tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282802
Tiểu thuyết
24.05.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

 


Nhân làm việc khảo duyệt bộ “Khâm định giảm cương mục”, Nguyễn Thông soạn quyển “Việt sử cương giám khảo lược”, ghi chép những điều nhận xét của ông trong khi duyệt lại bộ sách do Quốc sử quán biên soạn, sắp khắc in để công bố. Tất cả có 167 điều đề nghị sửa đổi và một số bài khảo cứu riêng về các nước, như Đại Việt- Nam, Lâm – ấp, Chân – Lạp, Xiêm – La, Ai – Lao, Nam – Chiếu… Ông đã khảo sát tình hình vận tải đường bể của nước ta: Thời Minh Mạng, Thiệu Trị những tàu thuyền ở Nam ra và Bắc vào rất là tấp nập. Từ năm Tự Đức thứ 2(3) trở về trước, hằng năm thuyền quan và thuyền dân có tới 261 chiếc (thuyền quan 74, thuyền Bắc 74, thuyền Nam 113), chở gạo 50 vạn phương, tiền 100 vạn quan, đưa đến cung cấp cho kinh đô. Từ năm ấy trở về sau, ngoài biển có giặc, gạo chở thuyền thường không đủ số cần dùng. Thuyền dân chuyên chở lại bị bọn lại thuộc làm khó dễ, hoặc cũng bị chìm đắm, phải bồi thường đến phá sản. Cũng có một số luôn năm bị sung công để vận tải, cho nên thuyền chủ đục thuyền bỏ nghề để cho khỏi phải phục dịch. Do đó, số thuyền giảm sút, cục vận thải chịu ngồi nhìn, không thể làm cách gì được. Mấy năm gần đây, có kẻ đề nghị chịu trả giá đắt thuê thuyền Hoa thương chuyên chở, nhưng mà đem tiền của nước hằng năm chi tiêu để thuê người nước ngoài làm việc tiếp tế thì là một kế làm cho ta phải cùng quẫn! “Thì ra dù làm công việc viết sử, soạn sách, lúc nào ông cũng quan tâm đến lợi ích của dân nước hiện tại. Ông đã ghi chép về quần đảo Hoàng Sa hay Tây Sa như sau: Vạn Lý Trường Sa thuộc đảo Lý Sơn, tỉnh Quãng Ngãi (tục gọi ngoài Lao, người Trung quốc thì nói ngoài La). Đi thuyền theo hướng đông chạy ra, chỉ ba ngày đêm đến nơi. Nước Đại Việt Nam ta xưa kia thường chọn người đinh tráng ở hai hộ An hải và An vĩnh đặt làm đội Hoàng Sa để thu lượm hải sản, mỗi năm cứ tháng hai đi ra, tháng tám trở về.


Bãi cát từ đông qua nam, nổi lên chìm xuống, kể hàng nghìn trăm dặm, trong đó có vũng sâu, thuyền tàu có thể đậu được. Trên bãi có sản xuất nước ngọt, chim muông phần nhiều không biết gọi tên gì. Có ngôi miếu cổ lợp ngói, có tấm biển khắc 4 chữ: “Vạn lý ba bình”(1), không rõ xây dựng từ đời nào. Quân lính ra đó thường mang các thứ cây quả phương nam tới gieo trồng xung quanh để ghi dấu vết. Từ ngày đội Hoàng Sa triệt bãi cho đến nay, không còn qua lại chốn ấy như trước nữa.


Năm Đinh Sửu(2) sau khi hoàn thành bộ “Việt sử cương giám khảo lược”, Nguyễn Thông được thực thụ chức Tư Nghiệp, kế đổi làm Hàn lâm viện Thị giảng, sung chức Danh điền sứ tỉnh Bình Thuận.


Vừa đến Bình Thuận Nguyễn Thông mắc bệnh thổ huyết, chết đi sống lại nhiều lần nhưng vẫn gượng họp Hội đồng khám xét, vẽ bản đồ đầy đủ những nơi đồn khẩn, cho một số người từ Nam kỳ đến khai hoang ở các xứ Đồng My.


Từ khi Nguyễn Thông còn ở trong Nam đã thấy vùng thượng du các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Bình Thuận, Khánh Hòa trở ra các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị đến chín châu lệ thuộc qua tới một dải đất ven sông Cửu Long, địa thế rộng rãi bằng phẳng, thổ dân cần cù, sản vật phong phú, có thể lập thành vùng sơn quốc, nên đã tâu xin đồng khẩn, cho dân đến ở để xây dựng căn cứ địa kháng chiến lâu dài.


Khi đó triều đình đã ký hiệp ước Giáp Tuất nhượng hết sáu tỉnh Nam kỳ cho Pháp và đồng ý cho chúng tự do đi lại trên toàn cõi Việt Nam. Bọn Pháp ở Gia Định lấy làm lo sợ trước chủ trương đồn khẩn của Nguyễn Thông, gửi thư cho triều đình Huế ngăn trở. Tự Đức xuống chỉ triệt bãi. Nhưng muốn an ủi Nguyễn Thông nên mùa đông năm đó Tự Đức cho Nguyễn Thông lãnh chức Bố chánh tỉnh Bình Thuận.


Năm sau bệnh thổ huyết phát lại, Nguyễn Thông phải xin nghỉ dài hạn ở trại núi thôn Vĩnh Hòa tại Phan Thiết.


Tưởng đâu lúc này, ông đã thực hiện câu kết trong thơ tặng Nguyễn Tư Giản: “Sơn trung qui lai, ngọa thính viên hạc khiếu”…


Nhưng dù ở trong nhà ngục Quãng Ngãi, ở kinh đo hay trong rừng núi Bình Thuận, không lúc nào ông quên quê Nam, quên phần mọ tổ tiên, quên họ hang làng xóm, quên những bạn cũ như Thủ khoa Nghĩa, Cử Trị và những học trò của ông trong số đó có Nguyễn Giao…


Một hôm có ông già nhà quê biếu Nguyễn Thông chim đa đa, nói rằng tiết mùa xuân năm nay chim béo, nấu cháo rất ngon. Ông nhớ sách xưa còn gọi đa đa là chim “hoài nam” nghĩa là nhớ miền Nam, bất giác ngậm ngùi thương xót, bèn mở lồng thả nó ra, nhân đó làm bài thơ ghi lại mối cảm xúc lúc bấy giờ:


“Phóng nhĩ nam chi phản cố sào,


Sơn kê cựu lữ cộng chiêu yêu.


Khê biên ấm trác tu căng thận,


Mạc khiến vi khu trụy lão thao”.(1)


Mỗi khi có người vào Nam công cán, như ông Nguyễn Thiện Quan trước làm chi phủ ở Tân bình Gia Định, nay lại vào Gia Định kiêm chức Lãnh sự, ông lại làm thơ tặng:


“Tặng quân khố phạm trù hải thiên


Kiểu thủ thiên nam trướng vân thụ”(2)


Thập chí có người quê Gia Định voà Nam tặng quà cho quan binh Pháp, ông ngỏ ý:


“Ngã dục hoán quân quan chức tiểu


Mỗi nhân công cán đắc hoàn hương”(3)


Ở Bình Hoàn gặp người đồng hương là Lang, ông làm thơ tặng, gửi gấm tâm sự:


Vọng tận thiên Nam chiến huyết tinh


Thập niên mã thú mộng Mai Đình(4)


Nỗi lòng nhớ quê Nam của ông được bộc lộ đầy đủ trong bài thơ của ông Doanh điền phó sứ Bùi Bá Xương:


“Ngưu Chử vô đoan tác chiến trường,


Trấp niên giang hải túy vi hương.


Đồng lai cố quận duy quân tại,


Quán xúc nguy cơ tiếu ngã cuồng.


Triều luận không văn đàm ngũ lợi,


Vân phàm hà nhật hạ trùng dương.


Chỉ kim Yên Triệu bi ca khách,


Nhiệt huyết điền ưng lữ mấn sương”.(5)


 Mười năm mơ được quay đầu ngựa hướng về Gò Cây Mai.


Sung sướng nhất cho Nguyễn Thông là khi gặp lại những bạn chiến đấu ở miền Nam như Trần Thiện Chánh tức Tử Mẫn, Trà Quý Bình… để cùng ôn lại những kỷ niệm hồi sát cánh đánh Pháp, và trao đổi với nhau về tin tức từ miền nam đưa ra. Nghe tin Nguyễn Hữu Huân bị xử chém ở Côn Rồng, Mỹ Tho, Nguyễn Thông vô cùng đau xót. Ông bỗng nẩy ra ý định ghi lại truyện về những anh hùng nghĩa sĩ miền Nam như Phan Văn Đạt, Trương Định, Hồ Xuân Nghiệp…


Cuối truyện Hồ Xuân Nghiệp, Nguyễn Thông viết: “Từ khi người Tay gây biến ở Lục tỉnh, sĩ phu và dân chúng liều mình đứng lên, khẳng khái chịu chết kể không xiết được, như Đỗ Trình Thoại ở Tân Hòa, Nguyễn Lịch(1) ở Tân An đều là những tấm gương chói lọi. Còn như ở chốn làng xa ngõ hẻm, những trinh phụ liệt nữ, trọng nghĩa không chịu ô nhục, chống giặc đến chết, chính tôi biết được có hơn chục người. Tiếc rằng thời thế đổi dời, đường sá cách trở, sự tích không sao biết rõ được”.


Ông chỉ mong có dịp về Nam chiến đấu cùng với đồng chí, bà con và ghi chép bổ sung những sử tích oanh liệt ấy…


X- Tin ông Thủ khoa Nghĩa bị bắt lan đi khắp nơi, dân chúng đều xôn xao phản đối. Thấy đã không mua chuộc nổi ông mãi, càng ngày gây thêm lòng căm hờn của dân khiến phong trào khởi nghĩa ngày càng lan rộng, cuối cùng bọn Tây đành phải thả ông để mua lòng dân chúng, cốt cho mọi người tin vào chính sách khoan hồng của nhà nước sTin ông Thủ khoa Nghĩa bị bắt lan đi khắp nơi, dân chúng đều xôn xao phản đối. Thấy đã không mua chuộc nổi ông mãi, càng ngày gây thêm lòng căm hờn của dân khiến phong trào khởi nghĩa ngày càng lan rộng, cuối cùng bọn Tây đành phải thả ông để mua lòng dân chúng, cốt cho mọi người tin vào chính sách khoan hồng của nhà nước Lang Sa.


Bùi Hữu Nghĩa thầm nghĩ: đúng là ở hiền thì lại gặp lành, đã ba lần mình bị giam suýt chết mà rốt cuộc đều thoát nạn. Việc gì cũng có nhân quả trước sau. Nếu trước kia mình theo lịnh triều đình ức hiếp dân thì tuy có thể thoát chết về tay triều đình, nhưng đến khi mất đồn Vĩnh Thông mình bị dân bắt, cũng khó lòng thoát khỏi cái chết. Chết vì bảo vệ dân, đó là cái chết thơm tho trong sạch, còn chết vì theo triều đình bức hại dân thì đó lại là cái chết nhục nhã, để lại tiếng xấu ngàn thu. Cũng như vừa rồi mình kiên quyết không theo giặc, chúng buộc phải tha mình để lấy lòng dân, từ đó suy ra mình thấy cư xử sự hợp lòng dân thì sẽ đạt được kết quả tốt đẹp, còn ngược lại với lòng dân thì sẽ chuốc lấy tai họa. Thế mới biết ở đời khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống, biết đây là đường ăn ở cho phải đạo làm người. Còn nếu chỉ ăn theo thuở, ở theo thời, thì có khi gặp may mà cũng có khi gặp rủi. Mình biết dựa vào dân thì kẻ gian tà không hại nổi mình mà còn khiến cho những kẻ quyền thế ở tột đỉnh nấc thang thống trị phải kiêng dè không dám đụng đến mình vì chúng biết làm như vậy sẽ chuốc lấy sự công phẫn của dân chúng. Thấy điều nghĩa thì làm, không đoái đến sống chết, đó mới là con đường sống. Tùy theo cái gốc nhân cách của mình mà mỗi người có một cách ứng xử khác nhau, có người tưởng mình là khôn mà lại hóa ra dại, có người tưởng mình xử trí cách khác nhưng rút lại vẫn xuất từ cái mầm mống là tâm địa của mình.


Ra khỏi ngục, Bùi Hữu Nghĩa không về Vũng Liêm ngay để đánh lạc hướng bọn tay sai của giặc vì biết chúng vẫn để tâm theo dõi ông, nếu về ngay thì sẽ lộ hình tích của nghĩa quân đang trong thời kỳ trứng nước. Ông định đi khắp nơi kêu gọi dân chúng đứng lên chống giặc hưởng ứng nghĩa quân Cầu Vông. Thuyền đi trên dòng kinh Thoại Hà ở Châu Đốc, ngẩng đầu lên nhìn thấy núi Sập, được mang tên Thoại sơn để ghi nhớ công lao Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại đã đứng ra đôn đốc việc đào kinh. Hồi còn đóng ở đồn Vĩnh Thông, ông đã có lần đi qua Thoại sơn. Núi vẫn trơ đó mà đời ông đã biết bao thay đổi. Lần trước qua đây ông từng có ý nghĩ, nếu mình ra ải ngoài chặn giặc ngoại xâm thì đã đi một lẽ, đằng này lại đến biên giới để dẹp dân chống đối thì đó là điều không phải. Không ngờ tới nay có giặc ngoại xâm đến thật mà tuổi ông lại già rồi không thể cầm gươm ra trận được. Khi thuyền đi qua Vàm Nao, nước xoáy dữ doọi, thật quả như người ta nói “nước chảy đứt đuôi rắn”. Đến núi Sập thì từng đàn muỗi từ các bụi lau sậy bay ra, tiếng kêu vo vo làm náo động một vùng Đối cảnh sinh tình, ông làm bài thơ “Đi thuyền qua Thoại sơn”:


Một thuyền cầm hạc một mình ta,


Đường hiểm Giang Nam khắp trái qua.


Núi Sập sấm rền vang tiếng muỗi,


Vàm Nao nước chảy đứt đuôi xà.


Văn chương mới thử năm hay bảy,


Võ lược chưa truyền sáu với ba.


Gà gáy học đòi người dậy múa,


Luống e năm tháng dễ ta bà.


Câu bảy ông nhắc đến Tổ Địch đời Tấn, khi thấy giặc Hồ xâm phạm Trung nguyên, trong lòng lo lắng, nghe tiếng gà gáy nửa đêm vùng dậy múa kiếm ôn luyện sẵn sàng ra giết giặc. Mình mới theo đòi văn chương học năm kinh bảy truyện chứ chưa học võ nghệ đủ lục thao tam lược, như vậy sao có thể xông ra chiến trường diệt giặc được. Nhưng ông lại nghĩ mình có thể mượn bút làm gươm, dùng lời văn thúc giục mọi người đứng lên cứu nước. Trong một cuộc xướng họa ở Tao đàn bà Đồ, chính bà đã lấy mấy chữ “Gươm bút Long Tuyền” làm đầu đề. Lúc ấy có chỉ có ý chơi chữ, nhận thấy Long Tuyền vừa là tên một thanh gươm báu vừa là tên xã hai người đang ở. Nưng ngày nay thời cơ giết giặc đã tới, ông phải biến ngọn bút thành lưỡi gươm Long Tuyền.


Ngày hôm sau, Bùi Hữu Nghĩa ghé thuyền lên bờ rồi đi sâu vào vùng Bảy Núi hùng vĩ. Núi bên trái. Núi bên phải. Núi phía trước. Núi đằng sau. Vô vàn đá dựng đá chồng dọc theo đường đi, có những tảng đá to cao vút đứng giá nghiêng nghiêng bên mép một hòn đá nhỏ, tưởng chừng trong chốc lát có thể sập xuốgn đổ đầu người. Bùi Hữu Nghĩa nhìn lên, trên cái chóp nhỏ của tảng đá chông chênh kia, một tảng đá vuông đại vắt qua quá nửa, một đầu chỏng lên, đầu kia chúc xuống thoai thoải, như mái nhà. Ông thầm nghĩ, nếu nghĩa quân đặt căn cứ trong vùng núi non hiểm trở như thế này, thì Tây cũng khó lòng tiêu diệt nổi.


Xem xét vùng Bảy Núi một lượt, Bùi Hữu Nghĩa nảy ra ý định nếu sau này nghĩa quân gặp trở ngại, có thể rút về đây cố thủ để chống giặc lâu dài. Khỏi vùng núi non đến một cánh đồng trống mênh mông, rồi đến vùng dân cư. Đường đi rất khó khăn, khi thì qua bụi rậm gai góc um tùm, khi thì qua bụi rạm gai góc um tùm, khi thì qua bãi sinh lầy nước ngập lênh láng. Cành tre gai cào xước da thịt, đỉa vắt bu đầy ống chân hút máu, muỗi bay hàng đàn đuổi theo đốt tối tăm mặt mũi. Những ngôi nhà sàn cao vách vách kề bên những ngôi nhà lợp lá dừa nước, vách đan bằng sậy, tường đất. Bùi Hữu Nghĩa xin vào trọ nhờ, dân chúng ở đây thấy ông tuổi già mà tướng tốt đều đem lòng kính nể. Trong thời gian nán lại ở đây, ông lân la trò chuyện với mọi người, khêu gợi lòng căm hờn của họ đối với lũ giặc cướp nước và khuyên họ tập hợp nhau lại, luyện tập võ nghệ, chờ đợi thời cơ đứng lên chống giặc. Mọi người đều hứa một khi nghĩa quân rút về đây sẽ được dân chúng vui lòng đón tiếp, che chở vá sát cánh cùng anh em đánh giặc. Trước mắt, họ sẽ bảo nhau tích trữ lương thảo để nuôi quân, rèn đúc thêm khí giới dùng vào việc lớn.


Nhìn về núi Tượng với hình dáng một con voi nổi bật trên nền trời xanh, Bùi Hữu Nghĩa tưởng chừng voi đang nằm phủ phục đón người anh hùng cưỡi lên xông ra chiến trường phá giặc. Hình ảnh Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo lẫm liệt trên bành voi phất cờ lệnh chỉ huy tướng sĩ hiện lên trong óc. Bùi Hữu Nghĩa thầm nhủ: Bắc Nam là một nước, hào khí Đồng Nai nào có khác gì hào khí Đông A.(1)


*


Được cử thay tên Thực làm chủ quận Vũng Liêm, Tôn Thọ Tường hết sức lo lắng. Từ trước tới nay, y chỉ dựa vào tài văn chương lẻo mép, tăng công với quan thầy, tố cáo người này, mua chuộc người khác, chứ có quen nghề cai trị bao giờ, nhất là cai trị một vùng đất dữ như đất Vũng Liêm này.


Song y lại nghĩ, vẫn có thể dùng văn chương giúp vào cai trị. Các ông Tú Chiểu, Cử Trị làm thơ văn xúi giục chống Tây được thì mình làm thơ văn khuyên mọi người ra hợp tác với tân trào cũng được chớ sao. Tường tính viết một bản lời truyền thị để khuyên bảo dân chúng.


Vừa viết được mấy dòng, Tường giựt mình nghĩ lại. Trước đây mình làm những bài “Từ Thứ quy Tào”. “Tôn phu nhơn quy Hơn” và mười bài “Tự Thuật” nhằm thanh minh theo Tây là bất đắc dĩ để đánh lừa công luận. Bây giừo lại soạn lời truyền thị như vậy tức là đã vứt hẳn cái mặt nạ thương dân thương nước rồi còn gì.


Nghĩ như vậy nhưng sức cám dỗ của vinh hoa phú quý vẫn cứ mạnh hơn. Thôi đã theo lỡ phải theo luôn, muốn gác ngoại vòng thoi mãi cũng không được. Trước đây Tường đã từng viết trong bài “Tự thuật”: “Trâu ngựa đầu kêu chi cũng mặc. Than còn chẳng kể kể chi danh”. Thế là Tường tặc lưỡi cầm bút viết tiếp. Những chữ như đàn sâu từ khúc gỗ mục nối nhau bò ra đen ngòm mặt giấy:


Ra lời truyền thị, tỏ lời với dân


Làm người phải biết giả chân


Chớ khá nghe lời huyễn hoặc


Xưa sáu tỉnh súng đồng, giáo sắt


Ô lê, tàu hải rỡ ràng


Thành tỉnh pháo đài nghiêm nhặt


Bộ công, thủy chiến thảy kiêng nhường


Chẳng trọn ngày trúc chẻ, ngói tan!


Xứ Gia Định là đầu sáu tỉnh


Sau những Đại đồn Lãnh Định


Cũng là Mỹ Quý, Tháp Mười


Có lương, có súng sẵn đông người


Làm hết sức cũng không nên dáng


Chẳng những là thiên mạng


Cũng hiệp với nhân mưu


Nên triều đình trước đã hòa hưu


Sau kinh lược cũng đành giao cát


Thiếu chi kẻ anh hùng lỗi lạc


Cũng phục tùng mà hộ quốc, vì dân


Còn như người minh triết bảo than


Thì thoái đòn mà an sanh lạc nghiệp


Có chăng phường đạo kiếp


Bày ra cuộc mộ quyên


Ấy là chước kiếm tiền


Ấy là mưu trốn nợ


Kiếm chỗ vắng mà bắt lính đưa lương tở mở


Khoe tài trong rừng bụi, khen cho bay múa gậy vườn hoang


Lừa hở cơ mà phất cờ gióng trống nhộn nhàng


Muốn địch với quan binh, ví chẳng khác bắc cầu qua biển cả…


Viết đến đây, Tường cảm thấy không sướng bút như hồi làm mười bài Tự thuật, mặc dầu cũng vẫn cái ý như vậy: “Biển mênh mông bạc, cầu lăm bắc. Xanh mịt mù trời, thước rắp đo”. Hồi đó Tường chưa dấn sâu vào con đường tội lỗi, lời văn cũng còn chút chải chuốt. Nhưng đến nay Tường đã lộ rõ bộ mặt nhơ nhuốc rồi thì lời văn cũng trở nên ngượng ngạo, trơ trẽn. Thì ra lời văn màu mè, bóng bảy cũng không che đậy được tâm địa thối nát, xấu xa. Mà đến khi cả cái vỏ ngoài cũng trở thành lem nhem kệch cỡm thì đúng là: Màu hồ đã mất đi rồi. Ôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma! Tường thầm nghĩ không chỉ lương tâm mà cả cái tài văn chương cũng đã bỏ Tường ra đi vĩnh viễn. Tường không hòng làm được một bài văn chữ nghĩa điêu luyện nữa. Tường lại cắm đầu viết lia lịa, lần này những chữ hiện ra dưới ngọn bút của y chỉ là những chữ vô hồn, không sinh khí, đặc sệt giọng quan quyền và sặc mùi ánh từ hình ngục:


Muốn cho dặng an trong làng xã


Thì phải lo giữ kẽ gian tà


Hễ thấy ai bày mẹo nghịch ra


Bắt lấy nó mà ngăn ngừa trước


Nếu làng ta thế nhược


Chúng nó đến hùng hào


Thì phải liệu mưu nào


Cầm lại đó mà bảo quan tập nã


Như vậy mới khỏi điều di họa


Chi cũng không hơn chước giữ mình


Lũ hoang đàng đã chẳng dám khinh


Mà nhà nước lại càng thêm trọng


Lẽ phải chăng ta đà suy rộng


Lời thiệt hơn kể lại rõ ràng


Khuyên các tổng các làng


Đều khá hết lòng hết dạ


Nếu đem lòng khi trá


Mà làm mẹo dị tùng


Lời ta dặn dầu chẳng rèn lòng


Họa mau tới khôn bề cắn rún.


Viết đến câu chót, Tường cảm thấy tất cả sự bất lực của lời hăm dọa ấy. Y đã từng chiêu dụ ông nghè Phan Hiển Đạo, nhưng sau đó ông lại hối hận vì đã trót nghe lời đường mật của y để tiếng đời biếm nhẽ cười chê nên uống thuốc độc tự tử. Vừa rồi y lại chiêu dụ ông Thủ khoa Nghĩa cũng bị cự tuyệt. Bây giờ y mới hiểu ra rằng: điều đáng hối hận không phải là vì không sớm liệu đường tránh khỏi tai họa mà vì làm trái với lương tâm. Thì ra sự trách phạt của lương tâm còn đáng sợ hơn súng ống và binh lực của người Lang Sa. Nhưng đến giờ mới nghĩ đến sự trong sạch của lương tâm thì đã quá muộn, y đã trót đặt lương tâm vào canh bạc đỏ đen rồi! Y bỗng nhớ đến một câu chuyện cũ: có người trời mưa đi đôi giày mới, lúc đầu còn rón rén vì sợ lấm bùn, nhưng đến khi giầy đã trót vấy bùn rồi thì cứ thế bước liền không nghĩ gì đến giầy nữa. Thôi đã đâm lao thì phải theo lao, trót đi với ma thì cứ mặc áo giấy. Đã theo Tây rồi thì cứ cúc cung tận tụy với họ còn được hưởng vinh hoa phú quý, chứ nếu chùn bước, e họ nghi là có nhị tâm sẽ trừ khử không tha.


Trước đây y còn tự hào mình vừa là một ông quan vừa là một nhà thơ nhưng đến nay y đã hiểu muốn làm thơ thì thôi làm quan mà muốn làm quan thì thôi làm thơ. Ngọn bút từng phê án giết người lương thiện, yêu nước, ca tụng công đức các “quý quan”, không thể nào viết được những giòng thơ hay chan chứa tình người có ý vị triết lý sâu xa. Thơ là một cái gì thiêng liêng không thể đùa bỡn với nó được, không thể đem thơ ra đánh đĩ như bọn me Tây gái điếm…


Đốm lửa bấc trên đĩa đèn dầu phộng bừng sáng lên rồi phụt tắt báo hiệu cái chết của một nhà thơ. Con thiêu thân sa vào lửa cánh cháy xém vẫn cố kéo lê thân mình để lại một vệt khói đen trên lòng dĩa…


*


Trong khi các bài truyền thị của Tương chuyển đi khắp làng thì đội nghĩa quân Cầu Vồng cũng họp nhau bàn bạc.


Lê Cẩn lên tiếng:


- Cái thằng Tường ấy giỏi cho nó bợ đỡ Tây khuyên dụ bà con mình cúi đầu cam phận làm tôi tớ cho giặc. Các ông nghĩ sao?


Nguyễn Giao băn khoăn:


- Tôi chỉ sợ dân chúng sẽ nghe theo lời truyền ấy mà ngã lòng chăng?


Mai Đăng Xuân cười nói:


- Chú em còn nhỏ tuổi, chưa thấu được cho tường tận lòng dạ bà con. Không đâu. Tôi chắc phần đông dân chúng đều sẽ khinh khi người viết lời truyền thị, ngoài những kẻ vong bản thì không kể.


Hoàng Cao Hổ bàn:


- Hay là ta cử một người đứng ra viết một bài hích đập lại lời truyền thị của chúng.


Lê Cẩn ngẫm nghĩ:


- Trước đây khi tôi còn theo hầu quan Tổng thống quận vụ Nguyễn Tri Phương, thấy ngài giao việc thảo hịch cho quan đốc học Mạc Như Đông là người văn hay nổi tiếng. Bây giờ biết lấy ai là người đảm đương được việc đó. Hay là anh Nguyễn Giao thử đứng ra thảo hịch xem sao?


Nguyễn Giao ngần ngại:


- Ở đây có ông Cử ông, Nhiêu là bậc văn học lão thành, tôi đâu dám đánh trống qua cửa nhà sấm.


Cử Trị cười:


- Bọn tôi từ lâu quen làm thơ phóng túng, ra ngoài khuôn phép. Không thích gò bó theo lối văn tứ lục. Anh Nguyễn Giao từng tập văn trong trường quan Đề học Nguyễn Thông, làm phú đã thành thục, anh cứ đứng ra thảo hịch đi, rồi bọn tôi sẽ xin góp ý…


Thấy Nguyễn Giao vẫn khiên nhượng, Nhiêu Tâm nói:


- Có câu “Hậu sinh khả úy”(1), biết đâu anh Nguyễn Giao lại chẳng làm văn hay hơn bọn tôi. Mỗi người có một thời, bọn tôi tuổi già rồi ngọn bút cũng không còn được tung hoành, hào sảng như hồi trẻ nữa. Anh đừng quá khiêm, cứ đứng ra chấp bút đi.


Được mọi người khuyến khích, Nguyễn Giao nhận lời. Lúc đầu tưởng dễ dàng nhưng khi cầm bút lên lại thấy hết sức khó khăn. Nguyễn Giao vón là con nhà nông dân, cha mẹ thấy thông minh sáng dạ nên cho theo học thầy đồ trong làng. Học hành mỗi ngày một tấn tới, chàng được lên tập văn ở trưởng của quan Đề học Nguyễn Thông. Những bài văn của chàng đều được quan Đề học khuyên son đỏ chói. Nhưng dẫu sao cái học ỏ nhà trường vẫn là cái học cứ tứ, với những bài chiếu, biểu, văn sách theo thể thức cũ kỹ sáo mòn, cốt để vừa lòng quan chấm thi, người học trò nếu thêm một ý mơi không có nguồn gốc trong kinh truyện, điển cổ, sẽ bị quan trường bắt bẻ, đánh hỏng. Nay làm bài hịch cốt để kêu gọi những người dân thường ít chữ nghĩa đứng lên chống giặc, nếu dùng nhiều điển tích thì họ hiểu làm sao nổi. Nguyễn Giao nhớ hồi thầy mình đọc cho nghe bài hịch do quan đốc học Như Đông soạn, lời văn tuy hay nhưng cũng có những câu khó hiểu như: “Bốn bảy Nam Dương phó vạc Hán, hội rồng máy đua chen gót tưng bừng: Năm ba Đồng thổ chống lèo Châu, cơn mưa tuyết chẳng trừ đàng chính dịch”. Bài hịch ấy kêu gọi dân đánh giặc theo lệnh vua nên mới có câu: “Ai có công triều cũng không quên, tranh Lân các phấn son thêm rực rỡ: Người ở phải trời dành cho phứoc, nhà Ô ly lan ngọc cũng xum vầy”. Lần này mình hô hào những người dân chống mệnh vua, dùng cày cuốc chọi nhau với giặc, cũng là điều chư từng có trong kinh điển đời xưa lúc nào cũng đê cao hai chữ “trung quân”. Như vậy khó lòng dũng nghĩa lý trong sách cũ mà phải nghĩ ra những ý mới. Việc chống với lũ giặc phương Tây tới, tiếng nói khác, cách ăn mặc khác, dùng vũ khs và cách bài binh bố trận khác… cũng là điều mới so với những cuộc chinh chiến thời xưa nên không thể dùng cách nói cũ…


Nghĩ mãi chưa viết nổi một dòng nào, bỗng trước mắt Nguyễn Giao hiện ra hình ảnh Văn Xương Các mà hôm nào chàng mới tới dự lễ khánh thành. Thật là lạ lùng, thành trì của triều đình với hào lũy kiên cố, súng ống đầy đủ vậy mà còn sập đổ trước đại bác của giặc. Nhưng Văn Xương Các vẫn đứng vững trơ gan cùng thuế nguyệt. Giặc cho đó chỉ là nơi học hành nên chúng coi thường, có biết đâu chính nơi đó chứa sức mạnh tiềm tàng của cả một dân tộc. Tay cho bọn thông ngôn ký lục học tiếng Tây để làm tay sai cho chúng, có biết đâu dân ta đã có một tiếng nói riêng truyền từ mấy ngàn năm, tiếng nói ấy đã tạo nên những áng thơ kiệt tác như “Chinh phụ ngâm”. “Truyện Kiều” mang tâm hồn con người Việt Nam, tiếng nói ấy làm sao bóp nghẹt được. Văn Xương Các với những cột gỗ, vì kèo, bao lơn chạm trổ tinh tế, chứa đựng cái khéo léo của con người Việt Nam, tài khéo ấy làm sao mai một được. Phong tục Việt Nam cũng có những nét đặc sắc mang tính chất con người Việt Nam dũng cảm, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, phong tục ấy làm sao hủy diệt được. Văn Xương Các lúc này đã trở thành nơi kết tụ những tinh hoa của đất nước, khiến cho mọi người nhìn vào đó mà vững tin vào hào khí của dân tộc sẽ nâng đỡ dân ta trong trận sống mái với kẻ thù vững tin vào tiền đồ sáng lạng và sự trường tồn của nòi giống. Hình ảnh Văn Xương Các đã quyện chặt vào hình ảnh Nguyễn Thông, người thầy kính mến không những đã dạy mình văn chương nghĩa lý mà còn truyền cho mình cả bầu tâm huyết. Nguyễn Giao nhớ lại bữa dời mộ tử sĩ Võ Trường Toản về Bảo Thạnh ngày 28 tháng 3 năm Đinh Mạo thầy mình đã làm bài thơ thuật lại sự việc để khuyên các học trò, trong đó có câu: “Thái Sơn chi vân khởi phu thôn, Đại giang chi khả lạm thương”(1) cốt cổ vũ chí tiến thủ của lớp người tuổi trẻ.


Ý nghĩ tự cường ấy đã thôit thúc Nguyễn Giao mạnh bạo đưa nhanh ngọn bút trên mặt giấy. Những dòng chữ sôi sục căm hờn:


“Ở đâu mà chẳng thấy: đào mồ má. Phá miễu chùa, làm những việc bất nhơn.


Ở đâu mà chẳng thấy: đốt nhà cửa, hãm vợ làm những điều vô đạo.


Trời nào để dân ta nhồi bún cháo, trời nào cho lũ nó ránh ăn chơi.


Xưa nay ai mạnh qua trời, đâu đó vật thời có chú.


Hỡi ôi!


Oán dường ấy, hờn dường ấy, cừu thù dường ấy, làm sao trá nặng mới hay,


Công bấy lâu, nghiệp bấy lâu, lao khổ bấy lâu nghĩ lại bỏ qua sao phải.


Thói hoạt Hạ(1) xưa nay nào khác, việc nhương Di(2) chầy kịp cũng xong.


Hễ làm người chớ ở hai lòng, đã vì nước phải theo một phía.


Trước làm nghĩa, sau cùng làm nghĩa, trước sau cho trọn nghĩa vua tôi,


Sống có danh, thác cũng có danh, sống thác đặng thơm danh nhà nước.”


Đến đây văn chương đã đến chỗ sơn cùng thủy tận. Nguyễn Giao muốn tìm câu kết nhưng chưa nghĩ được câu gì. Bỗng chàng nhớ lại, một đêm đi qua một làng kia, chàng nghe thấy có tiếng ru từ một căn nhà tranh vọng ra:


con,


“Chớ tham đồng bạc con cò.


Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa”


Nguyễn Giao thích thú tấm tắc khen. Người dân vô danh nào đã nghĩ ra câu ca hay thật. Lúc ấy Tây cho tiêu dùng đồng bạc Mễ Tây Cơ in hình con cò, nên dân ta gọi luôn là “đồng bạc con cò”, nghe chữ đồng bạc con cò có vẻ tầm thường bần tiện làm sao. Thế là lần này chàng đưa luôn cái “điển tích” dân gian ấy vào trong bài hịch. Chàng viết liền một mạch:


Nhưng mà:


Lòng ai nấy giữ, việc ai nấy lo.


Chớ tướng tham đồng bạc con cò, chẳng đoái lại tấc gươm đầu hố.


Viết xong, Nguyễn Giao hết sức đắc ý. Thế này thì ca dao đã thành một thứ “Kinh Thi” mới rồi còn gì!


Khi đọc cho mọi người nghe, ai cũng khen văn vừa hoạt vừa mạnh lại dễ hiểu. Lê Cẩn bảo Nguyễn Giao cho chép thành nhiều bản truyền rộng kháp nơi.


Lan gánh hàng về tới nơi. Thấy Lê Cẩn, cô vội nói:


- Anh à, từ khi thằng quản Thực bị giết, bọn tay sai ai của thằng Bồi Xê(3) như cai tổng Binh, Nai, Tạo, Chơn, Vá lùng sục dữ lắm, chúng cho lính chặn các ngả đường khám xét thấy người nào khả nghi đều bắt giữ, chút nữa thì em sa vào tay chúng.


Lê Cẩn gật đầu:


- Tôi biết rồi, cô cứ về nghỉ đi, đi đường mệt cần nghỉ ngơi cho lại sức…


Thấy Lan vẫn quanh quẩn ở đó chưa muốn dứt đi. Nguyễn Giao hiểu ý kéo Lê Cẩn ra một góc nói nhỏ:


- Lâu ngày mới gặp cô ấy, sao anh lại hờ hững vậy? Thì cứ chuyện trò tâm sự với nhau một lúc đã nào…


- Nhưng mà… việc quân còn đang bận…


- Công việc để tôi làm đỡ cho, anh đi mà dỗ dành cô ấy đi, hình như cô ấy giận anh lạnh nhạt vô tình đấy…


Lê Cẩn ngượng nghịu chống chế:


- Không phải vậy đâu…


Nguyễn Giao cười;


- Nếu mắc cỡ vì có tôi ở đây thì hai anh chị cứ đưa nhau ra vườn mà tâm sự đi… Cứ tự nhiên, không có ai rình nghe lén đâu mà sợ!


Lê Cẩn cười không nói gì, đưa mắt ra hiệu cho Lan ra khu vườn trước nhà.


Bước chân vào vườn vú sữa, hai người đã thấy mát rượi hẳn đi. Những thân cây tỏa ra nhiều cành với những chùm trái treo lơ lửng, trái nào trái nấy đều đặn no tròn, vỏ căng bóng mịn như da má bầu bĩnh của các em nhỏ.


Lê Cẩn hái một trái, nhào nặn nó mềm ra, khoét ở cuống trái một lỗ nhỏ rồi cứ thế kề vào mồm, ngửa cổ hút từng ngụm. Chất sữa lẫn trong lớp thịt dập ra, quyện vào lớp nhân ngọt còn trong ruột rồi tươm ra một màu trắng đục. Anh có cảm giác thích thú như hồi nhỏ ngậm vú mẹ nút từng dòng sữa ngọt ngào.


Thấy Lan chỉ nâng niu trái trong lòng bàn tay mà không ăn, anh nói đùa:


- Thiệt đúng là: Thị ơi, thị rụng bị bà. Bà đem bà ngửi chứ bà không ăn. Em thử ăn một trái đi, ngon lắm!


Lan cười:


- Trái đẹp, thân hình tròn trặn, vỏ mịn màng, láng bóng, ăn thì tiếc lắm, cứ để ngắm chơi còn thích hơn.


- Anh thì anh lại thấy trái vú sữa cũng giống như em, trông vẻ ngoài có cái nét duyên dáng thầm lặng càng nhìn lại càng ưa, còn bên trong chứa vị ngọt, thơm như tấm lòng thủy chung đôn hậu…


- Anh quá khen em mà nói vậy thôi. Em chỉ là cô gái chất phác quê mùa, đâu có xứng đáng với anh là một võ quan tiếng tăm lừng lẫy.


- Người ta ở đời hơn nhau không chỉ chức tước mà ở tấm lòng. Bao vị quan cao của triều đình mà khiếp nhược đầu hàng, những kẻ đó làm sao bén gót em được.


- Bữa nay, nghe anh nói vậy em mới hết lo, trước em cứ ngại mà không được… môn đăng hộ đối.


Lê Cẩn chân thành:


- Em không biết khi cha anh mất đi, anh đã làm con nuôi một ông già thuyền chài à? Bởi vậy nên anh mới biết lái ghe chứ? Em bỏ ngay cái ý nghĩ cổ hủ ấy đi. Em đã cứu sống anh, như vậy đời anh được sinh ra một lần nữa rồi.


Lan xúc động đưa tay lên gạt nước mắt, những giọt nước mắt nóng hổi vì sung sướng.


Trăng đã lên, ánh trăng in trên cành lá chỗ đậm chỗ nhạt. Một cơn gió thổi, bóng trăng dường như run rẩy, hay chính lồng ngực Lan đang phập phồng Lê Cẩn âu yếm nhìn khuôn mặt Lan chập chờn nửa sáng nửa tối, tay anh vuốt nhẹ trên tóc Lan, dòng tóc luôn chảy đẫm ướt ánh trăng. Anh bỗng thấy thoang thoảng một mùi hương, không biết đó là hương thơm từ trái vú sữa hay từ làn tóc mượt của người yêu…


Lan cũng đắm đuối nhìn anh như lần đầu nhìn anh đưa ghe lứot băng băng trên sóng nước.


Trong cái im lặng đầy tinh khiết ấy, giọng Lê Cẩn êm nhẹ như hơi thở hay đó chính là ánh trăng xao động gờn gợn trên cành lá:


- Suốt đời anh không bao giờ quên được trăng huyền diệu đêm nay.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(3) Năm 1858.




(1) Muôn dặm sóng yên.




(2) Năm 1877.




(1)     “Tha cho bây trở lại tổ cũ ở canh Nam,


Lũ gà rừng bầy bạn cũ thảy đang rủ mời.


Bên khe ăn uống nên cẩn thận giữ gìn,


Chớ để tấm thân nhỏ bé rơi vào tay bọn tham ăn.




(2)     Khổ nỗi không có thiên Trù hải để tặng ông


Ngẩng đầu nhìn trời Nam buồn cảnh mây chiều cây rợp.


(Thiên trù hải là sách về phòng vệ bờ biển)




(3) Tôi cũng muốn đổi lấy chức quan nhỏ của ông. Để mỗi lần đi công cán thì được về thăm quê hương.




(4) Ngóng về nơi sực mùi máu chiến tranh phía trời Nam.




(5)     Bến Nghé không dưng hóa thanh chiến trường,


Hai mươi năm nơi miền sông bể, lấy say làm quê hương.


Quen va chạm với hiểm nguy, đừng cười tôi là ngông cuồng,


Lời nghị luận trong triều toàn nghe bàn về năm điều lợi.


Buồm mây biết ngày nào thẳng ra trùng dương,


Đến nay duy chỉ có những khách khảng cái bi ca nước Yên nước Triệu,


Máu nóng vẫn đầu lồng ngực nhưng mái tóc đã bạc trắng nơi quê người rồi.




(1) Tên chính của Nguyễn Trung Trực.




(1) Chữ hán Đông và A ghép lại thành chữ Trần.




(1) Người sinh sau đáng nể.




(1) Mây núi Thái Sơn bắt đầu từ chỗ dày một tấc, nguồn sông Đại Hà có thể từ chỗ tràn cái chén.




(1) Quấy rối Trung Nguyên.




(2) Đánh đuổi mọi rợ.




(3) Tên nhân đân đặt cho Xa-li-sét-ti, tham biện Vĩnh Long.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »