tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004445
26.05.2012
Phan Quang
Paris đời thường

… Nhà văn Karamzine lên đường làm một cuộc viễn du sang Ý và Thụy Sĩ. Thật là cơ hội tuyệt vời cho ông, được có dịp trình bày với đồng bào mình cảnh tượng kỳ vĩ làm mê mẩn lòng người về những thành quả văn hóa lâu đời, về những nền văn minh và chế độ giáo dục ở xứ sở những đại diện cao quý nhất của nhân loại... Việc ấy thật dễ dàng đối với ông. Ngòi bút của ông vẫn chẳng luôn hùng biện đó sao! Ông chẳng được thụ hưởng tín nhiệm lớn của những người cùng thời đó sao!


Ấy thế mà, thay vào đấy, nhà văn đã làm như thế nào? Ông đã cho chúng ta biết được những gì qua cuốn Các bức thư của một lữ khách Nga? Trước tất cả mọi thứ, tác giả đã dùng bữa trưa ở đâu, ăn buổi tối chốn nào, đã trả hết bao nhiêu tiền cho chủ nhà hàng; tiếp đó đến chuyện ông B. tán tỉnh bà N...


Vậy thì có đáng phải cất công đi xa đến thế?


Bielinski: Những mơ mộng văn chương.


I. Đại lộ danh nhân và con đường vui vẻ


Đại lộ Montparnasse là một trong những con đường đẹp nhất Paris. Mặt đường thẳng tắp, rộng thênh thang, dài hơn vài cây số. Từ cái quán nghệ sĩ thanh lịch La Closerie des Lilas (Trại hoa tử đinh hương) đi ngược lên, qua nhà ga xe lửa ồn ào tấp nập cạnh các trung tâm thương mại nổi tiếng La Fayette C&A cùng ngôi nhà chọc trời mà những người parisiens dị ứng với văn hóa Mỹ đặt tên là “con quỷ gớm ghiếc thành Paris”, rồi đi tiếp nữa cho đến đại lộ Les Invalides, nơi có tòa lâu đài lẫm liệt lưu giữ di hài Hoàng đế Napoléon. Giữa đường có làn phân cách trồng cây cổ thụ. Tuy cây thường xuyên bị tỉa xén để hạn chế chiều cao và độ tỏa của cành, nhưng nhìn gốc ta có thể thấy nó được trồng lên ở đây nhiều năm, nhiều năm lắm rồi. Vỉa hè rộng và phẳng, tha hồ mà thả bộ.


Tôi thích con đường này trước hết bởi cái tên gợi cảm của nó, nhắc nghĩ tới phái Thi sơn (Les Parnassiens). Những nhà thơ thuộc trường phái này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn học Pháp và ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế hệ các nhà thơ mới của ta, những người chỉ trong mười năm làm nên “một thời đại” của thi ca Việt Nam, như nhà phê bình Hoài Thanh quả quyết.


Bóng dáng những danh nhân thấp thoáng trên con đường ngày xưa, nay không còn nhiều nữa.


Thời đại đã đổi thay. Đối với người Pháp, sự đổi thay đặc biệt mạnh mẽ là từ sau những sự kiện tháng năm năm 1968. Sinh viên nổi loạn, rời bỏ giảng đường phản đối chế độ giáo dục cũ kỹ, rồi kéo xuống đường ào ạt mít tinh, biểu tình, xung đột với cảnh sát. Mười triệu công nhân, viên chức, theo lời kêu gọi của các tổ chức công đoàn, tổng đình công. Tổng thống De Gaulle lo sợ trước phong trào quần chúng, phải tạm lánh mấy ngày sang một đơn vị quân đội Pháp đồn trú mãi trên đất Đức. Lớp trẻ phủ định nếp sống cố hữu, vứt bỏ khỏi cuộc sống thường ngày bộ comlê càvạt của đàn ông và cái nịt ngực đàn bà, để thay vào đó chiếc áo phông, cái quần bò hoặc chiếc váy mini. Xu thế chung là đòi hỏi nhiều phóng khoáng cá nhân hơn cho tuổi trẻ, nhiều tự do xã hội hơn cho phụ nữ, cho các thế hệ ra đời sau chiến tranh.


Đại lộ không còn như xưa. Tuy nhiên, sự đổi thay đi vào chiều sâu, vẻ bên ngoài có biến dạng song không nhiều lắm. Những người dân Montparnasse lớn tuổi xưa nay vẫn tự hào mình là những Montparnos. Họ hoài niệm một thời chưa xa, khi hơi thở ở khu phố này còn rập theo nhịp thở các danh nhân có mặt thâu đêm suốt sáng ở các nhà hàng nghệ sĩ và quán cà phê văn học. “Còn đâu nữa thanh niên từ các tỉnh lẻ kéo nhau lên Paris sống với bánh mì kẹp vài lát thịt mặn và nước lã là chính, để theo học tại các xưởng vẽ của các họa sĩ lừng danh ở đại lộ này, với hy vọng một ngày nào đó mình cũng sẽ trở thành một Pablo Picasso, một Fernand Léger hay một Henri Matisse. Còn đâu nữa những năm 20 với Fujita và Kisling, những năm 30 với Picasso và Trotski, những năm 40 với Aragon và Prévert”, - một tờ tuần báo lớn số ra gần đây viết về Montparnasse đã thốt lên ngậm ngùi hoài cổ như vậy. Có lần dân hai phố Vavin và Bréa đã đấu tranh thắng lợi chống lại việc mở một cửa hàng chuyên bán thức ăn nhanh ở góc phố cổ kính. Dù sao cuộc sống vẫn trôi theo dòng chảy của nó: các nhà hàng fast-food hỗn tạp vẫn lần lượt thế chân các hiệu sách nền nã, các căn hộ de luxe hợm hĩnh mọc lên ở những nơi xưa kia là xưởng vẽ của các danh họa - những ngôi nhà này trông bên ngoài thường có vẻ tiều tụy và hết sức lộn xộn ở bên trong, song chính nhờ thế mà chúng càng tăng thêm sức hấp dẫn.


Chiếc tháp chọc trời mang tên đại lộ, La tour Montparnasse, đứng ở giữa phố kia dường như đang quan sát mọi sự đổi thay, không phải không có chút hy vọng là rồi đến một ngày nào, mình không còn đơn độc nữa.


Một nhà trí thức Pháp nói với tôi về cái tháp này đã quả quyết: “Nó là kinh nghiệm đau xót của chúng tôi. Nó mọc lên kia, rập theo khuôn mẫu người Mỹ. Nhưng nó vừa ra đời thì mọi người hiểu ra ngay: những cao ốc lêu đêu kiểu này phá vỡ cảnh quan cổ kính của thủ đô. Bởi vậy mọi người đặt ngay cho nó cái tên con quỷ gớm ghiếc thành Paris. Và từ đấy các nhà cầm quyền cạch, không dám cho xây nhà chọc trời trong nội thành nữa”. Ý kiến ông bạn chuẩn xác đến đâu, tôi không dám chắc. Điều rõ ràng là không thấy có nhiều ngôi nhà chọc trời như vậy tại các phố cũ hình thành đã vài ba thế kỷ, ở đây các dãy nhà chạy dài san sát thường chỉ cao từ bảy đến chín tầng là cùng. Không có ai được phép chơi trội vượt lên đầu ai.


Cảnh quan bên ngoài ít nhiều đổi thay, nhưng dấu ấn các danh nhân lưu lại trong chiều sâu thì dường như vẫn còn đâu đó. Người Montparnos hy vọng cái đó vẫn còn. Người ta lấy làm tự hào về cái đó. Và người ta biết cách khai thác thế mạnh ấy cho công việc làm ăn. Đi ngang qua các quán cà phê Le Dôme hoặc La Rotonde ở các góc phố, người Pháp không quên giới thiệu với khách nước ngoài đấy là những nơi ưa chuộng của danh họa Pablo Picasso ngày trước. Vào nhà hàng La Coupole dùng một ly nước giải khát, người ta chỉ cho bạn biết nơi đôi vợ chồng nhà văn Jean Paul Sartre - Simone de Beauvoir vẫn tới ngồi đều đặn vào các chiều thứ năm hằng tuần, kéo theo một đoàn đệ tử cùng những người hâm mộ. Chính tại nhà hàng La Coupole này, nhà văn - triết gia lớn của nước Pháp đương đại nhiều lần cao giọng tố cáo quân đội Mỹ gây nên các cuộc giết chóc ở Việt Nam. Ngược thời gian lên đầu thế kỷ, khi Lênin tạm thời lánh sang Paris tránh sự truy nã của chế độ Nga Hoàng, nhà cách mạng bônsêvích vẫn đến La Closerie des Lilas chơi cờ với nhà thơ đồng nội Paul Ford...


Một lần ghé Paris, tôi trú tại một khách sạn nhỏ ở một phố ngang, cách mặt tiền đại lộ Montparnasse chừng dăm chục bước. Tôi nhờ người bạn đặt chỗ ở đấy với hy vọng viển vông giá có thể rẻ hơn những khách sạn hiện đại. Quả thật so với những tòa nhà đồ sộ bên cạnh thì ngôi nhà này dáng dấp thân mật như nhà riêng của một gia đình trung lưu. Gọi là khách sạn mà chỉ có hơn hai mươi phòng, phần lớn chật hẹp. Cầu thang gỗ còn tạm được nhờ vẻ cổ điển của nó. Nhưng cái thang máy mới “cải tạo” thêm thì khó chấp nhận. Nó bé tẹo, vừa đủ cho hai người đứng sát vào nhau; nếu có mang theo hành lý thì phải lên xuống từng người một. Gây ấn tượng nhất có lẽ chỉ có cái phòng ăn sáng ở tầng hầm. Ấy là một căn phòng tường và trần đều xây toàn bằng đá hộc, kê bảy tám chiếc bàn nhỏ cùng những chiếc ghế gỗ đơn sơ tạo không khí thôn dã, sạch sẽ và ấm cúng. Một chiếc đèn bàn chiếu sáng dịu dàng. Kín đáo trong hốc tường, một chậu cây cảnh không rõ cây thật hay giả mà luôn xanh tươi. Cuối phòng có một bà già phục vụ. Ai cũng như ai, điểm tâm - đúng là điểm tâm - chỉ có một khúc bánh mì bé tẹo, một cốc nhỏ nước cam, một mẩu bơ, một lọ mứt hoa quả hoặc mật ong lớn bằng ngón tay cái. Khách chỉ có quyền chọn hoặc nước trà, cà phê hay ca cao. Và khách sang cũng như hèn, mỗi người một khay; không ai bảo ai và cũng chẳng ai bắt buộc, ăn xong người nào cũng tự mình mang đến trả để nhận một lời cảm ơn qua nụ cười đôn hậu của bà cụ.


Cái khách sạn nhỏ ấy nổi tiếng nhờ đôi vợ chồng Aragon - Elsa Triolet. Tờ gấp - quảng cáo xếp sẵn ở quầy in đậm mấy câu thơ của Aragon trích trong bài Đối với tôi Paris là Elsa, hồi tưởng lại lần chàng cùng nàng lưu lại đây:


Em bước xuống đường từ Khách sạn Istria


Phố Campagne Première


Xế trưa ngày nào năm một ngàn chín trăm hai mươi chín...


Không chỉ có hai danh nhân ấy. Nhiều tên tuổi sáng giá khác như Maiakowsky, Rielke, Marcel Duchamp..., theo như tờ quảng cáo khoe, đang cùng nhau góp sức tạo nên sự quyến rũ của ngôi nhà khách không lấy gì làm sang trọng, chỉ nhờ có bóng dáng của họ mà lúc nào cũng đông khách, trong khi giá cả lại chẳng “mềm” chút nào so với mức độ tiện nghi.


Khác với mặt tiền đại lộ, khu ga Montparnasse có bộ mặt riêng và đời sống riêng của nó. Nơi đây những con đường phố ngắn và hẹp cắt ngang nhau, nối tiếp với nhau. Hai bên phố là những khách sạn thời cũ tương tự khách sạn Istria và những nhà hàng, cửa hiệu nhỏ, người người tấp nập lại qua. Tấp nập, nhưng dường như người đi mua bán thì ít mà tìm chốn vui vẻ thì nhiều, nhất là vui vẻ về đêm. Đường phố khơi gợi nhất, đúng như cái tên gọi mà không biết ai đã đặt cho nó từ bao giờ, là “Phố vui vẻ” - tôi dịch sát từng chữ cái tên Tây La rue de la Gaité. Sự trớ trêu là đường phố này giao với đại lộ Thi sơn và chạy dọc theo tường cái nghĩa địa lớn, cùng mang tên ngọn núi văn chương: Nghĩa trang Montparnasse. Tuy nhiên, con đường phố vui vẻ không vì cái nghĩa trang ấy mà giảm bớt phần vui vẻ, chắc hẳn nhờ có bức tường cao che chắn và ngăn cách cho.


Lần đầu tiên thả bộ dọc đường phố hẹp, chiều dài chỉ có mấy chục số nhà, tôi ngạc nhiên sao ở đây tập trung nhiều kịch trường đến thế. Bên dãy nhà số chẵn: nhà hát Rive Gauche, rạp Bobino, rạp Gaité Montparnasse. Bên dãy nhà số lẻ: nhà hát Guichet Montparnasse, nhà hài kịch Italia, nhà hát Montparnasse, rồi nhà hát Tiểu Montparnasse..., và và... Thẩn thơ đến cuối phố, nhờ có tấm biển chỉ dẫn tôi mới rõ, hóa ra Phố Vui vẻ này còn được mệnh danh là “Phố các nhà hát” (La Rue des Théâtres). Mặt phố chật, các ngôi nhà thường nhỏ, cho nên các nhà hát cứ như chen chúc nhau, từ hai mặt đường cứ như nhòm ngó vào nhau. Vui vẻ thật. Mà vui vẻ là phải.


Về sau tôi biết thêm: Sự nổi danh của đường phố này không chỉ có nhờ các rạp hát vốn có mặt nơi đây từ nhiều thế kỷ, chuyên trình diễn kịch nghệ và điện ảnh. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi nước Pháp buộc phải dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài để khôi phục kinh tế, thì còn có thêm nhiều sự trình diễn khác vui vẻ hơn, thu hút được nhiều hơn các du khách giàu sang ham của lạ.


Sánh vai với các nhà hát - rạp chiếu phim ngày đêm giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật cổ điển hoặc hiện đại, đích thực hoặc giả vờ, và cạnh tranh gay gắt với các môn nghệ thuật ấy là một nghệ thuật mới, mà hầu như chỉ ở các nước phương Tây sính việc nhân danh quyền con người mới dám quảng cáo công khai và phô trương đến mức như vậy. Các hiệu sex - tôi không rõ gọi là hiệu có chuẩn không, vì trong các ngôi nhà ấy người ta vừa bán vật phẩm, hàng hóa, vừa trình chiếu, trình diễn có bán vé cho khách vào xem theo suất theo giờ. Thấy tiếng Tây đề là shop hay boutique, thì tôi cứ gọi đại là hiệu vậy. Vả chăng tôi cũng mới nhìn các biển quảng cáo mà đoán mò, chứ đã dám đi vào hang hùm đâu mà bảo có thể làm phóng sự tả chân, như mấy vị đồng nghiệp tiền bối lừng danh của tôi thời trước có lần làm.


Đặc điểm nổi trội của ngành kinh doanh này là sự quảng cáo hết sức thô lỗ và lòe loẹt. Đèn xanh, đèn đỏ, đèn tím, đèn hồng quang, đèn huỳnh quang chiếu ánh sáng yêu ma. Mà các bức rèm dài và rộng thường xuyên buông xuống che cửa ra vào bức nào cũng được may bằng vải hoặc lụa dày kịt và óng ánh màu đen huyền bí. Vị thượng đế nào đã mạnh tay vén bức màn đen ấy lên và bước vào bên trong thì cứ là yên chí lớn. Không còn sợ có ai nhìn thấy mình, theo dõi được tung tích hành vi của mình. Một đặc điểm khác là các dòng chữ lòe loẹt ấy không chỉ bằng tiếng Pháp mà thường kèm theo tiếng Anh, có khi cả tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Ý, tiếng Đức gì gì nữa. Mặc cho Nhà nước Pháp đã thông qua một đạo luật hẳn hoi buộc mọi người phải dùng ngôn ngữ dân tộc trong công việc quảng cáo, tuyên truyền, tiếp thị; lẽ ra theo đúng luật pháp thì không ai được phép để cho ngôn ngữ nước ngoài lấn lướt, nổi trội hơn so với ngôn ngữ tuyệt vời của Victor Hugo và Anatole France.


Mặc dù vậy, khách vẫn thấy đập vào mắt nhiều loại quảng cáo kệch cỡm. Như nhà hàng chuyên phục vụ các thức ăn đặc sản Tàu, Thái và Việt kia. Đã có một tấm biển hiệu ngang phè kẻ chữ Anh Capitol, bên dưới có chua “phụ đề” tiếng Pháp nói rõ đây là hiệu ăn, lại còn kèm theo một tấm biển dọc đề ba chữ Hán Kinh hoa lâu viết loằng ngoằng theo lối chữ thảo. Sát tường với nhà hàng ấy là hiệu SEX boutique - PEEP show - NU intégral - LIVE show(*) (nguyên văn). Cửa hiệu này mang số nhà 25. Gần như đối diện, ở căn nhà mang số 28 là hiệu L’Odysex. Chẳng rõ cái từ tố Ody ở đây có dính dáng điển tích gì không với thiên sử thi Odyssée bất hủ có từ thời thượng cổ nước Hy Lạp thuật lại các chuyến phiêu lưu kỳ thú của chàng Ulysse sau cuộc chiến tranh thành Troie. Chắc là dụng ý lập lờ, muốn hiểu thế nào cũng được, đại loại như “cuộc du ngoạn trên trường tình” chăng. Lại có một vài nhà, ý chừng cho rằng các ngôn ngữ quốc tế kia chưa diễn tả đủ nội dung, còn vẽ lên tấm quảng cáo đỏ xanh quốc kỳ nhiều nước Pháp, Anh, Mỹ, Ý, Úc... Thoải mái làm sao. Đi quá dăm bước nữa thì gặp Sex Paradise. Trong cái “thiên đường” này, theo như biển quảng cáo giới thiệu, bên cạnh các suất chiếu vidéo thường xuyên, còn có nhiều tiết mục Nu intégral - Couple sur Scène - Live show(*) nữa. Ở cuối phố có một ngôi nhà lớn trông vẻ như khách sạn - nhà hàng, mà chỉ mang biển hiệu đề vẻn vẹn ba từ Palais du Plaisir (Lâu đài Lạc thú). Đối với những người lao động nhập cư bất hợp pháp hoặc chỉ hưởng lương SMIC (tối thiểu), thì họ chẳng cần biết hai từ lạc thú kia bao hàm những nghĩa lý gì.


Mùa hè bên châu Âu, đêm đến muộn. Có những ngày đồng hồ chỉ mười giờ đêm rồi vẫn còn trông thấy nắng quái. Chừng nào còn mặt trời thì mọi người đi lại vẫn còn có vẻ hối hả. Nhưng khi đêm thật sự đến, đèn đường đã bật hết cỡ sáng rồi, thì dường như ai nấy thư thái hơn. Cữ này là lúc nhiều người đẹp không rõ từ đâu xuất hiện trên hè “Phố vui vẻ” và các phố lân cận. Thật ra, dưới ánh đèn nhập nhọa, chẳng ai rõ nhan sắc của các nàng đến đâu. Chỉ biết hầu như cô nào cũng mặc chiếc quần cũn cỡn hoặc cái jupe mini, còn áo thì không mấy khi dài đến thắt lưng. Các cô thập thò ở bậu cửa một ngôi nhà đã đóng, hoặc ở đầu các lối đi hẹp, thuốc lá lập lòe trên môi. Nghe nói luật pháp nước này cấm cảnh sát hỏi han quấy rầy người đẹp, cho dù biết chắc mười mươi đấy là gái làm tiền, chừng nào các nàng chưa có hành động vi phạm thuần phong mỹ tục, như kiểu bước xuống đường chào mời hoặc chủ động hỏi han chèo kéo khách. Bởi vậy mọi người cứ yên tâm đứng đấy, cứ yên tâm và kiên nhẫn đợi chờ.


Sớm muộn thế nào rồi từ đầu phố cũng xuất hiện một trang nam nhi. Anh chàng từ từ thả bộ như chẳng quan tâm mấy đến sự đời. Một cô gái kín đáo ra hiệu. Anh chàng ghé lại. Hai người thì thầm đôi ba câu. Lại thấy anh chàng tiếp tục đi dạo - người có kinh nghiệm khắc hiểu ấy là chưa ngã giá xong. Anh chàng tiếp tục đi dọc Phố vui vẻ, để sau vài mươi bước lại ghé vào trao đổi gì đó với một cô gái thập thò khác. Sau vài ba câu, cô gái dụi tắt điếu thuốc lá hút dở, đàng hoàng bước xuống đường. Hai người sánh vai bước, hòa vào dòng người ngược xuôi, y như đôi vợ chồng mới cưới hay đôi bạn con nhà lành hẹn nhau đi xem phố xá về đêm...


II. Sách cũ sách mới


Chút gì bên đại lộ Montparnasse còn dính dáng rõ nhất tới thời xa xưa ấy, tôi nghĩ, có lẽ là những cái hộc bày bán sách cũ trên vỉa hè luôn có nhiều tác phẩm của các thi hào, văn nhân thời ấy.


Những chiều cuối tuần lạnh trời, không có việc gì làm, tôi thích mặc ấm vào rồi thẩn thơ tản bộ ngắm nhìn những người khác sải những bước dài ngược xuôi. Dường như ai ai cũng có phần vội vã, riêng mình thủng thỉnh tìm xem sách cũ.


Mấy hiệu sách lớn đều ở về phía nhà số lẻ. Thông thường trong nhà bán sách mới. Sách cũ được đưa ra vỉa hè, dựng theo loại trên những cái bàn gọn ghẽ không làm vướng lối người đi bộ. Bày ra từ sáng sớm, đến tám chín giờ đêm vẫn còn đấy. Có khách càng tốt, không có cũng chẳng sao. Đêm đưa vào nhà. Mưa thì phủ lên một tấm bạt. Phần lớn là những tác phẩm nổi tiếng in vào loại sách bỏ túi cho càng nổi tiếng hơn. Gọi là sách cũ, song nhiều cuốn còn mới tinh, giá chỉ hai frăng một tập, hoặc ba frăng hai tập. So sánh với một tờ báo hằng ngày không nhiều trang lắm như tờ Le Monde chẳng hạn, đã bán tám frăng một số. Lại có những cuốn sách mỹ thuật khổ lớn, giá bìa ghi những bốn, năm trăm frăng có khi đắt hơn nữa, mà có thể mua nơi đây với giá vài chục frăng, vừa bằng giá một cốc bia tươi uống trên vỉa hè. Tôi mua được khối sách rẻ ở đây, đọc thoải mái suốt mười mấy giờ bay từ Paris về Hà Nội. Ham rẻ thì mua, song làm sao mang được hết về nhà.


Sách cũ cũng bày bán trong hiệu. Đấy là các loại sách quý hiếm, chỉ nhìn cho thích mắt, bởi giá cả không theo một chuẩn tắc nào. Ở góc đại lộ Montparnasse và phố Paul Séjourné có một hiệu sách nhỏ không giống ai. Biển hiệu là bức riềm màu xanh lá cây che nắng giản dị với dòng chữ Những món ăn trần thế, tên một tác phẩm nổi tiếng của André Gide thời ông còn trẻ. Dưới tên hiệu là dòng chữ bé hơn: Sách cũ và sách mới. Ngôi nhà này được nhiều người biết do có liên hệ với cuộc đời nhà văn được Giải thưởng Nobel nổi tiếng như cồn khoảng nửa đầu thế kỷ vừa qua. Những bộ sách hiếm bày bán trong hiệu thường vượt quá sức mua của người có thu nhập trung bình. Vài chục ngàn frăng một bộ dăm tập là chuyện thường. Tỉ như cuốn Vòng quanh thế giới không lấy gì làm dày và trông bề ngoài tiều tụy kia, xuất bản năm 1871, đề giá một nghìn năm trăm frăng. Bộ Hồi ký của Taylerand năm cuốn, mười lăm nghìn. Tôi nghĩ chắc bên trong có lời đề tặng của tác giả hoặc chữ ký của một người nổi tiếng nào vốn là chủ sở hữu của nó, thì người ta mới dám hét một giá cao đến vậy. Khách vào ra phần lớn là những người đứng tuổi, trông dáng dấp như những nhà doanh nghiệp chán công việc làm ăn hoặc công chức cao cấp về hưu túi rủng rỉnh tiền và thời gian rỗi rãi. Tuy vậy, dường như người xem nhiều hơn người mua. Trong vòng hơn chục năm, tôi có nhiều dịp qua lại đại lộ này, và mỗi dịp qua đây tôi lại ghé vào ngó nghiêng xem có gì mới. Lần nào cũng thấy đông người xem, nhưng không mấy khi nhìn thấy có người mua sách mang ra khỏi hiệu.


Người đọc sách ở Pháp mấy chục năm gần đây liên tục giảm sút trước làn sóng truyền hình và các phương tiện nghe nhìn khác. Vả chăng, ai cần mua sách thì đã có nhưng “siêu thị” văn hóa phẩm, mà nổi tiếng nhất là FNAC, thượng vàng hạ cám thứ gì cũng có bán. Người mua thường xuyên và mua nhiều có thêm thẻ giảm giá và phiếu thưởng. Khách hàng những hiệu sách ven các đại lộ lớn như đại lộ Montparnasse này chủ yếu là người yêu sách, người chơi sách. Cũng có những người rỗi rãi đi lùng sục sách hiếm, vừa thưởng ngoạn vừa tìm đón cơ hội, may ra thì vớ được món, chơi chán mang bán lại cũng được hời.


Khu phố này liền kề với Khu Latinh và Đại học Sorbonne tinh hóa trí tuệ của nước Pháp và là nơi tập trung nhiều nhà xuất bản tiếng tăm của nước này từ vài ba thế kỷ lại đây.


Xế cổng Vườn hoa Luxembourg, trên đại lộ Saint Germain là trụ sở của nhà xuất bản và phát hành mà các thế hệ những người học tiếng Tây không mấy ai không biết: Armand Colin, chuyên in sách giáo khoa và sách đọc thêm cho học trò. Học lên cao nữa, thì đã có Nhà xuất bản Đại học Les Presses universitaires de France, tọa lạc ở số nhà 108. Nhà này chuyên in các công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ. Nó nổi tiếng nhất nhờ bộ sách phổ cập khoa học miên man tưởng không có hồi kết mang tiêu đề chung Que sais-je?, hiểu nôm na là Tôi biết gì? Quá bước xa hơn ít nữa, ở góc các đại lộ Raspail và Saint Germain des Prés, là Nhà xuất bản Gallimard mà bìa các cuốn sách suốt trăm năm nay rồi vẫn không thay đổi cách trình bày. Tên sách in kiểu chữ romain đen trong một cái khung mảnh màu đỏ, và ở dưới là cái logo giản đơn với ba ký tự nrf in nghiêng - viết tắt tên của tờ tạp chí văn học La nouvelle revue francaise (Tạp chí Pháp mới) do André Gide sáng lập và đã có công tạo dựng nên nhà xuất bản. Ba ký tự ấy in ở bìa sách có sức gây ấn tượng với người đọc về chất lượng cuốn sách. Bởi nhà xuất bản này trong một trăm năm tồn tại, đã giới thiệu tác phẩm của bao nhiêu cây bút trẻ về sau trở thành đại tác gia. Một nhà sản xuất và phát hành sách quen biết khác, nhà Juliard, ở cách đấy không xa.


Bên hàng số chẵn, rẽ mấy bước vào phố Campagne Première ngắn và yên tĩnh nối liền đại lộ Montparnasse với đại lộ Raspail, có một ngôi nhà gắn tấm biển bộ dạng khiêm tốn mà mang dòng chữ khoa trương làm sao: Pierre Seghers - người xuất bản của các nhà thơ trên toàn thế giới - đã sống và làm việc nơi đây. Nói cho công bằng, ông chủ nhà xuất bản này vốn là một nhà thơ, biết người biết của. Ai có thơ được Pierre Seghers in, thì cầm chắc tên tuổi có thể vượt ra ngoài biên giới quốc gia mình. Các nhà thơ Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận của ta đã được ông này cho dịch giới thiệu với độc giả tiếng Pháp.


Khổ sở vì sự nổi tiếng của đường phố là những người ở ngôi nhà có số trùng với số trụ sở Nhà xuất bản Larousse chuyên ấn hành các loại từ điển. Nhà này ở số 17 phố Montparnasse, một đường phố nhỏ và ngắn cắt ngang đại lộ cùng tên. Khách đến giao thiệp với nhà xuất bản thường nhầm lẫn, cứ dè số 17 của đại lộ mà bấm chuông đập cửa. Đến nỗi ngôi nhà mang số này phải gắn một tấm biển đá khắc chữ mạ nhũ vàng trang trọng, thưa rằng Nhà Larousse tọa lạc ở số 17 phố Montparnasse kia chứ không phải ở ngôi nhà này. Vì lịch sự, chủ nhân không nói toạc ra nhưng ai đọc cũng hiểu, xin mọi người chớ có hỏi han quấy rầy gì thêm, cứ sang bên ấy khắc đúng địa chỉ nhà xuất bản.


Trong môi trường khu phố văn hóa ấy, sách mới sách cũ đều được tôn vinh. Càng làm nổi bật cái thú yêu sách, nhìn ngắm sách mà chẳng tốn kém gì. May ra có khi gặp được chuyện hay. Lời lãi thật ra chẳng bõ bèn, cái chính là niềm vui. Người viết bài này một lần thẩn thơ như vậy, chợt nhìn thấy ba cuốn sách cực đẹp, loại ấn phẩm đã in sẵn ở trang đầu: BẢN DÀNH TẶNG NGƯỜI YÊU SÁCH. Đấy là mấy cuốn trong bộ Những tiểu thuyết lớn đương đại, do một nhà phê bình tên tuổi chịu trách nhiệm lựa chọn và giới thiệu, được Nhà xuất bản Văn học Plon phối hợp với Nhà xuất bản Crémille bên Thụy Sĩ nổi tiếng về công nghệ in sách mỹ thuật, cùng thực hiện. Sách in trên giấy bouffant thượng hảo hạng màu vàng kem. Bìa giả da màu huyết dụ. Bìa và gáy sách đều có trang trí hoa văn cổ điển mạ vàng trang nhã. Không ghi giá sách trên bìa như thường lệ. Có thể hiểu là sách chỉ bán cho những người đặt trước. Mỗi cuốn lại có một phiếu kiểm tra sản phẩm. Nếu người đọc phát hiện ra bất kỳ một chỗ nào không ưng ý, thậm chí không thích, có thể đổi lấy bản mới hoặc lấy tập khác. Ba cuốn sách tôi mua được lần ấy là các tiểu thuyết của Alberto Moravia, tác gia người Ý được dịch khá nhiều ở nước ta và mới qua đời mấy năm trước đây, và hai nhà văn Pháp từng được giải thưởng văn học là Georges Arnaud và Georges Bernanos. Giá trọn gói ba cuốn đúng... mười frăng, vừa đủ để mua vài quả cam tươi. Sau lần ấy, hễ có dịp ghé Paris thế nào tôi cũng cố tình lượn lờ qua dãy hàng sách dọc hè đại lộ Montparnasse, song dịp may chẳng đến hai lần.


Một lần vui miệng, tôi khoe câu chuyện trên với một người bạn, ông Jacques L., công chức làm việc ở Văn phòng Quốc hội Pháp đồng thời là ủy viên Thư ký Hội hữu nghị Pháp Việt. Ông chỉ tủm tỉm cười. Nhân ngày nghỉ cuối tuần, ông mời tôi về nhà riêng chơi. Sau cốc cà phê đen, ông dẫn tôi vào phòng sách, tìm chìa khóa mở một tủ riêng lấy cho tôi xem một cuốn sách khổ lớn, bìa da có chỗ đã hoen ố màu thời gian. Đấy là một tập trong bộ Bách khoa toàn thư Diderot, bộ sách bách khoa lớn đầu tiên của nước Pháp gồm hai mươi tám tập, thực hiện vào thế kỷ XVIII, thế kỷ Ánh sáng, như người Pháp vẫn tự hào khi nhắc đến thời hoàng kim ấy. Bộ sách bạn tôi có là bản “gin”, in lần đầu từ năm 1751 đến năm 1772, mà lần xuất bản ấy chỉ phát hành có 4.425 bản theo đơn đặt trước.


“Làm sao anh có được bộ sách quý như thế này?” Ông bạn lại tủm tỉm cười: “Tôi trở thành chủ sở hữu bộ sách trong một trường hợp ít ai gặp. Và mua với giá rẻ đến nỗi sau khi nhận sách, tôi cứ bứt rứt hoài, như thể mình vừa làm một việc gì gian lận. Người bán sách, vốn là bạn quen, nói: Anh yên tâm đi. Lão chủ bộ sách này giàu lắm. Tiền nong đối với lão không thành vấn đề. Chẳng qua lão muốn thanh lý cho nhẹ gánh để ra nước ngoài đó thôi. Lão ta không chấp nhận phái tả cầm quyền”.


Chuyện mua bán ấy diễn ra năm 1981, khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Francois Mitterrand, vốn là nhà lãnh đạo Đảng Xã hội Pháp. Để “phòng tránh” những chính sách có thể làm trở ngại đến sự nghiệp kinh doanh của mình, không ít người Pháp giàu có thời ấy đã bỏ xứ sở sang định cư bên Mỹ.


Nhìn nét mặt chắc lộ vẻ nửa tin nửa ngờ của tôi, anh bạn nhún vai: “Đó là chuyện thật. Và đã xảy ra trên nước Pháp. Anh tính, không gặp cơ hội, thì làm sao bà vợ tôi lại cho phép tôi bỏ tiền ra khuân bộ sách này về nhà nếu phải mua theo đúng giá thật của nó?”.


III. Bên này bên kia bức tường thành


Nghĩa trang Montparnasse tọa lạc trên một khu đất hình chữ nhật, bốn cạnh là bốn đường phố sôi động, trong đó có Phố vui vẻ. Nhưng nó vẫn tạo được cho mình một cảnh quan khác biệt, có thể nói một đời sống riêng.


Nhớ lần đến Paris vào dịp cuối tuần, không có việc gì làm, tôi tản bộ vào thăm nghĩa trang. Thong thả bước trên những lối đi ngay hàng thẳng lối, được cạp bằng những hàng cây cỏ cắt xén và những luống hoa tươi, lòng mình cảm thấy như thanh thản hơn; ít ra thần kinh cũng ít bị khuấy động như lúc dạo chơi trong phố xá đông người.


Nghĩa trang không đến nỗi xám xịt và buồn tẻ như ta thường nghĩ. Có lẽ tại vị trí cái này không quá xa cách khu dân cư, nên được nhiều người chăm chút. Tôi vẫn tưởng con người sau khi đã xuôi tay nằm xuống thì giàu nghèo sang hèn ai ai cũng bình đẳng như nhau. Hóa ra không hẳn. Có những ngôi mộ đơn điệu, cùng được phủ lên nấm đất một tấm đá thật hoặc đá giả, màu xám đậm hoặc màu đen tuyền, trên mặt khắc tên người quá cố cùng năm sinh năm mất, cùng một dòng chữ thương tiếc công thức na ná như nhau. Lại có những nấm mồ trông bề thế ra phết. Những người đã yên nghỉ đời đời có thể bình đẳng. Song những người còn sống, số dư của họ trong tài khoản ngân hàng không giống nhau. Vì vậy mà có những cách tác động không giống nhau đối với người thân đã mất.


Có điều là trong nghĩa trang này, tôi chưa nhìn thấy mộ chí nào xanh đỏ tím vàng lòe lọet như mộ của một số người may mắn bên ta, sinh thời hàn vi, được con cháu vừa mới ăn nên làm ra xây dựng cho. Ở đây có không ít ngôi mộ hoàn chỉnh - thậm chí ấm áp nữa - như một công trình kiến trúc nhỏ, có khắc tên kiến trúc sư hẳn hoi. Từ cổng lớn phía đại lộ Edgar Quinet đi vào không xa, tôi nhìn thấy một ngôi mộ mới xây, thiết kế khá đẹp. Dòng chữ vàng cho biết nơi đây yên nghỉ ông Henri Langlois sinh năm 1914 mắt năm 1977, Nhà sáng lập Viện Lưu trữ phim điện ảnh Pháp, Nhà xây dựng Bảo tàng xinêma, kèm theo một câu trích trong ngoặc kép của thi hào Jean Cocteau tôn vinh người nằm ở đây vốn là “Con rồng chăm lo gìn giữ các kho báu của chúng ta”. Mộ ông đặt bên cạnh ông em sinh thời là luật sư tòa thượng thẩm, qua đời sau ông anh mấy năm.


Theo ý kiến một tờ tuần báo lớn xuất bản ở Paris cách đây chưa lâu, dường như tại Pháp hiện nay vừa nảy sinh một thiên hướng là cố gắng làm đẹp các nghĩa trang, nhằm giảm bớt vẻ “xám xịt và vô cá tính” của các mộ chí trong đó. Chủ xướng là nhà điêu khắc Pierre Aubert. Ông này khẳng định “Nền nghệ thuật về việc tang không chết đâu”. Ông quả quyết, nền nghệ thuật ấy đã có nhiều nghìn năm lịch sử vì nó ra đời cùng với những nghi thức tang chế thời thượng cổ. “Hãy nghĩ đến các kim tự tháp Ai Cập thì đủ rõ”, người nghệ sĩ nói đầy tự tin. Ông đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm, giới thiệu tác phẩm của các nhà điêu khắc về các mẫu mộ chí, về các bình đựng di hài đủ kiểu đủ dáng. Có cái nhỏ để đặt lên lò sưởi. Có cái lớn kê trên chiếc giá đỡ có bánh xe lăn. Lại có cái bán kèm sợi xích để treo trong phòng nếu bạn thích. Như vậy các thành viên trong gia đình vừa được gần gũi nắm tro còn lại của người thân đã khuất, vừa có thêm một vật trang trí mỹ thuật. Một vài nhà kiến trúc và điêu khắc ngày nay - vẫn theo lời tờ báo - thỉnh thoảng lại nhận được thư đặt hàng, nhờ giúp thiết kế và trang trí... mồ.


Để phục vụ việc tang, ở góc đại lộ Edgar Quinet và phố Emile Richard có cả một dãy hiệu lớn và sang trọng chuyên bán những mặt hàng phổ thông dùng trong nghĩa địa. Các phiến đá dùng ốp lên mộ chí nhỏ to nhiều cỡ và làm bằng vật liệu khác nhau, từ granito mài nhẵn cho đến cẩm thạch đen đắt tiền nhập khẩu từ Ý. Giá cả chênh lệch từ hai trăm đến hai nghìn frăng một tấm. Nhiều cái đã chạm sẵn hình trang trí: trái tim non, con chim nhỏ, đóa hoa hồng hoặc hình Chúa Hài Đồng. Có sẵn những câu thương tiếc ngậm ngùi được đặt ra phù hợp với thị hiếu và túi tiền của khách. Còn có thể chọn hoa mang vào viếng. Hoa tươi, họa lụa, hoa ni lông, hoa nhựa... Giá bán từ mười frăng một cụm hoa tươi cho đến cả ngàn frăng một bình hoa giả cầu kỳ.


Tôi để ý một điều khi thơ thẩn trong nghĩa trang Montparnasse. Cũng như ở mọi nghĩa trang, trên các ngôi mộ có hoa của người thân. Có hoa còn tươi rói, có hoa bắt đầu héo, có hoa lụi tàn, có hoa đã khô xác... Nhìn hoa đủ rõ thời điểm và nhịp độ các cuộc viếng thăm thưa hoặc nhặt. Lại có những hoa luôn luôn đẹp, luôn luôn tươi - chắc đấy là sự tưởng nhớ của những người thân giàu có muốn tiết kiệm... thời giờ vàng ngọc, nghĩ cách dùng đồng tiền thay cho tình cảm, dùng hoa giả thay hoa tươi.


Tháng ba, mùa xuân chớm về, hàng cây bên tường nghĩa trang đã ra nhiều lộc, song trời còn lạnh. Tôi bước ra khỏi nghĩa trang vào lúc xế trưa ngày chủ nhật. Không ngờ Paris có những lúc yên tĩnh thế này. Những dãy ô tô đỗ sát vỉa hè đều ngủ yên. Mấy hiệu cà phê - quán rượu đầu phố chưa đến giờ mở cửa. Dăm con chim bồ câu đỗ trên cành cây còn trơ trụi. Những người vô gia cư hoặc khách vãng lai cơ nhỡ nằm ngủ ngon lành trên các ghế gỗ dọc vỉa hè. Những chiếc ghế ở đây tựa lưng vào nhau - đúng hơn là hai ghế chung một chỗ tựa. Trên băng bên này, một người khoanh tay lên ngực ngủ. Băng bên kia, một người quay lưng lại ngủ. Trên chiếc ghế đằng kia, một người ngồi ngủ, dáng điệu mệt mỏi, chiếc ba lô đặt bên cạnh. Nếu những người bất hạnh này vào được trong nghĩa trang, họ có thể tìm nhiều chỗ ngả lưng rộng và thoải mái hơn, song họ thường bị người gác cổng chặn lại, không cho bước vào. Có vào được chăng nữa thì cũng không được phép ngồi lâu hay nằm lại ở bất cứ đâu. Giờ của họ chưa điểm. Vả chăng cái nghĩa trang này đâu có phải được xây lên để chờ đón họ.


Những con người mà ta quen gọi là người lang thang cơ nhỡ, hoặc những người không có họ hàng thân thích không nơi cư trú, tóm lại những người vô gia cư, thì bên Tây người ta khéo dùng chữ bóng bẩy hơn chuẩn xác hơn. Người ta gọi đó là những “người không nơi cư trú cố định”, sans domicile fixe. Ta vẫn được gặp các SDF ấy trên truyền hình vào những ngày đông tháng giá khắc nghiệt, khi nhiệt độ ngoài trời ở đô thành Paris tụt xuống dưới con số không. Mỗi năm đến cữ này, báo chí lại đưa tin ở phố nọ phố kia có người chết cóng, có người phải đưa vào cấp cứu tại bệnh viện làm phúc. Các tổ chức từ thiện lại hò nhau đưa xe đi nhặt họ đang tránh gió rét ở một góc ngõ cụt nào, đưa về những nơi cư trú tạm thời: trường học nghỉ đông, kho hàng bỏ trống. Lại thấy cảnh trên ti vi chiếu những nồi xúp bốc khói và dòng người với những khuôn mặt sạch sẽ đỏ ửng vì họ vừa được vào tẩy uế thân thể trong nhà tắm nước ấm ra, xếp hàng nhận suất ăn. Lại có nhiều dãy giường trải những tấm ga sạch sẽ chờ họ. Báo chí cho biết, mỗi đợt rét như vậy Nhà nước và các tổ chức từ thiện đã giúp cho những bao nhiêu chục thậm chí cả trăm người được ăn no ngủ ấm vài đêm. “Nhưng rồi nhiều người tìm cách trốn ngay khỏi nơi họ được tập trung, vì họ không thích cuộc sống tù túng, vì sinh hoạt ở đây không phù hợp với nếp sống quen thuộc của họ, vv. và vv.” - nghe cô phát thanh viên xinh đẹp trên truyền hình nói vậy thì tôi biết vậy. Không nghe truyền hình phân tích số người được giúp đỡ đột xuất này chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần nghìn phần vạn trong số mười mấy triệu cư dân của đô thành hoa lệ.


Tất nhiên xã hội giàu có đến đâu cũng vẫn có ăn mày. Tôi quan sát thấy ăn mày bên Tây không có được sự tự do thoải mái như ở bên ta. Ta hơn Tây ở chỗ người ăn xin cứ tự do bám riết đuổi riết những ai nhìn có máu mặt, nhất là khách nước ngoài, níu kéo vạt áo buộc người ta quay lại mới chìa bàn tay ra xin. Ở Paris, những người đói khát xin ăn một cách lặng lẽ, và chính vậy làm cho ta xúc động nhiều hơn. Trên góc những quảng trường đô hội nhất, giữa những cơn gió hút căm căm, một chị phụ nữ bế con trong một chiếc khăn trùm kín, chỉ để hở khuôn mặt tái xanh vì rét. Mẹ con chị lặng im sau chiếc ống bơ đựng mấy đồng xu người nào vừa làm phúc. Có lẽ chị không còn hơi sức cất lời van. Cũng có thể là chị không biết nói gì. Hoặc là dưới ga xe điện ngầm, đầu chiếc thang cuốn không ngừng đưa hàng vạn người lên kẻ xuống, thỉnh thoảng ta lại bắt gặp một người đàn ông lặng lẽ quỳ lên một tấm bìa lót dưới đầu gối - cho đỡ đau và cho đỡ thấm lạnh - sau một mảnh bìa viết hai chữ: Tôi đói. Cũng có mảnh bìa nói thay, cụ thể hơn: Tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì. Phần lớn những người này nhập cư bất hợp pháp, không có việc làm, không người thân thích. Họ ít được ai bảo vệ.


Ai cũng biết Pháp là một trong những nước giàu nhất thế giới. Thu nhập quốc nội tính theo đầu người năm 2000 vượt quá hai mươi mốt ngàn đô la. Cứ mười người dân, từ em bé mới nứt mắt cho đến cụ già kề miệng lỗ, thì có bốn xe hơi. Tỷ lệ thất nghiệp từ hơn mười hai phần trăm năm 1997, nhờ giảm bớt giờ làm việc, rút xuống xấp xỉ mười phần trăm năm vừa qua. Đấu tranh xã hội không lúc nào ngơi. Các vấn đề nhập cư, tội phạm rất nhức nhối.


Một lần, ở quầy trả tiền một siêu thị Ed - loại siêu thị chuyên phục vụ khách hàng nghèo - tôi thấy một người đàn ông Bắc Phi mua mấy thức ăn gì đó. Anh cầm trên tay một lon nước ngọt Seven Up. Anh lục tìm các túi nhưng hình như anh đã tính toán sai, không đủ tiền trả. Anh lặng lẽ bỏ lon nước ngọt lại ở ngay chỗ trả tiền. Rồi cầm gói thức ăn lặng lẽ bước ra. Không nhìn ai. Không nói một lời. Tôi nhớ hoài khuôn mặt cân đối mà buồn rười rượi của anh.


Cũng cần phải nói là ăn mày ở đây có nhiều dạng. Một lần đến Paris, tôi trọ tại một khách sạn không xa “Phố vui vẻ”. Mỗi lần đi cắt ngang cái ngõ để ra đại lộ Montparnasse, tôi lại nhìn thấy người đàn ông ăn xin ấy. Một người béo tốt, mặt mũi phương phi lại kèm một bộ ria khá oai vệ. Dạo ấy vào mùa đông. Ông ta mặc chiếc áo va rơi nhà binh kiểu NATO màu xanh ô liu gần như còn mới và chiếc quần bò sạch sẽ. Cạnh ông là một chiếc túi du lịch to căng phồng, tôi đồ chừng đựng chăn đắp. Và một con chó bécgiê to lớn mập mạp không kém chủ, cổ đeo đai da, nằm sát vào người đàn ông ngủ ngon lành. Không rõ giữa vật và người ai đang tận hưởng hơi ấm của ai đây. Thấy tôi nhìn, anh bạn dẫn đường vội nói: “Đấy là một người ăn mày. Ta đi đi”. Vừa lúc ấy có một đôi thanh niên nam nữ chắc từ xứ khác mới đến, tò mò dừng lại xem. Người hành khất có vẻ không hài lòng, đưa tay vỗ nhẹ lên lưng con vật. Như đã được tập luyện, con chó ngẩng đầu, sủa một tiếng rõ to, đầy hăm dọa. Cô gái phát khiếp kéo bạn chạy. Nhưng con vật chẳng buồn cựa quậy. Sau tiếng sủa ngắn, nó lại chúi đầu vào lưng chủ tiếp tục giấc ngủ ngon lành.


2001


Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info







(*) Nu intégral (tiếng Pháp): Lõa thể hoàn toàn.


Live show (tiếng Anh): Trình diễn trực tiếp (sống).




(*) Couple sur Scène (tiếng Pháp): Đôi nam nữ trên sân khấu.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »