tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004388
19.05.2012
Phan Quang
Một nhà văn rắc rối

Nhà văn Pháp Jules Roy (sinh năm 1907 - TX), tác giả cuốn Trận Điện Biên Phủ (nhìn từ phía Pháp) vừa từ trần ngày 15 tháng 6 vừa qua ở tuổi 93.


Ông được bạn đọc chú ý ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ hai với tác phẩm Thung lũng hạnh phúc. Ông được trao tặng Giải thưởng Renaudot  năm 1946. Ông còn nổi tiếng nhiều hơn với tư cách một cây bút gây rất nhiều rắc rối cho chính quyền Pháp ngay vào thời kỳ đất nước này đang bị chia rẽ sâu sắc khi bắt buộc phải chia tay chủ nghĩa thực dân lỗi thời, mà đỉnh cao là hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam và ở Algérie.


Nhà văn Jules Roy là bạn thân của Albert Camus, Giải thưởng Nobel văn học. Hơn thế, hai ông còn là “đồng hương” (cùng chào đời trên đất Algérie), cùng một thế hệ, cùng có thời niên thiếu khó khăn như nhau, và tuổi thanh niên hai người cùng một chí hướng: tham gia chống phát xít Đức, rồi theo đuổi nghiệp văn chương với quan điểm người cầm bút vì chính nghĩa phải dấn thân hết mình vào thời cuộc.


Jules là một tính cách luôn luôn sẵn sàng bùng nổ, một con người tự tin và tự hào tới mức cao ngạo, thường xuyên ôm ấp những đam mê vô hạn.


Thuở nhỏ ông theo học trường dòng, sau đó chuyển sang Học viện Quân sự ở Saint Maixent và trở thành sĩ quan lục quân. Mười năm sau, do nhu cầu ông chuyển sang binh chủng không quân. Năm 1939, bước vào chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã là chỉ huy một phi đội, đã ba mươi lần vượt qua tuyến lửa phòng không đánh vào hậu phương Đức, dội bom xuống vùng công nghiệp Rhur được phòng thủ rất nghiêm ngặt. Với 30 vụ không tập vào sâu trong lãnh thổ đối phương, khả năng phi công có thể sống sót trở về là điều thời ấy ít ai nghĩ tới.


Nhưng Jules Roy luôn gặp may. Từ cái vốn sống dày dặn ấy, ông bước vào nghề văn. Thung lũng hạnh phúc là tác phẩm thuật lại những gì tác giả đã trải qua ở tuyến lửa, đồng thời phanh phui nhiều chuyện bếp núc chẳng mấy hay ho của không quân Pháp. Tác phẩm ông được đăng nhiều kỳ trên tờ nhật báo Le monde (Thế giới), một chuyện rất hãn hữu, và được trao ngay giải thưởng văn học có tiếng tăm.


Cũng vì tác phẩm này, ông bị cấp trên trù dập. Nhưng việc cuốn Thung lũng hạnh phúc gặt hái được thành công trên văn đàn buộc các nhà chỉ huy quân đội phải suy nghĩ lại. Họ biết chẳng hay ho gì nếu cứ gây chuyện với một nhà văn nổi tiếng. Hơn nữa, trước đây, chẳng phải nhờ các tác phẩm tuyệt vời của một nhà văn lỗi lạc xuất thân cũng là phi công, Saint-Exupéry, mà không quân Pháp được nhân dân tôn vinh đó sao? Họ xoay sang o bế Jules Roy. Họ trọng vọng Jules Roy. Họ giao cho nhà văn nhiệm vụ phụ trách Văn phòng báo chí của không quân Pháp, làm người phát ngôn của binh chủng quan hệ với công chúng.


Vẫn gắn bó với Albert Camus, Jules Roy tự tin đi hẳn vào nghề cầm bút với một sức viết thật dồi dào trong khi vẫn không rời binh nghiệp.


Nhưng tính cách con người ông chẳng bao lâu đã làm cho cấp trên của ông phát ngán tận cổ. Với một sĩ quan thẳng tính như Jules Roy, mọi người sớm nhận ra, chẳng bao giờ ông có thể là người phát ngôn cho bất kỳ ai khác, ông không thể nói những điều người khác muốn ông nói, ông chỉ nói lên những điều ông cảm nhận mà thôi.


Được phái sang Đông Dương công cán vào lúc cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân đang diễn ra quyết liệt, Jules Roy quan sát, tìm hiểu, ghi chép cẩn thận như một nhà báo chuyên nghiệp. Khi sưu tầm tư liệu, ông không tin vào các thông cáo định kỳ của cơ quan tham mưu Đội quân viễn chinh Pháp. Trở về nước, thay vì viết nên một tác phẩm hay một cái gì đó ít nhiều có tính chất biện minh cho cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” do người Pháp gây nên, và đang bị sa lầy không lối thoát - như cấp trên của ông kỳ vọng. Năm 1953, ông cho xuất bản cuốn Trận chiến trên các đồng lúa. Tác phẩm phơi bày mặt trái của cuộc chiến tranh, nói lên một phần nhỏ sự thật mà các nhà cầm quyền Pháp cố tình che giấu nhân dân Pháp. Ông cũng phê phán kịch liệt cung cách tiến hành chiến tranh của các tư lệnh Pháp tại chiến trường.


Một lần nữa, ông làm cho cấp trên bất bình, và lần này họ không chịu đựng nổi nữa. Để vô hiệu hóa con người rắc rối, người ta chuyển Jules Roy sang ngạch sĩ quan trù bị “ngồi chơi xơi nước”. Lúc này nhà văn 46 tuổi, mang quân hàm đại tá, đúng vào lúc thể lực cũng như tâm lực đều sung mãn. Trong các cơ quan tham mưu đã từ lâu xì xào việc ông sắp được thăng quân hàm cấp tướng tới nơi.


Thế nhưng, để hoàn toàn tự do nói lên suy nghĩ của mình, Jules Roy xin ra khỏi hàng ngũ không quân.


 


Thất bại của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ gây chấn động lớn cho toàn nước Pháp. Là một cựu quân nhân từng tham chiến ở Việt Nam, ông không thể không đau buồn. “Thảm họa Điện Biên Phủ làm lòng tôi nặng trĩu”, như lời ông bộc bạch. Ông bỏ sức tìm hiểu thêm tư liệu về trận chiến này. Rồi ông xin sang lại Việt Nam, và được ta cho phép lên tận thung lũng Mường Thanh quan sát tại chỗ dấu tích chiến trường. Ông sẽ viết trong tác phẩm mới của mình: “Tôi thấy cần đi Điện Biên Phủ, nơi mà các dấu vết của trận đánh dễ tìm lại được hơn là ở trong lòng người (Pháp)”. Nhà văn Jules Roy được quân đội ta tạo cho nhiều điều kiện thuận lợi để trở lại chiến trường xưa. Hồi ấy đường lên Tây Bắc còn xa xôi diệu vợi lắm. Miền Bắc vừa ra khỏi chiến tranh, đang gồng mình lên cùng một lúc làm hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững mạnh và đấu tranh giải phóng miền Nam, cái gì cũng thiếu thốn. Nhà văn kể lại, ông lên Điện Biên “trên một chiếc com-măng-ca do Liên Xô chế tạo, mà hễ mỗi lần đổ dốc thì người lái xe lại tắt máy để tiết kiệm xăng”. Ông được “một sĩ quan tham mưu của tướng Võ Nguyên Giáp và một người phiên dịch đi cùng”. Từ những tư liệu thu thập ở Pháp được trong gần mười năm, trong đó có rất nhiều băng ông ghi âm lời kể của các nhân chứng, kết hợp với thực tế và cảm nhận sau chuyến đi, Jules Roy cho ra mắt bạn đọc một tác phẩm đồ sộ, nhan đề giản đơn như một thách thức là Trận Điện Biên Phủ (1963). Trong cuốn sách ấy, theo lời nhà phê bình văn học Jean Planchais viết trên tờ nhật báo Le monde (Thế giới) ra ngày 16-6-2000, tức là ngay hôm sau ngày nhà văn từ trần, “Jules Roy đã chứng minh một cách hết sức chi li những sai lầm của chính sách Pháp ở Viễn Đông, và ông không hề có chút gượng nhẹ đối với các bộ trưởng (có trách nhiệm) cũng như Bộ tư lệnh quân đội Pháp thời 1953-1954.


Sau Việt Nam, một chủ đề khác được Jules Roy hết sức quan tâm là Algérie quê hương thứ hai của ông. Ông có hàng loạt tác phẩm liên tiếp về đất nước này: Những cuộc thập tự chinh tốt đẹp (1959). Cuộc chiến tranh Algérie (1960), Chung quanh tấn bi kịch (1961), rồi Tôi tố cáo tướng Massu1 (1972). Bộ tiểu thuyết dày tới sáu tập Những con ngựa trắng của ông lấy khung cảnh đất nước Algérie, lần lượt xuất bản từ 1967 đến 1980, được dư luận đánh giá cao. Nhiều người cho đó là một bức tranh lãng mạn đậm đà về thời kỳ này đát nước này còn là thuộc địa của Pháp.


Jules Roy chủ yếu là một nhà văn bám sát thời cuộc. Ông xê dịch không biết mệt mỏi. Riêng về Trung Quốc, ông có đến ba cuốn sách. Đầu tiên là Chuyến đi Trung Quốc (1965), tiếp ngay sau đó, khi tấn thảm kịch gọi là cách mạng văn hóa ở Trung Hoa bùng phát: Cuộc đắm tàu lớn (1966) và Cái chết của Mao (1969).


Ngoài những tác phẩm mà chủ đề đi sát thời sự, Jules Roy cũng có viết kịch bản sân khấu, tiểu sử nhân vật, thi ca... Những năm cuối đời, ông sống gần như một người ở ẩn, không tiếp xúc với ai, dành những tháng ngày còn lại ở tuổi ngoài tám mươi, tập trung sức hoàn thành để cho xuất bản liên tiếp ba bộ nhật ký lớn, thể hiện trọn vẹn cuộc đời nhà văn, có tiêu đề: 1925-1965, 1966-1985,1986-19961.…


 


Trận Điện Biên Phủ đúng là một tác phẩm dày dặn về tư liệu và suy ngẫm, ra mắt bạn đọc Pháp vào dịp kỷ niệm 10 năm thất bại của họ và chiến thắng của quân đội ta. Đúng là “đồ sộ”: bản dịch tiếng Việt do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1994 dày ngót một ngàn trang sách khổ 15,5x24,5cm. Jules Roy đã tìm đọc tất cả những tư liệu ông có thể tiếp cận, kể cả những biên bản các cuộc họp quân sự của Bộ Tham mưu quân đội Pháp ở Đông Dương những năm 50, và nhiều bức thư lời qua tiếng lại giữa tướng Navarre, tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương với tướng Cogny, tư lệnh Bắc Đông Dương. Ông đã nghe lại nhiều cuốn băng ghi âm, trong đó có cuốn băng ghi lại cuộc điện đàm giữa tướng Cogny từ tư dinh của y ở ngôi nhà số 71 Hàng Trống, Hà Nội (nay là trụ sở Bộ biên tập báo Nhân dân), với tướng De Castries từ hầm chỉ huy của viên tướng này tại cánh đồng Mường Thanh, mấy tiếng đồng hồ trước khi toàn bộ đội quân Pháp ở Điện Biên kéo cờ trắng xin hàng. Jules Roy đã đích thân phỏng vấn tướng Navarre, tướng Cogny, tướng Đờ Cát và nhiều sĩ quan, binh lính Pháp, cũng như một số sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam từng chiến đấu tại Điện Biên Phủ. Với kiến thức quân sự của một sĩ quan cấp cao và bút pháp một nhà văn già dặn kiêm nhà báo lành nghề, ông đã cho “công bố những gì tôi đã tìm được cho dù nó có làm cho con tim tôi tan nát” - lời ông viết trước khi đặt giấu chấm hết tác phẩm của mình.


Cuốn sách cực kỳ hấp dẫn. Người đọc không cần chú ý lắm vẫn thấy rõ dụng tâm của tác giả: ông luôn tìm mọi cách chứng minh quân đội Pháp chiến đấu ở Điện Biên Phủ là không hề tồi, họ xứng đáng được nhân dân Pháp tôn vinh là anh hùng. Sở dĩ Pháp bại trận là do sai lầm của các nhà chính khách Pháp và sự bất tài (xen lẫn sự thù hằn lẫn nhau) của các tướng lĩnh chỉ huy Pháp. Jules Roy cũng không thể làm ngơ không nhìn nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng tuyệt vời của Quân đội Việt Nam, những người đã làm nên chiến thắng một cách xứng đáng. Ông khẳng định: thời gian trước Điện Biên Phủ, một lần nữa chính phía Pháp, chứ không phải phía Việt Nam, đã bỏ lỡ thêm một cơ hội nữa có thể mang lại hòa bình, từ đó tránh cho Pháp tấn thảm kịch là sự thất trận ê chề ở cách đồng Mường Thanh và trên toàn cõi Đông Dương. Ông đã tự đáy lòng thốt lên những lời xúc động và khách quan. Chẳng hạn, tả lại những trận mưa xối xả đầu mùa ở mặt trận, Jules Roy viết: “...Bùn đất đã làm ngập tất cả các hầm trú ẩn và cả hầm bệnh xá. Bùn đất vấy bẩn thêm các vết thương đã bị nhiễm trùng, thêm một tai họa cho cả hai bên, mà lực lượng cáng thương (cả hai bên) phải vất vả lắm mới kịp mang đến trạm cấp cứu. Nhưng trong khi bên này (phía quân đội Pháp) chìm sâu xuống chín tầng địa ngục, thì bên kia (quân đội Việt Nam) nhờ có được niềm tin chiến thắng mà chịu đựng được đớn đau và không hề sợ hãi trước cái chết” (ghi lại cảnh ngày 2-5-1954).


Tác giả kết thúc phần tường thuật chi tiết về diễn biến từng ngày của trận đánh bằng những lời dưới đây: “Trên toàn thế giới, trận đại bại ở Waterloo1 không gây tiếng vang bằng lần thất bại này của quân đội Pháp. (Cụm đồn trú ở) Điện Biên Phủ thất thủ, đã gây nên nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đó là một trong những thảm bại lớn nhất của phương Tây, báo trước một sự sụp đổ của các đế quốc thực dân và sự cáo chung của một nền cộng hòa[1]. Tiếng sấm Điện Biên Phủ hãy còn vang vọng đến hôm nay”.


 


Gần ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày tôi lần đầu được cuốn La bataille de DiênBiênPhu của Jules Roy bằng tiếng Pháp, ấn tượng cuốn sách “đồ sộ” ấn loát rất đẹp như vẫn còn in đậm trong tôi, cũng như trong số ít bạn bè từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia trận Điện Biên Phủ năm 1954. Hồi đó, sách các tác giả Pháp và nước ngoài viết về Điện Biên Phủ chưa nhiều, và cũng chưa kịp xuất bản bộ ba hồi ức của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trận Điện Biên Phủ cung cấp cho chúng tôi một cái nhìn rõ ràng, cặn kẽ ngay từ phía bên trong của đối phương. Nó gợi tôi nghĩ tới cuốn Stalingrad, tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Đức Theodore Pleivier (1892-1955) mô tả thảm bại của quân đội Đức quốc xã nhìn từ bên trong, khi chúng bị Hồng quân Liên Xô thít chặt dần vòng vây. Cái khác là cuốn trước là tiểu thuyết, còn cuốn này hoàn toàn là người thực việc thực, thông qua những nhân chứng sống, do đó sức thuyết phục càng cao. Tôi có thể khẳng định, cuốn Trận Điện Biên Phủ của Jules Roy đã cung cấp nhiều tư liệu và tạo hứng khởi cho nhà văn quá cố Thép Mới viết nên loạt bài chính luận sôi nổi, đậm đà tự hào dân tộc, với nhan đề chung là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam, khởi đăng trên báo Nhân dân (1965).


Bản tiếng Việt Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp do Bùi Trần Phượng dịch, Trần Bạch Đằng đề tựa (1994) ra mắt độc giả ta khá muộn màng - xét về góc độ chủ đề tác phẩm đối với người Việt Nam ta. Một bản dịch nghiêm túc được thực hiện bởi một nhà sử học am hiểu văn hóa Pháp, với những chú thích tuy không nhiều song rất cần thiết giúp người đọc chưa quen hiểu sâu hơn ý tại ngôn ngoại của tác giả.




2000.


PQ. 


Nguồn: Cho đến khi giã từ trần thế. Tiểu luận, bút ký của Phan Quang. NXB. Phụ nữ. 2011.


www.trieuxuan.info








1 Massu là viên tướng chỉ huy quân đội đã gây ra hàng loạt tội ác đẫm máu đối với nhân dân Algérie.




2 Mới đây, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Jules Roy (1907-2007), tại Paris có cuộc hội thảo về ông quy tụ nhiều nhà văn tên tuổi từng quen biết ông lúc sinh thời. Một nhà phê bình gọi ông là con người bị giằng xé giữa Đất và Trời (Đất và Trời là tên một tác phẩm của Jules Roy.




1 Trận thảm bại của Napoléon trước liên quân Anh-Đức... năm 1812 tại Bỉ.




2 Nền đệ tứ cộng hòa của Pháp. Sau thất bại Điện Biên Phủ, năm 1959 De Gaulle cho ban hành hiến pháp mới, thành lập nền cộng hòa thứ năm - PQ.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »