cho những người khác mà.


Tên vị cứu tinh là Miroslav Siljegovic - một cái tên đặc Bancăng. Tôi có gặp ông ta. Một con người cao lớn, đẹp trai, mái tóc bạc trắng dù còn trẻ. Nói “gặp” cho sang, chứ thật ra ông chủ chỉ xuất hiện có một chốc, vào lúc đông khách nhất để bắt tay mọi người. Ông nói với bà này một tiếng, chào ông kia một cái gật đầu. Tôi là khách nước ngoài, được ông chia cho một câu xã giao, mà ồn ào quá tôi chẳng nghe rõ. Mà ông cũng chẳng cần biết tôi có nghe thủng hay không. Dù sao công việc làm ăn của ông chủ thuận chèo mát mái một phần cũng có nhờ ở sự hào phóng của những cái bắt tay và gật đầu ấy.


*


*   *


Xuân năm nay, tôi có dịp ghé lại Closerie. Người ta đang chuẩn bị Hội hoa tử đinh hương, như thường lệ sẽ được tổ chức một tối nào vào cuối tháng tư. Tôi gặp lại mấy nhà văn, nhà báo Pháp quen. Và một người “đồng hương” mà hầu như lần nào đến đây tôi cũng trông thấy. Anh là con trai không chính thức của vị cựu hoàng, một chuyên gia ngân hàng, khách thường trực của Closerie. Ngồi đối diện với anh chiều hôm ấy là một ông Tây có mái tóc bạch kim rất đẹp và phong thái rất tự nhiên. Ông đang chăm chút... bón cho một đứa bé chưa đầy năm, trong khi bà vợ trẻ ngồi bên cạnh thản nhiên nhấp ly rượu nhẹ.


Tôi hơi ngỡ ngàng, có cảm giác như từng gặp ông này ở đâu. Anh bạn đồng hương giới thiệu và ghé sát tai tôi nói:


- Hắn ta là một nhà soạn nhạc có tiếng. Sáu mươi tuổi rồi mới lấy vợ và vừa có được mụn con. Quý con lắm.


Tôi chợt nghĩ ra. Tối hôm qua tình cờ tôi vừa nhìn thấy ông ta trên ti vi, trả lời phỏng vấn hay tọa đàm gì đấy với mấy nhà báo. Mái tóc cực đẹp của ông khi xuất hiện trên màn ảnh nhỏ có trau chuốt hơn một chút chứ không bù xù tự nhiên như hôm nay ở đời thường, song ai đã nhìn thấy ông một lần thì không lẫn với người khác được. Tôi nói lý nhí một câu chúc mừng ông về “sự thành công tối hôm qua”. Ông thoáng vẻ ngạc nhiên, song không nói gì mà chỉ cảm ơn. Chú bé, trong khi bố mải nói chuyện, đưa tay khua cốc nước rơi xuống nhà vỡ đánh choang. Mấy người phục vụ vội chạy tới. Người dọn sàn nhà, người giúp ông khách lau chiếc áo thấm ướt.


Khách khứa trong phòng nghe tiếng cốc vỡ, chẳng ai buồn quay lại. Bà vợ trẻ của ông nhạc sĩ nhấc bổng đứa con ôm đi ra vườn. Ở quán nghệ sĩ, ngoài các lễ hội lớn, khách thường là những người bạn đã có hẹn hò để tán gẫu về một cuốn sách mới xuất bản hoặc một bộ phim trình chiếu lần đầu, hay là để bàn công chuyện làm ăn; còn những người khác chẳng ai để ý đến ai.


2001


Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 









(*) Đầu đề bản dịch tiếng Pháp. Nguyên tác tiếng Anh là A Moveable Feast.




(*) Một nhà văn nổi tiếng. Nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa của tướng De Gaulle.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »