tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20241967
22.05.2012
Tư liệu
Lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng là gì?

Lạm phát


Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế.[1] Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả".


Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một "mức giá cả trung bình", gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó.


 


Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:


 


    Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính. Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI. CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung).


    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới. Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI. Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra).


    Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI. Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.


    Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn. Chỉ số này rất giống với PPI.


    Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn. Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng. Khi nước Mỹ sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc.


    Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực). (Xem thêm Thực và danh định trong kinh tế). Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãi nhất. Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân. Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêu dùng cá nhân và các phép khử lạm phát khác để tính toán các chính sách kiềm chế lạm phát của mình.


    Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI). Trong "Báo cáo chính sách tiền tệ cho Quốc hội" sáu tháng một lần ("Báo cáo Humphrey-Hawkins") ngày 17 tháng 2 năm 2000, Federal Open Market Committee (FOMC) nói rằng ủy ban này đã thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI sang "chỉ số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêu dùng cá nhân".


 


Các loại lạm phát phân theo mức độ


            Bài viết hoặc đoạn này cần thêm chú thích nguồn gốc để có thể kiểm chứng thông tin.


Những nội dung không có nguồn có thể bị đặt vấn đề và xóa bỏ.


Mời bạn bổ sung chú thích từ các nguồn đáng tin cậy để giúp cải thiện bài viết.


 


Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm phát. Nếu phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế thường phân biệt 4 loại lạm phát: thiểu phát, lạm phát thấp, lạm phát cao (lạm phát phi mã) và siêu lạm phát.


Thiểu phát


Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3 đến dưới 10 phần trăm một năm.


Lạm phát cao (Lạm phát phi mã)


 


Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.


 


Nhìn chung thì lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày. Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải.


Siêu lạm phát


Do hậu quả của chính sách Giá - lương - tiền, Việt Nam đã phải hứng chịu siêu lạm phát trong các năm 1986-1989


 


Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế ngưười Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi). Theo định nghĩa này thì cho đến nay thế giới mới trải qua 15 cuộc siêu lạm phát. Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là nước Đức sau Thế chiến thứ nhất. Giá một tờ báo đã tăng từ 0,3 mark vào tháng 1 năm 1922 lên đến 70.000.000 mark chỉ trong chưa đầy hai năm sau. Giá cả của các thứ khác cũng tăng tương tự. Từ tháng 1 năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000. Cuộc siêu lạm phát ở Đức có tác động tiêu cực tới nền kinh tế Đức đến mức nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh chủ nghĩa Đức quốc xã và Thế chiến thứ hai.


 


Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát. Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định. Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ. Vào thập niên 1980, các cú sốc bên ngoài và cuộc khủng hoảng nợ của Thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra siêu lạm phát ở một số nước Mỹ La-tinh.


 


Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và (4) lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới 100 phần trăm.


Các hiệu ứng tích cực


 


Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ tăng giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ "dầu bôi trơn" để miêu tả tác động tích cực của lạm phát. Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được tạo thêm. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.


Các hiệu ứng tiêu cực


Đối với lạm phát dự kiến được


Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:


    Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hay làm giảm cầu về tiền. Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát.


    Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm.


    Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá. Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô.


    Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát. Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế.


    Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm thước đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình.


 


Đối với lạm phát không dự kiến được


Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại. Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn.


Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa phải. Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này.


Chỉ số nghèo khổ


Là chỉ số thể hiện mức nghèo của một hộ gia đình,khu vực hay một quốc gia.chỉ số này được tính dựa vào một chuẩn nghèo khổ nào đó,tùy theo điều kiện của từng khu vực hay quốc gia mà có những chuẩn nghèo khổ khác nhau.Giả dụ như ở việt nam thu nhập dưới 1 đô la/ngày/người thì được coi là nghèo nhưng ở các quốc gia khác thì khác ví dụ như dưới 5 đô la/ ngày/người đã được gọi là nghèo khổ.


Chi phí xã hội của lạm phát


Lạm phát có thể gây ra một số tác hại mà chúng ta không dễ phát hiện được.


Chi phí mòn giày


Chi phí thực đơn


Giá cả tương đối biến động mạnh hơn


Thay đổi gánh nặng thuế


Sự nhầm lẫn và bất tiện


Tái phân phối của cải một cách tùy tiện


Nguyên nhân


Lạm phát do cầu kéo


Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS. Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng.


 


Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng. Do đó có lạm phát.


Lạm phát do cầu thay đổi


 


Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát.


Lạm phát do chi phí đẩy


Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.


Lạm phát do cơ cấu


 


Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh vì điều đó.


Lạm phát do xuất khẩu


 


Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.


Lạm phát do nhập khẩu


 


Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu. Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.


Lạm phát tiền tệ


 


Cung tiền tăng (chẳng hạn do [ngân hàng trung ương] mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua [công trái] theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.


 


Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều, vượt quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị của nền kinh tế́. Có thể do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách tiền tệ lới lỏng. Khi lượng tiền lưu thông quá lớn, ví dụ trong tay bạn có nhiều hơn 100 triệu..., thì sự tiêu dùng theo đó mà tăng rất lớn theo xã hội. ÁP lực cung hạn chế dẫn tới tăng giá trên thị trường, và do đó sức ép lạm phát tăng lên.


Lạm phát đẻ ra lạm phát


 


Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý đó là tâm lý dự trữ, giá tăng lên người dân tự phán đoán, tự suy nghĩ là đồng tiền không ổn định thì giá cả sẽ tăng cao tạo nên tâm lý dự trữ đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung hàng hóa sẽ càng trở nên khan hiếm kích thích giá lên => gây ra lạm phát.


Kiềm chế lạm phát


 


Kiềm chế lạm phát còn gọi là giảm lạm phát. Có một loạt các phương thức để kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trung ương như Cục dự trữ liên bang Mỹ có thể tác động đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập các lãi suất và thông qua các hoạt động khác (ví dụ: sử dụng các chính sách tiền tệ). Các lãi suất cao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách thức truyền thống để các ngân hàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụng thất nghiệp và suy giảm sản xuất để hạn chế tăng giá.


 


Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xét các phương thức kiểm soát lạm phát rất khác nhau. Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát một cách cân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức cao.


 


Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc tăng lãi suất bằng cách giảm cung tiền thông qua các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Những người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung, thông thường là thông qua các chính sách tài chính để giảm nhu cầu. Họ cũng lưu ý đến vai trò của chính sách tiền tệ, cụ thể là đối với lạm phát của các hàng hóa cơ bản từ các công trình nghiên cứu của Robert Solow. Các nhà kinh tế học trọng cung chủ trương kiềm chế lạm phát bằng cách ấn định tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ và một số đơn vị tiền tệ tham chiếu ổn định như vàng, hay bằng cách giảm thuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá thả nổi để khuyến khích tích lũy vốn. Tất cả các chính sách này đã được thực hiện trong thực tế thông qua các tiến trình.


 


Một phương pháp khác đã thử là chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểm soát giá cả (xem thêm "Các chính sách thu nhập"). Ví dụ, nó đã được thử tại Mỹ trong những năm đầu thập niên 1970 (dưới thời tổng thống Nixon). Một trong những vấn đề chính với việc kiểm soát này là nó được sử dụng vào thời gian mà các biện pháp kích "cầu" được áp dụng, vì thế các giới hạn phía cung (sự kiểm soát, sản xuất tiềm năng) đã mâu thuẫn với sự tăng trưởng của "cầu". Nói chung, phần lớn các nhà kinh tế coi việc kiểm soát giá là phản tác dụng khi nó có xu hướng làm lệch lạc các hoạt động của nền kinh tế vì nó làm gia tăng thiếu thốn, giảm chất lượng sản phẩm v.v. Tuy nhiên, cái giá phải trả này có thể là "đáng giá" nếu nó ngăn chặn được sự đình đốn sản xuất nghiêm trọng, là điều có thể có đắt giá hơn, hay trong trường hợp để kiểm soát lạm phát trong thời gian chiến tranh.


 


Trên thực tế, việc kiểm soát có thể bổ sung cho đình đốn sản xuất như là một cách để kiềm chế lạm phát: Việc kiểm soát làm cho đình đốn sản xuất có hiệu quả hơn như là một cách chống lạm phát (làm giảm sự cần thiết phải tăng thất nghiệp), trong khi sự đình đốn sản xuất ngăn cản các loại hình lệch lạc mà việc kiểm soát gây ra khi "cầu" là cao.


______


    ^ N. Gregory Mankiw, Macroeconomics (7th Edition), Worth Publishers, chương 6 trang 155


 


CPI là gì ? và PPI là gì ?


Chỉ số giá cả tiêu dùng có liên hệ gì với lạm phát


Lạm phát thường được ưu tiên trong chính sách quản lý kinh tế của các chính phủ vì những hậu quả của chúng để lại hậu quả rất xấu cho nền kinh tế, sau đó là thất nghiệp, lãi suất, năng suất, thâm hụt ngân sách chính phủ, thâm hụt ngoại thương… Lạm phát vừa phải thường có tác dụng tích cực, vì nó gây ra cho tâm lý người  người tiêu dùng cần mua sớm nếu không mua thì hàng hóa sẽ còn tăng cao nữa từ đó hàng hóa sẽ được lưu thông tốt hơn. xong tới một mức độ nào đó thì nó lại mất tác dụng và gây ra hậu quả cho nền kinh tế. Thường thì lạm phát có nguyên nhân bắt nguồn chủ yếu từ cung tiền, đổi tiền, thay đổi chính sách về thuế, phúc lợi xã hội, v.v. Song cũng có những trường hợp ngoại lệ như trường hợp của mỹ vào đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 là một ví dụ điển hình. Xin trích một đoạn từ trang 97 đến 102 trong cuốn  Macroeconomics Fifth Edition – Robert J. Gordon (1991) NXB KHKT- 2000


Đo lường CPI như thế nào?


Bộ Thương mại biên soạn và công bố các số liệu hàng quý về GNP danh nghĩa, GNP thực tế và chỉ số ngầm giảm phát GNP, nhưng trên thực tế không sưu tầm các giá cả cá biệt của thịt bò, trứng và các sản phẩm khác. Cục Thống Kê Lao động (BLS) tiến hành sưu tầm các giá cả cá biệt và công bố hai chỉ số giá cả là Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) và Chỉ số giá cả sản xuất (PPI).


 


Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI), được công bố hàng tháng, dựa vào giá cả của hàng nghìn sản phẩm được xếp thành 224 nhóm. Giá cả mà những người tiều dùng phải trả được hàng trăm người đi thu nhập giá ghi lại, những người này hàng tháng gọi điện thoại đến hay trực tiếp đến hàng nghìn cửa hàng tại 85 khu vực địa lý và thu nhập được trên 100.000 giá. Sau đó, các giá cả trung bình của từng sản phẩm cá biệt, như thịt bò và trứng chẳng hạn, được BLS kết hợp lại thành các chỉ số nhóm như chỉ số nhóm “thực phẩm và đồ uống” chẳng hạn. Sau đó các chỉ số nhóm được kết hợp lại thành “tổng chỉ số giá cả tiêu dùng CPI”. Những trọng lượng được sử dụng để kết hợp giá cả những sản phẩm cá biệt thành những chỉ số nhóm rồi đi tới “tổng chỉ số giá cả” dựa vào tỷ lệ các hạng mục ấy trong số chỉ tiêu tiêu dùng như đã ghi được trong cuộc điều tra.


 


Sai sót của việc đo lường CPI


Chính phủ công bố hai chỉ số giá cả các sản vật tiêu dùng và dịch vụ. Một trong hai chỉ số đó là CPI. Chỉ số khác là chỉ số giảm phát thành tố tiêu dùng cá nhân của CPI, còn gọi là chỉ số giảm phát tiêu dùng cá nhân


 


(Chỉ số giảm phát mỗi thành tố của GNP, kể cả chỉ số giảm phát tiêu dùng cá nhân, được công bố với ba hệ thống đo lường khác nhau để cộng các thành tố của nó: chỉ số ngầm giảm phát (tỷ số của GNP danh nghĩa với GNP thực tế về thành tố này), các trọng lượng cố định năm 1982, và chuỗi những trọng lượng thay đổi hàng quý. Khi so sánh CPI với chỉ số giảm phát tiêu dùng cá nhân, đoạn này và Hình  sử dụng dạng trọng lường cố định năm 1982 của chỉ số giảm phát là dạng gần gũi nhất với CPI về mặt phương pháp đo lường).


 


Từ năm 1983 mức tăng trong CPI đã tính sai nghiêm trọng, được tính cao hơn mức tăng giá khoảng trên 10%. Xem hình, hình vẽ mô tả CPI, chỉ số giảm phát tiêu dùng, và tỷ số giữa hai số liệu đó, cho thấy việc tính toán sai lầm ấy. Vùng gạch chéo biểu thị mức tăng quá đáng của giá cả do CPI đưa ra. Xuất phát từ số không trong năm 1970, mức tăng giá quá đáng đó của giá cả đã là 12% trong năm 1982.


 


Những nguyên nhân đo lường sai CPI. Nguyên nhân chủ yếu của việc đo lường sai CPI là cho đến năm 1983 người ta đã quá nhấn mạnh những thay đổi trong lãi suất thế chấp, lãi suất này đã tăng nhanh trong những năm 1970. Đa số những người sở hữu nhà đã ký nhận thế chấp trong 20 hoặc 30 năm với những lãi suất cố định. Tuy nhiên CPI lại cho rằng mọi người thế chấp đều phải bốn tháng một lần ký lại giao kèo thế chấp và trả những lãi suất cao hơn trong những thời gian lãi suất tăng lên. Hơn nữa, cho đến năm 1986 CPI đã sử dụng những trọng lượng ấy mà không tính đến những tác động của giá dầu lửa cao hơn đối với lạm phát trong thời gian 1979-81 và của giá dầu lửa thấp xuống đối với lạm phát trong thời gian 1981-86 vì những trọng lượng ấy không tính đến các biện pháp tiết kiệm và bảo tồn năng lượng làm cho mức sử dụng nhiên liệu trong thời gian 1979-86 giảm thấp hơn trong thời gian 1972-73 được dùng làm trọng lượng.


 


Tại sao sai sót về đo lường vẫn còn là một vấn đề? CPI đã cố định việc xử lý sai các lãi suất


dollar_toilet1.jpg


 


Khi lạm phát tăng cao, tiền trở thành giấy lộn


 


thế chấp trong năm 1983, và CPI đã chuyển sang những trọng lượng hiện đại hơn trong năm 1987. Nhưng tất cả những sai sót có tính lịch sử được diễn tả trong hình 2-7 vẫn còn lại. Tại sao? Khác với chỉ số giảm phát GNP, CPI không bao giờ được hiệu chỉnh lại để sửa chữa các sai lầm, bởi lẽ CPI đã được sử dụng để đòi tăng lương, đòi tăng trợ cấp bảo hiểm xã hội và các khoản khác. Nhiều người lao động và nhiều người nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội đã thu nhập được nhiều hơn do căn cứ vào việc CPI thổi phồng mức lạm phát trong những năm 1970. Hiệu chỉnh lại CPI trong lịch sử thì có thể gây ra kiện tụng và rối loạn nếu các hàng đã trả lương quá đáng lại tìm cách cắt giảm các mức lương hay dùng cách nào khác thế để thu lại các khoản tiền đã trả quá trước đây.Vì CPI không bao giờ được hiệu chỉnh lại, bất cứ sự so sánh nào về sự tăng trưởng có tính lịch sử của tiền lương thực tế hay của thu nhập thực tế đều sai lầm nếu sử dụng CPI như một thước đo mức lạm phát. Ví dụ, CPI đã ngụ ý sai rằng tiền lương thực tế không hề thay đổi từ năm 1973 đến năm 1982, trong khi chỉ số giảm phát tiêu dùng, chính xác hơn, lại ngụ ý rằng tiền lương thực tế đã tăng 10.9% trong thời gian ấy. Từ năm 1982 đến năm 1988 mối quan hệ đã đảo ngược lại : CPI ngụ ý tăng 4.3% và chỉ số giảm phát tiêu dùng chỉ ngụ ý tăng 1.3%. Do đó, từ các số liệu CPI người ta có thể kết luận sai là trong thời gian 1982-88 thu nhập thực tế của những người lao động đã tăng nhanh hơn trong thời gian 1973-82, trong khi chỉ số giảm phát tiêu dùng, chính xác hơn, lại ngụ ý rằng thu nhập thực tế của những người lao động đã tăng chậm hơn. Trong năm 1988, các ứng cử viên chính trị đã tranh luận về vấn đề đời sống của những người lao động đã khá lên hay tồi tệ đi, và họ có thể đưa ra câu trả lời này hay câu trả lời khác tùy theo họ sử dụng CPI hay chỉ số giảm phát tiêu dùng chính xác hơn. Vì có thể sai lầm trong so sánh lịch sử khi sử dụng CPI để tính toán những thay đổi của các biến số thực tế, chẳng hạn như của tiền lương thực tế hay của lượng cung ứng tiền tệ thực tế.


Phần trên đối chiếu CPI với chỉ số giảm phát giá cả các sản vật tiêu dùng (“Chỉ số giảm phát tiêu dùng”) trong thời gian từ năm 1970 trở đi, CPI tăng nhanh hơn chỉ số giảm phát tiêu dùng, như được biểu thị bằng đường CPI vượt lên trên đường chỉ số giảm phát tiêu dùng. Phần dưới trình bày tỷ số của CPI với chỉ số giảm phát tiêu dùng, tỷ số này đã lên tới mức tối đa là 1.12 trong năm 1982.


 


Những sai lầm trong chính sách do sai sót CPI gây ra. Điều không may là CPI đã được sử dụng rộng rãi như thể là một phần nhân tố làm tăng giá sinh hoạt trong các hợp đồng lương cũng như trong nhiều chương trình chi chuyển nhượng của chính phủ, kể cả kem lương thực và trợ cấp bảo hiểm xã hội… Trong thời gian 1979 – 81, việc CPI thổi phồng mức lam phát đã làm cho trợ cấp bảo hiểm xã hội tăng quá nhanh và do đó góp phần trực tiếp gây ra cuộc khủng hoảng của chế độ bảo hiểm xã hội vốn là một chế độ cố định bằng việc làm tăng thuế an ninh xã hội. Hiện nay mọi người đang nộp thuế an ninh xã hội cao hơn, một phần vì đã đo lường sai CPI như vậy!


 


Do làm cho các mức tiền lương tăng qua nhanh vì có sự leo thang của giá sinh hoạt, sai lầm của CPI đã làm kéo dài tình trạng lạm phát cuối những năm 1970 và làm chậm thêm cuộc khủng hoảng 1981 – 82. Cuối cùng, mức lạm phát 17% tính sai của CPI về quý I năm 1980 (so với 12% của chỉ số giảm phát tiêu dùng) đã làm cho chính quyền Carter hốt hoảng và do đó có biện pháp sai lầm là kiểm soát tín dụng làm cho sản xuất, việc làm, lãi suất và lượng cung ứng tiền tệ mất ổn định trong suốt năm 1980 và đầu năm 1981.


 


(Để hiểu thêm về việc đo lường sai CPI, xem: Robert J.Gordon, “The Consumer Price Index”: Measuring Inflation and Causing It No.63 (Xuân 1981) trang 112-134.)


 


Chỉ số giá cả sản xuất (PPI)


 


Một chỉ số giá cả khác của Cục Thống kê lao động, chỉ số giá cả sản xuất (PPI), tập hợp giá cả một số lớn hàng hóa mà người tiêu dùng không trực tiếp mua. Những mặt hàng này bao gồm những nguyên liều thô như than và dầu thô, nhưng sản vật trung gian như mì và thép, và nhiều loại máy móc do giới kinh doanh mua (máy tính tiền, máy kéo…). Những số liệu về giá cả thực tại được ghi vào các bảng câu hỏi hàng tháng gửi bằng đường bưu điện đến hàng nghìn hãng bán các mặt hàng đó. Cũng như các chỉ số nhóm của CPI được Bộ Thương mại sử dụng cho chỉ số giảm phát thành tố tiêu dùng của GNP, các chỉ số theo sản phẩm và nhóm sản phẩm của PPI được sử dụng để tạo ra chỉ số giảm phát những thành tố khác của GNP, kể cả thiết bị lâu bền của các nhà sản xuất và số đầu tư tồn kho.


Thậm chí sau khi sử dụng các thông tin có sẵn về các chỉ số cá biệt và các chỉ số nhóm trong CPI và PPI, Bộ Thương mại vẫn phải có những sự lựa chọn khó khăn để đánh giá cả của cục. Thống kê lao động, bao gồm cả máy điện toán, máy bay phản lực, tàu thủy và nhà. Các vấn đề đo lường có dính líu đến các số liệu chính thức về giá cả và đầu ra thực tế khi thỏa thuận vấn đề khó giải quyết là mức tăng chậm lại của năng suất ở Mỹ kể từ năm 1973 trở đi.


 


Nguồn: Sagavn


 


Chỉ số giá tiêu dùng CPI


Chỉ số giá tiêu dùng (viết tắt là CPI, từ tiếng Anh: Consumer Price Index ) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng.


    Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP).


 


    Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng


    Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở. Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:


    1. Cố định giỏ hàng hóa: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.


    2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi thời điểm.


    3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.


    4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công thức sau:


CPI được dùng để tính chỉ số lạm phát theo thời kỳ. Chẳng hạn, tính chỉ số lạm phát CPI năm 2011 so với năm 2010 theo công thức sau:


Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ số giá tiêu dùng bằng cách điều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu. Sau đó quyền số này được dùng để tính chỉ số giá tiêu dùng cho các thời kỳ sau. CPI thường được tính hàng tháng và hàng năm. CPI còn được tính toán cho từng nhóm hàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo mục đích sử dụng. Ngoài CPI người ta cũng tính toán chỉ số giá bán buôn là mức giá của giỏ hàng hóa do các doanh nghiệp mua vào, khác với CPI là giá do người tiêu dùng mua vào (giá bán lẻ).


 


 


 


 


    Các vấn đề gặp phải khi tính toán chỉ số giá tiêu dùng


    Do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chính dẫn đến hạn chế của CPI sau đây:


    1. CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định. Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khác thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt hàng đã trở nên quá đắt đỏ mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ hơn. Yếu tố này làm CPI đã đánh giá cao hơn thực tế mức giá.


    2. CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất hiện thì một đơn vị tiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn. CPI không phản ánh được sự gia tăng sức mua này của đồng tiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cao hơn thực tế.


    3. Không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá vì nếu mức giá của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượng cũng tăng tương ứng thậm chí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng. Chất lượng hàng hoá dịch vụ nhìn chung đều có xu hướng được nâng cao nên CPI cũng đã phóng đại mức giá.


    Tính toán chỉ số giá tiêu dùng ở Việt nam


    Việc tính toán CPI ở Việt nam do Tổng cục Thống kê đảm nhiệm. Quyền số để tính CPI được xác định năm 2000 và bắt đầu áp dụng từ tháng 7 năm 2001. Quyền số này dựa trên kết quả của hai cuộc điều tra là Điều tra mức sống dân cư Việt nam 1997-1998 và Điều tra kinh tế hộ gia đình năm 1999. Điều đáng chú ý là quyền số của nhóm hàng Lương thực - Thực phẩm chiếm tới 47,9% trong khi Văn hoá - Thể thao - Giải trí chỉ chiếm 3,8%.


 


Nguồn: http://srsc.com.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai - Tư liệu 23.08.2017
Huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai - Tư liệu 23.08.2017
Võ sỹ lừng danh Muhammad Ali: Tôi chẳng thù ghét gì Việt cộng cả! - Bob Orkand 22.08.2017
2 bài về Ấn Độ, Trung Quốc - Nhiều tác giả 21.08.2017
19/08/1934: Adolf Hitler trở thành Tổng thống Đức - Tư liệu 19.08.2017
Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ - Vũ Minh Giang 13.08.2017
Người Khmer Krom đòi Nam Bộ là ‘vô lý’ - Nguyễn Văn Huy 13.08.2017
Tìm hiểu vấn đề biển đảo giữa Việt Nam và Campuchia - Trần Công Trục 13.08.2017
Koh Tral/ Phú Quốc: Giấc mơ tuyệt vọng của Campuchia - Jeff Mudrick 13.08.2017
Vì sao thành Hà Nội bị phá? - Tư liệu 07.08.2017
xem thêm »