tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19350858
17.05.2012
Phan Quang
Những ngày Châu Á của thi hào Mỹ Latin Pablo Neruda

Tôi là người Mỹ của đất đai nghèo khổ


            Của cao nguyên kim loại cheo leo


            Nơi người và người đã va chạm cùng nhau


Còn thêm nỗi giữa người với đất


Tôi, một người Mỹ lang thang, lay lắt


Là đứa trẻ mồ côi của núi lửa, dòng sông*.


 


Pablo Neruda, giải thưởng Nobel về văn chương, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ 20  nói về mình như vậy.


Nhưng bạn ông, một nhà thơ và nhà tiểu thuyết lớn của châu Mỹ la tinh, Jorge Amado (Braxin), diễn tả có hơi khác. Ông viết: "Pablo Neruda, nhà thơ Chilê vĩ đại, là con đẻ của những ngọn núi lửa hùng tráng và của những người thợ mỏ kiên cường". Còn từ điển Robert đầy uy tín của Pháp khái quát cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ cộng sản ở một đất nước xa xôi, bạn thân của vị tổng thống bị sát hại Salvador Allende, như sau: "Pablo Neruda là nhà thơ có trí tưởng tượng hùng hậu và chất trữ tình tinh tế. Dấn thân mãnh liệt vào thế kỷ của mình, tiếng kêu phản kháng (chế độ độc tài phản động) của ông vang khắp thế giới".


 


Nhiều người biết nhà thơ xuất thân là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng đi làm lãnh sự của nước Chilê ở một số nơi trên thế giới. Nhưng rất ít người - kể cả các nhà thơ, nhà văn Indonesia, nước sở tại - biết là ông từng sống mấy năm ở Batavia (tên cũ của thủ đô Jakarta), và đã kết hôn cùng một cô gái người đảo Java. Mãi gần đây, qua cuốn Hồi ức của nhà thơ Chilê do một nhà xuất bản ở New York vừa mới phát hành, tờ tuần báo Tempo của Indonesia mới trích giới thiệu lại một cách cặn kẽ khoảng thời gian ấy, và trân trọng gọi những ngày tháng nhà thơ lớn sống trên đất nước này là Giai đoạn Java của Pablo Neruda.


Nhà ngoại giao nghèo Pablo Neruda rời thủ đô Colombo nơi ông đang làm việc đến Jakarta năm 1930 bằng tàu biển, mang theo một chú bé giúp việc gốc Sri Lanka và một con... cầy hương mà ông đặt tên là Kiria. Đó là hai người bạn thân thiết của ông. Lúc này thi sĩ đã nổi tiếng với những tập thơ đầu tay: Hoàng hôn (1923), Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng (1924) nhưng vẫn rất nghèo khó và nhất là cô đơn. Ở Jakarta, trong tình cảnh và tâm trạng ấy, ông sáng tác tập thơ Cư trú trên trái đất (1931). Chịu ảnh hưởng của trường phái thơ siêu thực, ông vẫn nhìn đời với cái nhìn ngậm ngùi cay đắng.


Nhà thơ thuê một căn hộ rẻ tiền ở số 5, đường Probolingo thuộc khu Menteng dành cho người nước ngoài. Nhà có gara nhưng thường xuyên để trống vì nhà ngoại giao chưa bao giờ sắm xe hơi. Những ngày ở đây không phải là những ngày vui vẻ lắm với nhà thơ. Trong hồi ức của mình, ông kể lại "sự cố"  ngay trong buổi đầu tiên ông đến nhận nhiệm vụ.


Hôm ấy, ăn mặc chỉnh tề, ông đến tòa nhà nơi đặt cơ quan Lãnh sự quán Chilê để gặp người phụ trách đương nhiệm. Trước mặt ông xuất hiện một viên chức Hà Lan với khuôn mặt dữ dằn đỏ lung nặng vẻ thực dân, không có gì giống dáng dấp một viên chức cao cấp ngành ngoại giao. Pablo Neruda tự giới thiệu rất lễ độ: "Tôi là Lãnh sự mới của nước Chilê ở đây. Trước hết tôi muốn cảm ơn ông về sự giúp đỡ..."


Anh chàng người Hà Lan không để cho ông nói hết câu. Y gào lên: "Chỉ có mỗi một lãnh sự ở Batavia. Người ấy chính là tôi đây. Nào! Anh hãy trả món nợ của ông bạn tiền nhiệm của anh đi..." Tiếp theo là những câu chửi thề tục tằn. Cơn giận dữ làm anh chàng nổi cơn ho sặc sụa. Y cũng chẳng để cho Neruda kịp có thời giờ hỏi rõ đầu đuôi.


Mấy hôm sau mới vỡ lẽ. Ra người tiền nhiệm của ông không sao chịu đựng nổi cảnh sống tẻ nhạt ở Batavia nên đã tìm cánh tháo chạy về Paris. Để lấp vào sự vắng mặt của mình, anh nhờ gã viên chức Hà Lan này giải quyết thay mọi công việc sự vụ hằng ngày. Anh hứa hằng tháng sẽ gửi tiền công trả cho y. Nhưng số tiền ấy chẳng bao giờ đến tay người nhận. Thành ra sự nổi đóa của gã viên chức kia không phải là vô nguyên cớ.


Ngay từ tuần lễ đầu tiên, Pablo Neruda đã đổ bệnh. Ông sốt cao, và hay chảy máu cam có lẽ do khí hậu quá oi nồng. Công việc thì vô cùng buồn tẻ. Công tác lãnh sự thực ra chỉ có mỗi một việc là ký tên đóng dấu chứng nhận cho hợp thủ tục các vận đơn thương mại chuyển hàng hóa từ Batavia về Chilê hoặc ngược lại, hóa đơn nhận hàng từ Chilê gửi đến. Cuộc sống tù hãm và tàn tạ "không khác gì những cái tămpông tã dùng để đóng các con dấu công vụ ở cơ quan lãnh sự quán của tôi" - nhà thơ viết như vậy trong hồi ký của mình.


Lương bổng thì rất thấp. Chỉ vừa đủ để sống và để trả công cho chú bé giúp việc ông mang theo từ Sri Lanca và mua thức ăn hằng ngày cho con cầy hương - mỗi ngày phải cho nó ăn ba, bốn quả trứng. Dù sao con vật này cũng là nỗi an ủi ông trong cảnh cô đơn. Mỗi sáng ông đi làm, nó theo ông đến tận góc phố. Mỗi lần ông đi đâu về, nó nhảy phóc lên đầu gối ông để chờ ông thưởng cho một quả trứng.


Ấy thế mà một hôm tự dưng con vật mất tăm. Đi làm về, nhìn thấy chú bé ngồi thẩn thờ một mình trước bục của, đôi mắt buồn bã, ông hiểu ngay đã mất con vật rồi. Ông tìm khắp nới, còn cho đăng cả lên báo tin tìm vật nuôI lạc vào mục Rao vặt của nhiều tờ báo địa phương nhưng không có hồi âm. Chú bé giúp việc cảm thấy mình có lỗi to với chủ quá, xin được trở về quê luôn. Thành thử nhà thơ càng cô đơn hơn. Ông ghi vào nhật ký: "Thỉnh thoảng, giữa đêm khuya, tôi chợt nghe như có tiếng của con Kiria. Tôi đốt đèn lên, mở cửa sổ ra nhìn những hàng dừa. May ra có con cầy hương của tôi  lẩn trong đấy chăng?"


Ông lấy người vợ đầu tiên trong tình cảnh và tâm trạng ấy. Lễ cưới được tổ chức tại đại sứ quán Chilê ở Batavia. Pablo Neruda viết thư báo tin cho gia đình biết: "Con xin báo với bố mẹ một tin quan trọng. Con đã cưới vợ. Vợ con là người trong thành phố này. Cô ấy lai hai dòng máu, bố là người Hà Lan, còn mẹ thuộc một gia đình vọng tộc ở Java. Xin bố mẹ thôi không phải lo lắng cho con, từ nay con không còn đơn chiếc nữa. Cô ấy không giống như những người tầm thường đâu. Nếu bố mẹ gặp, hẳn bố mẹ sẽ tự hào về đứa con dâu của mình... Con không nói tiếng Hà Lan, cô ấy không biết tiếng Tây Ban Nha. Chẳng sao. Thì chúng con nói với nhau bằng tiếng Anh vậy. Chúng con nghèo nhưng sống hạnh phúc".


Pablo Neruda dần dần hòa nhập hơn với cuộc sống người dân Indonesia thời ấy. Thỉnh thoảng ông ra cái quán nhỏ ở bờ kênh uống rượu "quốc lủi". Hoặc đi thưởng thức thức ăn điạ phương, "mà mỗi món có một vị riêng, một hương riêng, một màu riêng biệt rất chi là huyền diệu". Ông kể lại trong Hồi ức của mình: "Tôi còn nhớ một hôm, ở một nơi gần cảng Semarang, tôi nhìn thấy một vũ nữ mặc một chiếc áo chẽn ngắn cũn cỡn và quấn một cái sarông, nhưng trên đầu đội lại đội cái vương mịên làm bằng… sắt tây. Vũ công là một ông già đeo cái mặt nạ sơn đỏ, tay cầm một thanh kiếm đẽo bằng tre". Hằng chục năm sau, cảnh tượng ấy còn đeo đẳng nhà thơ. "Nhiều lần đang ngủ, tôi giật mình bừng tỉnh giấc bởi lại vừa nhìn thấy vẻ mặt buồn bã làm sao của hai người nghệ nhân ấy múa hát kiếm sống trên bến cảng Semarang".


 


Sự biến đổi sâu sắc về nhân sinh quan, và từ đấy, tác động quyết định đến toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông, chỉ thật sự bắt đầu sau khi ông được điều về làm lãnh sự tại Madrid, thủ đô Tây Ban Nha năm 1934. Ở đây, ông kết thân với những nhà thơ tiến bộ Tây Ban Nha, nhiều người về sau rất nổi tiếng, như F.G. Lorca, R. Alberti, R.G. Tunon... Ông hợp tác với họ, cho xuất bản một chuyên san về thơ. Tuy nhiên tình hình ấy không lâu. Năm 1936, tên trùm phát xít Franco làm chính biến lật đổ nền cộng hòa. Pablo Neruda tự mắt nhìn thấy bạn mình, nhà thơ F.G. Lorca bị bọn phát xít bắn chết. Tự mắt nhà thơ nhìn thấy cảnh nhân dân Tây Ban Nha bị tàn sát hằng ngày. Ông đứng hẳn về phía nhân dân. Quan điểm về thi ca của ông cũng thay đổi theo:


 


Bạn sẽ hỏi sao thơ tôi


Không còn nói đến mộng mơ, hoa lá


Không nói đến những hỏa diệm sơn hùng vĩ


Của đất nước quê hương?


Hãy đến xem máu chảy trên đường


Hãy đến xem


Máu chảy trên đường


Hãy đến xem


Máu chảy


Trên đường.*


(Trích từ tập Tây Ban Nha trong lòng tôi (1938), bản dịch tiếng Việt của Đào Xuân Quý, Nxb Văn học).


 


Từ bấy trở đi, từ thực tiễn Tây Ban Nha, Pablo Neruda sẽ là một chiến sĩ suốt đời ca ngợi và đấu tranh cho tự do, cho chính nghĩa, cho tương lai của nhân loại. Từ "nhà thơ của đất và của tình yêu", ông trở thành một nhà thơ trữ tình cách mạng lớn, mà "lời ca vang lên khắp địa cầu”, đúng như nhận định của các nhà làm từ điển nước Pháp. Sự nghiệp văn chương của ông càng thêm vĩ đại.


 


2001.


PQ.


Nguồn: Cho đến khi giã từ trần thế. Tiểu luận, bút ký của Phan Quang. NXB. Phụ nữ. 2011.


www.trieuxuan.info                                                                   


___________


Pablo Neruda (1904-1973). Giải thưởng Nobel văn học năm 1971.  


Những tác phẩm chính về thơ: Hoàng hôn (1923), Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng (1924), Cư trú trên trái đất (1931), Tây Ban Nha trong lòng tôi (1938), Hát về Stalingrad (1943), Bài ca tổng hợp (1950), Tất cả tình yêu (1953), Chùm nho và cơn gió (1954), Đài kỷ niệm đảo đen (1964)...


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »