tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20038779
Tiểu thuyết
08.05.2012
Henry Fielding
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1

QUYỂN BA. GỒM NHỮNG BIẾN CHUYỂN ĐÁNG GHI NHỚ NHẤT TRONG GIA ĐÌNH ÔNG OLUƠTDI TỪ KHI TOMMY JÔN MƯỜI BỐN TUỔI CHO TỚI KHI CẬU MƯỜI CHÍN TUỔI. TRONG PHẦN NÀY, BẠN ĐỌC CÓ THỂ LƯỢM LẶT ĐƯỢC MỘT SỐ GỢI Ý VỀ PHÉP GIÁO DỤC CON TRẺ.


CHƯƠNG I


Rất ít chuyện, hoặc không có gì cả


Xin bạn đọc vui lòng nhớ lại hộ rằng bước vào quyển thứ nhì cuốn truyện, chúng tôi đã nói là sẽ chủ tâm bỏ qua nhiều khoảng thời gian dài trong đó không có chuyện gì đáng ghi lại trong một cuốn biên niên ký thuộc loại này.


Làm thế, chẳng những chỉ là nghĩ đến tư cách và sự thoải mái riêng của chúng tôi, mà cũng là nhằm lợi ích của bạn đọc nữa: bằng cách ấy, chúng tôi tránh cho các bạn khỏi phí thời giờ vì có đọc mà không thấy thích thú hoặc được bổ ích gì, lại còn tạo cơ hội cho các bạn sử dụng trí thông minh tài tình là sở trường của các bạn để các bạn tự đưa ra những phỏng đoán bổ sung vào những khoảng trống đó. Nhằm mục đích ấy, chúng tôi đã chú ý chuẩn bị trước cho bạn đọc trong những trang trên.


Thí dụ, như ai cũng rõ, trước cái chết của bạn, ông Oluơtdi thoạt tiên cảm thấy đau buồn như thế nào, cũng như mọi con người mà trái tim khối óc không phải là sắt đá vẫn cảm thấy trong những trường hợp tương tự. Bạn đọc lại cũng thừa biết rằng triết lý và tôn giáo đã kịp thời đến xoa dịu và cuối cùng xua tan được nỗi đau buồn ấy. Triết lý thì dạy rằng đau buồn là điên rồ và phù phiếm; còn tôn giáo thì uốn nắn, coi là không đúng giới luật, đồng thời làm cho ta khuây khỏa bằng cách nêu lên những niềm hy vọng và những tin tưởng ở tương lai, có khả năng giúp cho tâm hồn mạnh mẽ và mộ đạo từ biệt một người bạn vào phút lâm chung một cách cũng gần thản nhiên như thể người bạn ấy sửa soạn đi chơi xa một thời gian dài, và dĩ nhiên là ít có hy vọng gặp lại hơn.


Hẳn bạn đọc sáng suốt cũng không thể bỡ ngỡ gì hơn về phía bà Britdêt Blifin; bạn có thể yên trí rằng suốt khoảng thời gian mà nỗi buồn cần phải thể hiện ra bề ngoài ấy, bà đã xử sự theo đúng mọi phép tắc của phong tục tập quán và phép trang nhã, thay đổi vẻ mặt khớp theo sự thay đổi trong cách phục sức; quần áo từ màu tang sang màu đen, từ đen sang xám, từ xám sang trắng, thì vẻ mặt bà cũng chuyển từ thê thảm sang rầu rĩ, từ rầu rĩ sang âu sầu, và từ âu sầu sang nghiêm trang, cho tới một ngày kia, bà được phép lấy lại vẻ mặt thư thái như xưa.


Chúng tôi dẫn ra hai thí dụ trên về công việc mà bạn đọc thuộc loại thấp nhất phải làm. Bạn đọc có khả năng phê bình cao hơn, dĩ nhiên có quyền chờ đợi những bài tập khó khăn hơn về óc suy luận và trí thông minh thấu suốt. Tôi tin chắc các bạn đọc ấy sẽ khám phá được nhiều điều đáng chú ý về những biến chuyển xảy ra trong gia đình ông Oluơtdi, trong suốt khoảng thời gian mà chúng tôi nghĩ nên bỏ qua. Bởi vì, trong thời gian ấy, tuy không có điều gì đáng được kể lại trong truyện này, nhưng cũng đã xảy ra nhiều sự việc có tầm quan trọng tương tự như những sự việc được các sử gia của thời đại liệt kê hàng ngày và hàng tuần; vô khối người mất khá nhiều thì giờ đọc những chuyện ấy, mà tôi e rằng cũng chả bổ ích cho họ được mấy tí. Bây giờ, trong việc phỏng đoán mà chúng tôi đề nghị với bạn đọc, một vài năng khiếu tinh thần siêu việt nào đó sẽ được sử dụng một cách hữu ích, vì căn cứ vào tính tình mà tiên đoán được hành động của người đời trong một hoàn cảnh nào đó vẫn là một khả năng hữu ích hơn là chỉ biết căn cứ vào hành động mà xét đoán tính tình. Tôi công nhận rằng khả năng thứ nhất đòi hỏi phải có con mắt thấu triệt hơn; song, nếu ta thực sự tinh ý thì chắc chắn cũng thực hiện được khả năng thứ hai một cách có hiệu quả không kém.


Chúng tôi biết rằng một số lớn bạn đọc có đức tính trên, nên đã dành cho họ một khoảng thời gian là mười hai năm để họ vận dụng đức tính ấy. Bây giờ, chúng tôi đưa ra mắt bạn đọc nhân vật chính của chúng tôi lúc nó đã mười bốn tuổi; chắc hẳn từ lâu nhiều người đã sốt ruột muốn làm quen với nó.


 


 


CHƯƠNG II


Nhân vật chính của cuốn truyện vĩ đại này xuất hiện với những điềm báo trước rất gở. Một câu chuyện nhỏ, thuộc loại tầm thường nhất, đến nỗi có người nghĩ rằng không đáng được chú ý tới. Vài lời về một nhà điền chủ, và nói nhiều hơn đến một bác coi rừng và một ông thầy giáo.


 


Thoạt ngồi xuống viết cuốn truyện này, chúng tôi đã quyết định sẽ không bợ đỡ ai, chỉ hướng ngòi bút từ đầu đến cuối theo chỉ thị của sự thật; vì vậy, chúng tôi buộc lòng phải đưa nhân vật chính ra sân khấu một cách kém thuận lợi hơn là chúng tôi có thể mong ước, và ngay lúc nhân vật này mới xuất hiện, chúng tôi đành nói rõ một cách thực thà rằng mọi người trong gia đình Oluơtdi đều thống nhất ý kiến chắc chắn thằng bé ra đời là để bị treo cổ.


Tôi rất buồn mà nói rằng đoán như vậy cũng khá có lý. Ngay từ lúc còn bé, thằng nhỏ đã lộ rõ có khuynh hướng mắc nhiều thói xấu, đặc biệt là một thói xấu trực tiếp dẫn tới cái số pậhn mà chúng tôi vừa nói, mọi người đoán trước cho nó. Nó đã bị kết tội ba lần ăn trộm, một bận ăn trộm trong một vườn quả, một bận ăn trộm một con ngan trong sân nhà một tá điền và một bận đánh cắp quả bóng trong túi cậu Blifin.


Hơn nữa, những thói xấu của thằng bé lại càng bị coi là trầm trọng vì nó bị đặt vào một hoàn cảnh bất lợi là đối diện với những đức tính của cậu Blifin, bạn nó, một chú bé bản tính khác hẳn Jôn, cho nên không những mọi người trong gia đình mà ngay cả những người láng giềng ai ai cũng khen cậu ta là ngoan. Quả thật, tính tình cậu này rất đáng khen: thủy mị, kín đáo, ngoan đạo hơn mọi đứa trẻ cùng lứa tuổi, khiến ai biết cậu bé cũng phải yêu mến, còn Tôm Jôn thì chẳng ai ưa. Nhiều người ngạc nhiên không hiểu sao ông Oluơtdi lại cho một đứa nhỏ như vậy được nuôi dưỡng, giáo dục cùng với cháu ông mà không sợ đức hạnh cháu ông sẽ hư hỏng vì bắt chước nó.


Vào hồi này, đã xảy ra một việc khiến cho tính tình hai đứa trẻ hiện lên còn rõ ràng trước mắt bạn đọc sáng suốt hơn cả những lời phân tích dài dòng nhất.


Tôm Jôn tuy xấu thói như thế nhưng vẫn phải là nhân vật chính trong chuyện này. Trong số gia nhân của ông Oluơtdi nó chỉ còn có một người bạn, vì bà Winkin bỏ rơi nó từ lâu để hoàn toàn làm lành với bà chủ. Người bạn này là bác coi rừng, một người tính tình bừa bãi và xem ra cũng không quan niệm được sự khác biệt giữa meum và tuum( ) rõ ràng hơn chính thằng bé Tommy mấy chút. Do đó, mối tình bạn này đã khiến cho bọn gia nhân trong nhà đưa ra nhiều câu châm biếm, nhiều khi đó là những câu tục ngữ hoặc ít nhất thì bây giờ cũng đang trở thành tục ngữ; tinh thần chung của những nhận xét ấy có thể tóm tắt trong câu tục ngữ La tinh ngắn ngủi "Noacitur a socio", dịch ra là "Xét bè bạn, biết con người".


Nói của đáng tội, có lẽ một số vụ nghịch ngợm tệ hại của Jôn, mà chúng tôi vừa dẫn ra ba thí dụ, là do bác này khuyến khích; trong vài ba trường hợp theo luật pháp có thể gọi bác ta là tòng phạm; vì tất cả con ngan và phần lớn số táo thằng bé Jôn lấy trộm là để bác ta và gia đình dùng. Do chỉ bắt được quả tang có một mình Jôn, nên thằng bé đáng thương phải gánh lấy cả ngọn roi lẫn câu mắng; trong vụ sau đây cũng thế, một mình cu cậu phải chịu hết.


Sát cạnh khu trại của ông Oluơtdi là trang trại của một trong số những vị thượng lưu gọi là "Nhà bảo tồn thú săn". Loại người này ưa báo thù cho cái chết của một con thỏ rừng hoặc một con gà gô một cách rất nghiêm khắc; có thể cho rằng họ tôn sùng cùng một thứ tôn giáo dị đoan như tín đồ Baniơn ở Ấn Độ... Tôi nghe nói nhiều người thuộc loại này dốc cả đời mình vào việc bảo tồn một số giống vật nào đó; phải chăng những người bạn Baniơn Anh Cát Lợi của chúng ta, trong khi bảo vệ những giống vật ấy chống lại những kẻ thù khác, chính họ lại sát hại lẫn nhau một cách hết sức tàn bạo, thành thử họ hoàn toàn không dính dáng gì đến thói dị đoan ngoại đạo kia.


Quả tình, khác một số người, tôi lại có ý kiến rất tốt về loại người này; tôi cho rằng họ đã đáp ứng yêu cầu của tạo hóa, cùng những mục đích tốt đẹp mà họ có sứ mệnh thực hiện, trong một phạm vi rộng rãi hơn nhiều người khác. Hôrax bảo chúng ta rằng có một loại người:


Fruges consesmere nati


"Sinh ra để xơi hết hoa quả trên trái đất", do đó tôi tin chắc cũng có những người khác.


Feras consumerenati


"Sinh ra để xơi hết thú vật trên đồng cỏ", hoặc thông thường vẫn gọi là thú săn; hẳn không một ai chối cãi rằng những nhà điền chủ này đã không thực hiện mục đích họ sinh ra đời.


Một hôm thằng Jôn đi săn với bác gác rừng; ngẫu nhiên, một bầy gà gô bay vụt lên, gần địa phận trang trại, nơi số mệnh đã đặt sẵn một tay "xơi thú rừng" để thực hiện mục đích khôn ngoan của tạo hóa; bầy chim bay ngay vào đó và bị hai thiện xạ phát hiện (gọi là thế) ở mấy bụi cây trường xuân cách địa phận trang trại của ông Oluơtdi khoảng vài trăm thước. Ông Oluơtdi đã ra lệnh nghiêm ngặt cho bác gác rừng không bao giờ được xâm phạm vào địa phận của bất cứ trang trại láng giềng nào, nếu không nghe, sẽ bị mất việc, dù là những vị trang chủ không gay gắt lắm, cũng như của vị chủ nhân trang thự nói trên. Thực tình, đối với những vị trang chủ khác, thường thường những mệnh lệnh trên không được tôn trọng triệt để lắm; nhưng vị thượng lưu được bầy gà gô vừa tìm đến trú ẩn tính tình ra sao ai cũng đã rõ, nên bác gác rừng chưa hề bao giờ dám xâm phạm vào phạm vi đất đai của ông. Ngay lần này bác ta cũng chẳng dám, ví thử chú bé thiện xạ trẻ tuổi của chúng ta không quá ham mồi đã hết sức thuyết phục bác; Jôn cứ nằn nì mãi, mà bác cũng đang ham, thành thử bác đã nghe theo, cùng nó lần vào trong trại để bắn lấy một con gà gô.


Lúc ấy, chính vị chủ trại đang cưỡi ngựa, cách đó không xa. Nghe tiếng súng, ông ta lập tức tìm đến tóm ngay được Jôn; bác gác rừng đã nhanh chân may mắn chui tọt vào trong bụi cây trường xuân, chỗ rậm nhất, náu mình.


Nhà điền chủ khám người Jôn thấy con gà gô, bèn đe sẽ trừng trị thích đáng; và nói thế nào cũng mách ông Oluơtdi. Nói là làm, ông ta lập tức phóng ngựa đến nhà ông Oluơtdi, phản đối việc cậu bé xâm phạm địa phận trang trại của mình bằng những lời lẽ rất gay gắt, tưởng chừng nhà ông bị phá tan hoang, những đồ đạc quý giá bị người ta cướp đi mất. Ông ta còn nói có một người cùng đi với Jôn nhưng ông không tìm ra được, vì rõ ràng nghe thấy hai tiếng súng nổ hầu như cùng một lúc. Ông bảo: "Chúng tôi chỉ tìm thấy có một con gà gô này, nhưng có trời biết chúng nó đã gây tai hại đến thế nào".


Vừa về đến nhà, Jôn lập tức bị ông Oluơtdi cho gọi lên. Nó nhận có bắn trộm gà gô, và cũng không đưa ra lý do gì để bào chữa, chỉ nói đúng sự thật là thoạt tiên, bầy gà gô từ trong trang trại của ông Oluơtdi bay lên.


Ông hỏi nó đã đi với ai và nhất thiết phải nói cho ông biết, ông bảo nhà quý tộc láng giềng và đám gia nhân của ông ta đã nói là có hai tiếng súng nổ. Nhưng Jôn cứ khăng khăng rằng chỉ có một mình nó. Của đáng tội, mới đầu cu cậu cũng hơn ngần ngừ; nếu như nhà điền chủ và đám gia nhân của ông ta cần có thêm bằng chứng, thì thái độ ấy cũng đã làm cho ông Oluơtdi tin lời họ.


Bác gác rừng nằm trong số những người khả nghi, nên bị gọi đến hỏi; nhưng tin vào lời Tôm đã hứa sẽ nhận hết tội lỗi về mình; nên bác cả quyết chối cãi không nhận cùng đi với thằng bé, thậm chí suốt buổi chiều hôm ấy bác không hề gặp mặt nó lần nào.


Ông Oluơtdi bèn quay sang phía Jôn, vẻ mặt giận dữ khác thường, bảo nó phải thú nhận khai ra ngay ai đã cùng đi với nó. Ông nhắc lại rằng nhất định ông phải được biết. Nhưng Tôm vẫn một mực chối; ông Oluơtdi giận lắm, bảo nó đi ra; và từ giờ cho đến sáng hôm sau, nó phải suy nghĩ lại về việc này, vì sẽ có người khác xét hỏi và xét hỏi bằng cách khác.


Thằng Jôn đáng thương trằn trọc suốt đêm hôm ấy; tệ hơn nữa, nó lại không có bên cạnh người bạn hàng ngày; vì cậu Blifin cùng bà mẹ đi thăm người quen vắng. Đối với nó, bị trừng phạt vì chuyện này không phải là chuyện đáng sợ, mà chỉ lo liệu nó có kiên trì đến cùng được không, hay là lại phải khai ra bác coi rừng, mà nó biết, nếu nó khai ra bác ta sẽ bị tai họa thế nào!


Đêm ấy, bác gác rừng cũng chẳng yên tâm hơn. Bác cũng lo như thằng bé; bác lo cho danh dự của nó nhiều hơn là lo cho bản thân mình.


Sáng hôm sau, Tôm phải đến gặp ông Thoăckơm, người được ông Oluơtdi giao phó cho việc dạy dỗ hai đứa trẻ. Ông này cũng hỏi Jôn những câu như tối hôm trước người ta đã hỏi; nó vẫn trả lời như cũ. Kết quả, cu cậu được một trận đòn rất đau, có thể nói không kém mấy so với sự tra tấn ở một số nước để buộc phạm nhân phải thú tội.


Tôm gan góc chịu đựng. Cứ đánh một roi ông giáo lại hỏi xem nó có chịu thú thực không, nhưng nó thà chịu bị lột da còn hơn là phản bội bạn, hoặc phản bội lời hứa.


Bác coi rừng lúc ấy mới hết lo, mà ông Oluơtdi cũng bắt đầu nghĩ đến thằng bé bị đánh đau; ông Thoăckơm không bắt được thằng bé thú nhận, nên phát khùng, và tỏ ra nghiêm khắc quá mức ông Oluơtdi dự tính; do đó, ông Oluơtdi bắt đầu ngờ hay là nhà điền chủ kia đã lầm, mà đang cơn quá giận ông ta cũng có thể nhầm lắm, còn như lời bọn gia nhân xác nhận ý kiến của chủ, không đáng để ông để ý. Giờ đây, vì tàn nhẫn và bất công là hai ý niệm mà ông Oluơtdi không thể chịu đựng được dù chỉ một lúc, ông bèn cho gọi Tôm, lấy lời lẽ ngọt ngào thân mật khuyên bảo nó, ông nói:


- Con thân yêu, ta tin rằng ta đã ngờ oan cho con, ta rất ân hận vì con đã bị trừng phạt nghiêm khắc về việc này. Cuối cùng, ông đền cho nó một con ngựa con và nhắc đi nhắc lại, ông rất lấy làm tiếc về chuyện đã xảy ra.


Bấy giờ, Tôm mới thấy rõ mình có tội; điều mà không một sự trừng phạt nghiêm khắc nào làm cho nó thấy được. Nó có thể chịu đựng những ngọn roi của ông Thoăckơm dễ dàng hơn là sự rộng lượng của ông Oluơtdi. Nghe ông nói, nó giàn giụa nước mắt, quỳ xuống kêu lên:


- Ôi, thưa cha, cha đã quá thương con. Vâng, quả là như vậy. Con thật đã không xứng đáng với tấm lòng trời biển của cha.


Trong phút tâm hồn bị xúc động mạnh mẽ, suýt nữa nó đã nói ra điều nó vẫn giấu; song, vị thần hộ mệnh của bác coi rừng đã kịp thời rỉ tai nó rằng hậu quả có thể rất tai hại cho con người tội nghiệp kia, nên nó đã ngậm miệng lại.


Ông Thoăckơm hết sức khuyên ông Oluơtdi không nên tỏ thái độ thương xót hay quá rộng lượng với thằng bé, vì lẽ: "Nó cứ khăng khăng dối trá", lão còn gợi ý nên cho một trận đòn thứ hai chắc chắn nó phải khai ra sự thật.


Nhưng ông Oluơtdi cương quyết không nghe theo. Ông bảo vì che giấu sự thật nó đã phải đòn như thế cũng đã khá đủ rồi, dù thằng bé có tội chăng nữa, ông thấy động cơ duy nhất khiến nó hành động như vậy cũng chỉ vì một ý thức sai lầm về danh dự mà thôi.


- Danh dự! - Thoăckơm hơi cáu, kêu lên - Bướng bỉnh, cứng cổ thì có. Danh dự đâu có dạy ai nói dối? Có danh dự nào tồn tại được độc lập ngoài tôn giáo?


Cuộc tranh luận xảy ra tại bàn ăn, lúc bữa ăn vừa kết thúc, lúc có mặt ba người là ông Oluơtdi, Thoăckơm và một vị thứ ba, bây giờ cũng tham gia cuộc tranh cãi. Trước khi kể tiếp, chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt vị này với bạn đọc.


 


 


CHƯƠNG III


Tính tình Xque tiên sinh, nhà triết học, và Thoăckơm tiên sinh, nhà thần học, và một cuộc tranh cãi về vấn đề...


Vị thượng lưu đã sống tại nhà ông Oluơtdi một thời gian, tên là Xque. Bẩm sinh ông ta cũng không có tài năng gì đặc biệt, nhưng ông ta trau dồi nó bằng một nền giáo dục uyên bác. Ông đã nghiên cứu sâu các tác giả cổ đại, là một bậc thầy rõ rệt về các tác phẩm của Platô( ) và Arixtôt( ). Ông tự rèn luyện mình chủ yếu theo hai cái mẫu mực lớn lao này. Có khi theo ý kiến của vị này, có lúc theo ý kiến của vị kia. Về mặt đạo đức, ông là một môn đồ của Platô, về mặt tôn giáo, ông lại nghiêng về Arixtôt.


Tuy rằng, như chúng tôi đã nói, về mặt đạo đức, ông theo mẫu mực Platô, nhưng ông lại hoàn toàn tán thành ý kiến của Arixtôt, coi nhân vật vĩ đại này là một nhà triết học, một nhà luận thuyết hơn là một nhà lập pháp. Quan điểm này ông hiểu rất xa, thực vậy, đến mức cho rằng mọi đức hạnh chỉ là vấn đề lý thuyết. Thực ra, theo chỗ tôi biết, ông ta chưa hề khẳng định ý kiến này với một ai; song chỉ ngó qua tư cách ông, tôi không thể không nghĩ rằng đó thực là quan điểm của ông, vì nó sẽ rất phù hợp với một số điểm thể hiện ra sau này, nếu không sẽ trở thành mâu thuẫn trong tính tình ông ta.


Ông ta và ông Thoăckơm ít khi gặp nhau mà không nổ ra tranh cãi, vì quan điểm giáo lý của hai bên hoàn toàn đối lập. Xque chủ trương rằng bản tính loài người là sự hoàn thiện của mọi đạo đức và thói xấu chính là một sự lệch lạc của bản tính chúng ta, cũng như sự méo mó của cơ thể. Trái lại, Thoăckơm chủ trương rằng, kể từ khi bị sa ngã con người chỉ là một vũng lầy tội lỗi xấu xa, cho đến bao giờ nhờ ơn Chúa được gạn lọc và chuộc tội mới hết. Hai người chỉ thống nhất với nhau ở một điểm duy nhất là trong mọi cuộc tranh luận về đạo đức không bao giờ họ nhắc tới danh từ Lòng tốt. Vị thứ nhất thú nhất câu Cái đẹp của Đức hạnh, vị thứ hai thú nhất câu Sức mạnh thiêng liêng của ơn Chúa. Vị thứ nhất xét đoán mọi hành động theo "Quy tắc của Điều phải" bất di dịch và "Sự thích ứng đời đời của vạn vật"; vị thứ hai dùng quyền uy để quyết định mọi vấn đề, nhưng trong việc làm này ông ta luôn luôn viện dẫn kinh thánh và những nhà bình luận kinh thánh, cũng như nhà luật gia vẫn thường viện dẫn cuốn Coke upon Lyttleton của mình, một cuốn sách mà lời bình luận cũng có uy quyền ngang như chính văn.


Sau mấy lời giáo đầu ngắn gọn này, xin bạn đọc vui lòng nhớ lại cho rằng vị mục sư đã kết thúc bài diễn thuyết của mình bằng một câu hỏi đầy đắc thắng, mà ông ta yên trí không ai trả lời được, tức là câu: "Danh dự có thể tồn tại độc lập ngoài tôn giáo được không?".


Trả lời câu hỏi này, ông Xque nói rằng không thể thảo luận đúng yêu cầu triết học về những danh từ chừng nào chưa xác định trước ý nghĩa của chúng, rằng ít khi có hai danh từ nào ý nghĩa lại mơ hồ khó xác định như hai danh từ ông kia vừa dẫn ra vì rằng ý kiến khác nhau về danh dự cũng nhiều gần ngang với ý kiến khác nhau về tôn giáo. Ông nói:


- Song, nếu ngài hiểu danh dự là cái đẹp tự nhiên chân chính của đức hạnh thì tôi cho rằng nó có thể tồn tại độc lập với bất cứ tôn giáo nào. Mà (ông ta nói thêm) chính ông cũng sẽ công nhận rằng nó tồn tại độc lập với mọi tôn giáo trừ một tôn giáo duy nhất; vì thế một tín đồ Hồi giáo, một người Do Thái, cũng như mọi người bênh vực cho các giáo phái khác trên thế giới họ cũng đều quan niệm như vậy.


Thoăckơm đáp rằng nói thế là lập luận theo cách xảo trá vẫn dùng của mọi kẻ thù địch với nhà thờ chân chính. Ông ta bảo chẳng phải nghi ngờ gì nữa, hết thảy mọi kẻ dị giáo, mọi kẻ chống đạo trên thế giới, nếu có thể, đều sẵn sàng khuôn khái niệm danh dự vào trong phạm vi những sự sai lầm kỳ quái và những sự bịp bợm đáng nguyền rủa của chúng. Ông nói:


- Tuy thế, không phải vì có nhiều ý kiến phi lý về danh dự mà danh dự có nhiều mặt cũng như không phải vì có nhiều giáo phái và nhiều tôn giáo ngoại đạo khác nhau mà tôn giáo có nhiều vẻ. Khi tôi nói đến tôn giáo, là tôi muốn nói đến Cơ Đốc giáo, không phải chỉ là Cơ Đốc giáo, mà còn là đạo Tin Lành; không phải chỉ là đạo Tin Lành, mà còn là Anh quốc giáo, và khi tôi nói đến danh dự, ấy là tôi nói đến thứ ơn Chúa thiêng liêng, không những thích hợp mà còn là tùy thuộc vào tôn giáo ấy, chớ không thích hợp, không tùy thuộc vào bất cứ tôn giáo nào khác. Thế mà bảo rằng thứ danh dự tôi nói ở đây, và tôi nghĩ cũng là tất cả mọi thứ danh dự tôi có thể nói tới, lại tán thành, chưa nói là bắt phải làm một sự dối trá, thì tức là khẳng định một sự phi lý trắng trợn không thể tưởng tượng được.


Xque đáp:


- Tôi cố ý tránh không rút ra một kết luận từ lời tôi vừa nói, mà tôi nghĩ rằng đã quá rõ ràng; song nếu ngài có nhận ra kết luận ấy, tôi chắc chắn ngài sẽ không có ý định trả lời. Tuy nhiên, khoan bàn tới vấn đề tôn giáo, tôi nghĩ rằng, căn cứ vào điều ngài vừa nói, rõ ràng chúng ta có nhiều quan niệm khác nhau về danh dự; nếu không, tại sao chúng ta lại không thống nhất với nhau về cách giải thích? Tôi đã khẳng định rằng danh dự chân chính và đức hạnh chân chính hầu như là hai từ đồng nghĩa, và cả hai đều dựa trên một cơ sở là quy tắc bất di bất dịch về điều phải, và sự thích ứng đời đời của vạn vật; đối với những điều này một sự dối trá là đáng ghê tởm và đối lập cho nên, rõ ràng danh dự chân chính không thể ủng hộ một sự dối trá. Do đó, tôi nghĩ chúng ta thống nhất với nhau về điểm này; song nói rằng danh dự ấy được xây dựng trên cơ sở tôn giáo, mà chính nó lại có trước tôn giáo, nếu như quan niệm tôn giáo là một phép tắc rõ ràng nào...


Thoăckơm giận dữ đáp:


- Tôi mà đồng ý với một người dám khẳng định danh dự có trước tôn giáo! Thưa ông Oluơtdi, tôi có bao giờ nói thế không?...


Lão còn định nói tiếp thì ông Oluơtdi xen vào; ông lạnh lùng bảo cả hai rằng họ đã hiểu sai ý ông, vì ông đã không hề nói gì về danh dự chân chính... Tuy nhiên, lúc này cả hai người đang cùng hăng tiết như nhau, ông khó lòng dẹp được họ nếu đã không xảy ra một sự việc khác làm chấm dứt câu chuyện trên.


 


 


CHƯƠNG IV


Gồm một lời thanh minh cần thiết cho tác giả; và một chuyện trẻ con, có lẽ cũng cần một lời thanh minh tương tự.


Trước khi tiếp tục câu chuyện, chúng tôi xin được phép để đề phòng một vài sự hiểu lầm mà một số ít độc giả vì quá nhiệt tình có thể sẽ mắc phải; vì tôi không cố tình xúc phạm bất cứ ai, đặc biệt là những người có nhiệt tâm với vấn đề đức hạnh và tôn giáo.


Do đó, tôi hy vọng rằng sẽ không ai, vì một sự hiểu lầm thô kệch nhất hoặc vì xuyên tạc thâm ý của tôi, mà gán cho tôi là cố tình giễu cợt những sự hoàn thiện nhất của bản tính loài người. Những cái, quả thật, chí có làm cho trái tim con người ta trở thành trong sạch, cao quý, và nâng con người lên cao hơn loài vật. Thưa bạn đọc, tôi xin đánh bạo mà nói rằng (các bạn càng tốt chừng nào thì càng sẵn sàng tin lời tôi chừng ấy) thà tôi đem chôn vùi những ý kiến của hai vị kia trong sự quên lãng vĩnh viễn còn hơn làm một chút phương hại đến một trong hai điều quang vinh kia.


Trái lại, chính vì muốn giúp ích cho hai điều đó mà tôi đã tự lãnh lấy công việc ghi chép lại cuộc đời và hành vi của hai người trong số nững kẻ giả dối tự xưng là bảo vệ cho đạo đức và tôn giáo. Một người bạn phản bội là một kẻ thù nguy hiểm nhất; và tôi xin mạnh bạo nói rằng tôn giáo và đạo đức đã thực sự bị bôi xấu vì bọn người đạo đức giả, còn hơn cả vì những tên báng bổ hoặc những tên phản đạo quỷ quyệt nhất.


Đạo đức và tôn giáo khi thuần khiết, thực là những rường cột của xã hội con người, và quả thật đấy là những hạnh phúc lớn lao; song một khi đạo đức và tôn giáo đã bị đầu độc bởi sự giả mạo, lừa dối và giả tạo thì lại trở thành những tai họa ghê gớm nhất của con người, nó khiến con người phạm vào những lầm lỗi tai hại nhất đối với đồng loại.


Quả thật, tôi tin rằng nói chung, trò khôi hài kia sẽ được các bạn bỏ qua, có điều vì những kẻ kia nhiều khi cũng nói ra được nhiều ý kiến đúng đắn hợp lẽ nên tôi lo nhất là rồi tất cả sẽ bị đánh đồng loạt, còn tôi sẽ bị coi là kẻ muốn giễu cợt hết thảy như nhau. Bây giờ xin các bạn đọc vui lòng để ý hộ rằng cả hai người kia đều không phải là ngu ngốc, vậy thì không thể nghĩ họ chỉ bảo vệ những điều phi lý và chỉ nói những điều vô lý; do đó, nếu tôi chỉ chọn lấy những gì là xấu xa của họ để miêu tả, thì nhất định tôi đã làm một sự bất công rất lớn và nếu vậy, những lý lẽ của họ phải ngớ ngẩn, khập khiễng một cách khủng khiếp.


Nói chung thì không phải là tôn giáo và đạo đức, mà chính là sự thiếu tôn giáo và thiếu đạo đức được trình bày ở đây. Nếu như Thoăckơm đã không coi thường quá đáng đạo đức, Xque đã không coi thường quá đáng tôn giáo trong cơ cấu lý thuyết họ đưa ra, nếu như cả hai đều không hoàn toàn gạt bỏ lòng tốt bẩm sinh của con người, thì không bao giờ họ bị miêu tả một cách hài hước trong cuốn truyện này; bây giờ chúng tôi tiếp tục.


Cái việc đã chấm dứt cuộc tranh cãi ở chương trên, chính là một vụ xích mích giữa cậu Blifin và Tôm Jôn. Kết quả là Blifin bị đổ máu mũi, vì tuy Blifin ít tuổi hơn, song lại cao to hơn đối thủ, còn Tôm chiếm ưu thế về nghệ thuật quyền Anh.


Tuy nhiên, Tôm vẫn thận trọng tránh mọi sự va chạm với bạn, vì tuy Tôm Jôn hay nghịch ngợm thật nhưng là một đứa trẻ không ưa gây gổ, lại thực tâm yêu quý Blifin, lại thêm ông Thoăckơm luôn luôn ở bên Blifin, như thế cũng đủ ngăn không cho Tôm gây sự được.


Song, một tác giả nào đó đã nói rất đúng rằng không ai lúc nào cũng khôn ngoan được, cho nên ta không nên lấy làm lạ nếu một đứa trẻ có lúc nào đó đã tỏ ra không khôn ngoan. Hai đứa đang chơi với nhau thì xảy ra chuyện cãi cọ, cậu Blifin gọi Tôm là "đồ con hoang ăn mày". Tính Tôm Jôn hơi cục, nên lập tức đã cho Blifin ăn đòn như nói ở trên.


Lúc này, cậu Blifin, nước mắt theo máu mũi chảy ròng ròng, trước mắt ông bác, và ông Thoăckơm ghê gớm. Trước tòa án kể trên, Tôm lập tức bị kiện về tội hành hung, đánh đập và gây thương tích. Để tự biện hộ, Tôm chỉ viện cớ mình bị khiêu khích trước, và quả thật đó là điều mà cậu Blifin đã bỏ sót.


Cũng có thể cậu ta đã quên khuấy, vì khi trả lời, cậu dứt khoát nhấn mạnh rằng không hề gọi Tôm như vậy, cậu lại nói thêm: "Chúa không cho phép con mở miệng nói ra những lời tồi lệ như thế".


Trái với mọi quy tắc về luật pháp, Tôm cứ khăng khăng là Blifin có gọi thế. Cậu Blifin đáp lại:


- Cũng chẳng có gì là lạ. Những đứa đã nói dối một lần ắt quen nói dối mãi. Nếu tao đã láo lếu nói dối thầy giáo một lần như mày thì tao sẽ xấu hổ lắm chẳng dám nhìn mặt ai!


Thoăckơm vội vã hỏi ngay:


- Nói dối gì hở em?


- Trước đây, nó đã nói với thầy rằng lúc nó bắn con gà gô, nó không đi cùng với ai hết, nhưng sự thực (đến đây, cậu khóc òa lên), vâng, sự thực có đấy, vì nó nói thực với con là hôm ấy bác coi rừng Blăch Giooc cũng có mặt ở đấy. Nó còn bảo - đúng thế, mày có nói, tao đố mày chối đấy - mày bảo dù thầy có xẻ mày ra từng mảnh, mày cũng không chịu thú nhận sự thực.


Nghe nói, mắt lão Thoăckơm nảy lửa lên, lão kêu to, vẻ đắc thắng:


- Ồ! Ồ! Cái quan niệm sai lầm về danh dự của mày là thế đấy. Cái thằng này mà lại không đáng quật cho nó một trận đòn nữa à!


Nưng ông Oluơtdi dịu dàng hơn, quay sang hỏi Tôm:


- Có đúng thế không, con? Cớ sao con cứ khăng khăng một mực nói dối như vậy?


Tôm đáp rằng nó không ghét gì bằng ghét nói dối, nhưng mà nghĩ rằng danh dự buộc nó phải xử sự như vậy, vì nó đã hứa sẽ giấu kín cho bác coi rừng đáng thương kia; hơn nữa nó càng phải giữ lời hứa, vì lúc đầu bác coi rừng đã bỏ nó đừng có bước chân sang trang trại của nhà điền chủ nọ, chỉ vì nó đã nài nỉ bác ta mãi, cuối cùng bác mới nghe theo. Nó bảo đó là tất cả sự thật, và nó sẵn sàng thề về việc này. Cuối cùng, nó khẩn thiết van xin ông Oluơtdi hãy thương lấy gia đình con người khốn khổ kia, đặc biệt vì riêng mình có tội: nó đã khó khăn lắm nó mới nài được bác ta cùng đi. Nó nói thêm:


- Thưa cha, quả thực, không thể bảo là con đã nói dối, vì con người đáng thương kia hoàn toàn vô tội trong việc này. Ví phỏng chỉ có mình con, con cũng đuổi theo bầy chim cơ mà, mà đúng là con bước vào trước, rồi bác ta mới đi theo sau, cốt để ngăn con khỏi làm thêm điều dại dột. Xin cha cứ trừng trị con, xin cha cứ lấy lại con ngựa cha đã cho con, nhưng xin cha hãy tha thứ cho bác Gioocgiơ tội nghiệp.


Ông Oluơtdi ngần ngừ một lúc, rồi cho cả hai đứa trẻ ra ngoài, ông khuyên chúng sống với nhau thân thiết và hòa thuận hơn.


 


 


CHƯƠNG V


 


Ý kiến của nhà thần học và nhà triết học về hai đứa trẻ, cùng vài lý do khiến họ có những ý kiến như vậy, và nhiều vấn đề khác.


 


Rất có thể là khi tiết lộ điều bí mật này, cậu Blifin mà Tôm tin cậy lắm mới cho biết, đã giúp Tôm thoát khỏi một trận đòn ra trò, vì chỉ một tội đánh bạn chảy máu mũi cũng đủ cho ông Thoăckơm ra tay trừng phạt, nhưng bây giờ thì vấn đề kia lại thu hút sự chú ý, nên chuyện này hoàn toàn bị bỏ qua. Về chuyện này, ông Oluơtdi nói riêng rằng, theo ý ông, thằng bé đáng thương chứ không đáng phạt, thành thử Thoăckơm đành rụt tay lại mà tha thứ tất cả. Thoăckơm vốn quen mơ tưởng toàn những chuyện roi vọt, lên tiếng phản đối sự khoan dung yếu đuối ấy. Lão còn bảo lão dám gọi đó là một sự khoang dung xấu xa. Lão nói rằng làm ngơ trước những tội lỗi nặng như vậy, tức là khuyến khích nó. Lão bàn rộng về vấn đề trừng phạt con trẻ, lại dẫn ra nhiều câu nói của Xôlômôn( ) cùng nhiều vị khác, những câu có thể tìm thấy ở nhiều sách khác ở đây chúng tôi không dẫn ra. Đoạn lão mới đề cập đến thói xấu dối trá; trong vấn đề này lão cũng tỏ ra uyên bác không kém trong vấn đề kia.


Xque bảo lão đã cố gắng điều hòa hành vi của Tôm với quan niệm của lão về đạo đức hoàn thiện, nhưng không được. Lão công nhận rằng thoạt xem thì trong hành vi này cũng có cái gì tương tự lòng dũng cảm, song vì dũng cảm là một đức tốt, còn dối trá là một thói xấu, hai điều đó không thể nào thống nhất hoặc kết hợp với nhau được. Lão nói thêm, vì đây là vấn đề xáo trộn đức tốt và thói xấu trong một chừng mực nào đó, tưởng ông Thoăckơm cũng nên xét xem có đáng đánh cho một trận đòn đau hơn về tội ấy không.


Cả hai nhà thông thái thống nhất trong việc trừng phạt Jôn thế nào thì cũng đồng tình trong việc ngợi khen cậu Blifin chừng ấy. Ông mục sư đòi hết thảy mọi nhà tu hành đều phải coi việc đem sự thật ra ánh sáng là bổn phận. Nhà triết học thì tuyên bố điều ấy hoàn toàn thích hợp với quy tắc của điều phải và sự thích ứng đời đời bất di bất dịch của vạn vật.


Tuy vậy, mọi lý lẽ này đều không ảnh hưởng mấy đến ông Oluơtdi; họ không thuyết phục nổi ông ký lệnh trừng phạt Jôn. Trong trái tim ông có một cái gì phù hợp với thái độ trung thành không gì lay chuyển được của thằng bé, hơn là với thư tôn giáo của Thoăckơm hoặc thứ đạo đức của Xque. Ông bèn dứt khoát ra lệnh cho Thoăckơm không được đánh đập thằng bé về chuyện đã qua. Nhà sư phạm đành phải tuân theo nhưng rất miễn cưỡng; lão cứ lẩm bẩm mãi như thể thằng bé thế nào cũng hóa hư.


Đối với bác coi rừng, ông Oluơtdi tỏ ra nghiêm khắc hơn. Ông lập tức cho gọi con người đáng thương này đến mắng cho một chập rồi trả tiền công, đuổi ra không cho làm nữa. Ông Oluơtdi nhận xét rất đúng rằng phạm tội dối trá để tự che giấu khác với dối trá để che giấu cho người khác. Ông cũng cho biết rằng sở dĩ ông cương quyết nghiêm khắc với bác ta chủ yếu vì bác ta đã hèn hạ, cứ mặc cho Tôm Jôn bị một trận đòn ghe gớm như thế, trong khi lẽ ra bác phải tự thú để tránh cho nó khỏi bị trừng phạt.


Khi câu chuyện lan ra ai cũng biết, nhiều người không đồng ý với Thoăckơm và Xque về cách đánh giá hành động của hai đứa trẻ trong việc này. Người ta gọi Blifin là thằng ôn con nịnh nọt, thằng bần tiện, cùng nhiều tính từ tương tự, còn Tôm thì được khen là một đứa bé dũng cảm, một thằng nhỏ vui tính, một chú bé thực thà. Dĩ nhiên, thái độ của nó đối với Blăch Giooc đã khiến cho đám gia nhân rất có cảm tình với nó trước kia, ai cũng ghét bác Giooc, nhưng từ khi bác bị đuổi mọi người lại đâm ra thương xót bác. Tình bạn và lòng dũng cảm của Tôm Jôn được toàn thể bọn họ ca tụng nhiệt liệt; họ chê bai cậu Blifin một cách gần như công khai, chỉ không đến mức làm tổn thương đến bà mẹ cậu ta. Tuy nhiên Tôm Jôn chịu đau đớn về thể xác bởi những chuyện này lắm; mặc dầu Thoăckơm không được phép ra tay trừng trị về việc đã qua, song, như tục ngữ có câu: "Kiếm một cái que thì dễ v.v..." cho nên kiếm một cái roi cũng dễ; và quả thật chỉ vì chưa thể kiếm đâu ra được cái roi nên lão Thoăckơm trong một thời gian mới đành chịu không trừng trị thằng bé Tôm tội nghiệp.


Nếu như nhà sư phạm đã đánh đòn chỉ vì cảm thấy thích thú, thì cậu Blifin cũng có thể đã góp phần. Song tuy ông Oluơtdi đã nhiều lần bảo lão không được phân biệt đối xử với hai đứa trẻ, nhưng Thoăckơm đối với Blifin dịu dàng ôn hòa bao nhiêu thì đối với Tôm Jôn, lão tỏ ra gay gắt có thể nói là dã man bấy nhiêu. Nói của đáng tội, Blifin được thầy giáo có cảm tình, phần vì nó luôn luôn tỏ ra lễ độ với lão, nhưng chủ yếu vì nó có thái độ tôn trọng khi tiếp thu giáo lý của thầy. Nó học thuộc lòng những câu thầy nói và nhắc lại luôn luôn, lại tôn trọng những nguyên tắc tín ngưỡng của thầy giáo một cách nhiệt tình khiến ta lấy làm lạ ở một đứa trẻ còn ít tuổi như nó, và điều này khiến cho ông gia sư yêu quý nó lắm lắm.


Tôm Jôn một mặt không những thiếu sót trong thái độ kính trọng bề ngoài đối với lão, nó thường quên không ngả mũ hoặc chỉ cúi đầu chào khi lão đến gần; lại hoàn toàn không chú ý đến những lời dạy dỗ của thầy cũng như việc thầy làm gương. Quả thật, nó là một đứa trẻ vô tâm, thiếu thận trọng, không biết giữ gìn cử chỉ cũng như về mọi mặt; nhiều khi thấy bạn có thái độ nghiêm túc, nó lại cười một cách rất hỗn xược và sỗ sàng.


Ông Xque yêu Blifin hơn cũng vì lý do tương tự, vì Tôm Jôn chẳng để ý đến những bài diễn thuyết thông thái mà thỉnh thoảng vị này giội như nước đổ vào tai nó, cũng như đối với những lời răn dạy của Thoăckơm. Một lần, nó còn dám táo gan chế nhạo cái quy tắc của điều phải; lần khác, nó bảo nó không tin trên đời lại có một thứ quy tắc nào làm nên được một người như cha nó (ông Oluơtdi vẫn cho nó gọi mình là cha).


Trái lại, cậu Blifin mới mười sáu tuổi mà đã đủ khôn khéo để đồng thời làm vui lòng cả hai con người đối lập. Với người này thì cậu tỏ ra rất ngoan đạo, với người kia cậu tỏ ra hết sức có đạo đức, và khi có mặt cả hai vị thì cậu lặng thinh, thành ra cả hai bên đều thích cậu vì cứ cho là cậu đồng tình với mình.


Blifin cũng không chỉ bằng lòng với việc nịnh kéo hai vị này trước mặt họ, cậu còn tìm nhiều dịp ca tụng họ sau lưng với ông Oluơtdi. Những lúc chỉ có hai bác cháu với nhau, mỗi khi ông bác khen cậu về một ý nghĩ ngoan đạo và có đạo đức nào đó (cái này thì cậu có luôn), Blifin không quên gán công lao cho sự giáo dục tốt đẹp mà cậu đã thụ hưởng được của lão Thoăckơm hoặc của lão Xque. Cậu biết thế nào ông bác cũng nhắc lại những lời tán tụng ấy với hai người. Do kinh nghiệm, cậu khám phá ra rằng những lời tán tụng ấy gây ấn tượng rất sâu sắc với nhà thần học cũng như với nhà triết học; tình thực mà nói, cũng không có cách nịnh khéo nào công hiệu bằng cách này, tức là thông qua trung gian.


Hơn nữa, cậu bé nhận thấy những lời ca tụng thầy giáo như thế cũng có ý nghĩa biết ơn nhiều lắm đối với chính ông Oluơtdi, vì nó bao hàm sự tán thưởng cái chương trình giáo dục đặc biệt do ông vạch ra. Ông Oluơtdi nhận thấy các trường công của chúng ta có nhiều thiếu sót; ở đó, trẻ con có thể nhiễm phải khá nhiều thói xấu, nên ông đã quyết định giáo dục cháu mình và cả đứa trẻ được ông nhận làm con nuôi ngay tại nhà; ông cho rằng như vậy sẽ tránh cho tâm hồn chúng bị nhiễm hại, điều này sẽ không có cách nào tránh khỏi nếu như chúng theo học các trường công, bậc trung học hoặc đại học.


Ông bèn quyết định đặt hai đứa trẻ dưới sự dìu dắt của một gia sư. Một người bạn thân được ông Oluơtdi đánh giá rất cao về sự hiểu biết và được ông hết sức tin tưởng vào tinh thần vô tư đã giới thiệu Thoăckơm đảm nhiệm công việc này. Cái lão Thoăckơm này là giáo sư một trường trung học, nơi lão hầu như ngự trị hoàn toàn, nổi danh là học rộng, mộ đạo, và có tác phong chín chắn. Tất nhiên, vì những ưu điểm ấy mà bạn ông Oluơtdi quyết định giới thiệu lão, tuy rằng ông bạn này ít nhiều cũng có chịu ơn gia đình Thoăckơm; một gia đình có vai vế trong một thị trấn thuộc phạm vi vị thượng lưu này làm đại biểu Quốc hội.


Lúc Thoăckơm mới đến, ông Oluơtdi thấy lão hết sức dễ chịu, mà quả thật, lão tỏ ra hoàn toàn đúng với hình ảnh về lão đã được giới thiệu. Song, qua một thời gian lâu giao tiếp và chuyện trò thân mật với lão, ông Oluơtdi nhận ra nhiều thiếu sót của vị gia sư, mà ông muốn giá lão đừng mắc phải thì hay hơn. Những thiếu sót này có thể như được những đức tốt của lão át đi, cho nên ông Oluơtdi không vì thế mà thôi không dùng lão; mà quả thật cũng không cần thiết phải dùng đến biện pháp này. Bạn đọc sẽ lầm to, nếu như quan niệm rằng trong truyện này, trước mặt ông Oluơtdi, Thoăckơm cũng hiện ra với những nét tương tự như trước mắt bạn, và bạn cũng sẽ thất vọng như vậy, nếu nghĩ rằng, do được giao tiếp hết sức thân mật với nhà thần học nên ông Oluơtdi có thể hiểu rõ những điều mà chúng tôi, do cảm hứng, có thể khám phá và trông thấy rõ. Những bạn đọc nào, vì những ý nghĩ vừa rồi mà lên án sự khôn ngoan sáng suốt của ông Oluơtdi, thì chúng tôi không nề hà gì mà không nói rằng họ đã không biết sử dụng cái khiếu hiểu biết mà tôi đã truyền đạt cho họ.


Những sai lầm rõ ràng trong lý thuyết của Thoăckơm có tác dụng giảm bớt những sai lầm ngược lại của Xque, mà ông Oluơtdi cũng nhận thấy và chê trách. Thật vậy, ông nghĩ rằng những cái dư thừa của hai vị này sẽ sửa chữa cho nhau những thiếu sót của họ; và nhờ cả hai người, đặc biệt là với sự giúp đỡ của ông, hai đứa trẻ sẽ thu nhận được những lời giáo huấn tương đối đầy đủ về tôn giáo và đạo đức chân chính. Nếu như sự việc xảy ra trái với điều ông mong đợi thì có thể là do bản thân kế hoạch có thiếu sót nào đó, tôi xin để bạn đọc khám phá, nếu có thể, vì chúng tôi không có tham vọng trình bày những nhân vật thập toàn trong truyện này; và chúng tôi hy vọng các bạn sẽ không tìm thấy ở đây những gì, chưa từng thấy trong bản tính con người.


Trở lại câu chuyện, tôi nghĩ rằng bạn đọc sẽ không ngạc nhiên vì hành vi khác nhau của hai đứa trẻ vừa tả ở trên đã gây ra những kết quả khác nhau, mà ta đã từng thấy một vài thí dụ; ngoài điều ấy ra, còn có một lý do khác giải thích thái độ của nhà triết học và nhà sư phạm; song đó là một vấn đề rất quan trọng, chúng tôi sẽ trình bày trong chương sau.


 


 


CHƯƠNG VI


Gồm một lý do xác đáng hơn giải thích những ý kiến đã trình bày ở trên.


Cần biết rằng hai nhân vật thông thái vừa mới nổi bật trên sân khấu cuốn truyện này, ngay từ khi mới đến nhà ông Oluơtdi, đã rất có cảm tình với ông; một vị thì rất ưa ông về mặt tôn giáo, còn vị kia thì ưa về mặt đạo đức, cho nên họ đã trù tính hợp tác chặt chẽ với ông.


Nhằm mục đích này, cả hai người cùng để mắt tới người đàn bà góa lịch sự, mà chúng tôi tin rằng bạn đọc vẫn không quên, mặc dù đã một thời gian bà ta không được chúng tôi nhắc đến. Quả thật, bà Blifin là một đối tượng cả hai người cùng khao khát.


Kể cũng đáng chú ý, trong số bốn người được chúng tôi nhắc tới trong nhà ông Oluơtdi thì ba người đã để cho tâm hồn rung động vì một người đàn bà cũng chưa hề bao giờ nổi tiếng lắm về sắc đẹp, và hơn nữa, đang phần nào tụt sâu xuống cái thung lũng tuổi tác. Song, trong thực tế thì những người bạn chí thiết, những người thân thuộc gần gũi thường có một thứ cảm tình tự nhiên với một số phụ nữ trong gia đình bạn mình, như với bà nội bạn, mẹ bạn, cô em gái, cô con gái bạn, người cô của bạn, cháu gái hoặc em họ bạn, nếu họ giàu; và có cảm tình với vợ bạn, em gái bạn, con gái bạn, cháu gái, em họ, nhân tình hoặc đầy tớ gái của bạn, nếu những người này xinh đẹp. Tuy nhiên, chúng tôi không hề muốn bạn đọc nghĩ rằng những người có tính tình được Thoăckơm và Xque ủng hộ lại sa vào một trường hợp như vậy, một trường hợp đã bị một số nhà luân lý cứng nhắc phần nào phê phán trước khi họ xét vấn đề cho thấu đáo, hoặc trước khi xem có phải đó là thứ "cặn bã của lương tâm" (theo cách nói của Sêcxpia) hay không. Thoăckơm mạnh dạn trong việc này vì lão nghĩ không đâu cấm đoán việc tán tỉnh em gái người láng giềng, lão lại biết rằng "Expressum facit cessare tacitum"( ) là một quy tắc trong việc xây dựng mọi luật pháp. Câu này nghĩa muốn nói là: "Khi nhà làm luật đã viết rõ rành rành điều muốn nói, thì ta không còn khiến được họ nói những điều hợp sở thích của ta". Vì có một số thí dụ về đàn bà được dẫn ra trong Pháp luật thiêng liêng mà Pháp luật này chỉ cấm ta không được nhòm ngó tài sản của láng giềng, nhưng lại quên không cấm nhòm ngó tài sản của em gái láng giềng, lão bèn kết luận làm việc đó là hợp pháp. Còn Xque, vốn là người thông thường được gọi là một tay ba lơn, hoặc người đàn ông của gái góa, lão dễ dàng khớp việc lựa chọn của mình với sự thích ứng đời đời của vạn vật.       


Ấy thế là cả hai vị cũng ra sức tìm mọi cơ hội tranh thủ cảm tình của người đàn bà góa. Họ tìm ra một phương pháp chắc chắn tức là bao giờ cũng cưng con trai bà hơn Tôm Jôn. Họ nghĩ rằng thái độ dịu dàng và mối thiện cảm của ông Oluơtdi đối với Tôm nhất định làm cho bà khó chịu, nên họ tin chắc hễ cứ tóm mọi cơ hội để dìm, để bôi xấu thằng bé, ắt phải được bà hết sức vui lòng, bởi lẽ đã ghét bỏ thằng bé, hẳn bà phải yêu tất cả những người làm hại nó. Trong việc này, Thoăckơm có ưu thế, vì trong khi Xque chỉ làm xây xát được chút ít tiếng tăm của nó thì Thoăckơm có thể làm cho da thịt nó đau đớn; quả thật, lão coi mỗi ngọn roi quất xuống người nó là một lời tán tụng ý trung nhân của lão. Thành thử lão có thể nhắc lại câu ngạn ngữ về phép đánh đòn sau đây một cách hết sức thích hợp: "Castigo te non quod odio habeam sed quod AMEN"( ). Quả thật, câu nói ấy cũng luôn luôn ở cửa miệng lão, hoặc nói như một câu ngạn ngữ cổ áp dụng trong trường hợp này vô cùng thích hợp, luôn luôn trên đầu ngón tay lão.


Đó là lý do chủ yếu khiến ý kiến của hại vị về đứa trẻ thống nhất với nhau như ta thấy ở trên. Đó cũng là một thí dụ duy nhất về sự thống nhất ý kiến giữa hai vị về một vấn đề; vì không kể sự khác biệt về nguyên tắc tư tưởng, từ lâu, cả hai đều đã ngờ vực âm mưu của nhau và họ ghét nhau những muốn đào đất đổ đi.


Càng thấy những sự tiến bộ của nhau, họ càng ghét nhau; bởi vì bà Blifin biết họ nhằm mục đích gì từ lâu, trước khi họ nghĩ rằng bà biết, hoặc thực ra là định tâm cho bà biết: vì họ tiến hành rất thận trọng, sợ bà phật ý lại mách với ông Oluơtdi. Nhưng họ không việc gì phải lo sợ... Bà Blifin khá thích với một cuộc yêu đương mà chỉ riêng bà có lợi. Mà cái lợi cho bà là sự bỡ ngỡ, tán tỉnh, nhằm mục đích này, bà lần lượt mơn trớn họ ngang nhau trong một thời gian dài. Tình thực, bà cũng có phần ngả về những nguyên tắc đạo đức của lão mục sư, song vẻ người Xque nom lại dễ ưa hơn, vì tay này đẹp trai; còn dáng dấp nhà sư phạm na ná giống như cái ông chuyên trừng phạt đám đàn bà con gái trong nhà tù Braiđơoen, đăng trên báo Tiến bộ của Haclôt.


Không rõ vì bà Blifin đã ngấy đến cổ những sự ngọt ngào của hôn nhân, hay bà ghê tởm những nỗi cay đắng của nó, hoặc vì một lý do nào khác, tôi không dám cả quyết, chỉ biết bà không sao chịu để tai nghe một lời cầu hôn thứ hai. Tuy nhiên, cuối cùng bà cũng trò chuyện thân mật với Xque, đến mức khiến cho những kẻ xấu miệng bắt đầu xì xào bàn tán về bà. Vì tôn trọng bà, cũng như vì những điều cửa miệng ấy có phương hại nhiều đến quy tắc của điều phải và sự thích ứng đời đời của vạn vật, nên chúng tôi không tin và cũng không muốn làm bẩn giấy mực ở đây. Rõ ràng là nhà sư phạm đã ra sức quất roi mà không nhích được bước nào đến đích của cuộc hành trình.


Thực vậy, lão đã phạm một sai lầm lớn, điều mà Xque đã nhận ra trước khá lâu. Trước kia, bà Blifin cũng không thú vị lắm với cách ăn ở của ông chồng (có lẽ bạn đọc cũng đã đoán biết điều này); thực thà mà nói, bà thù ghét chồng, cho đến lúc hắn chết; cuối cùng bà mới thấy thương hắn chút ít. Vậy cũng không có gì đáng ngạc nhiên lắm, nếu như bà không yêu mến lắm đứa con của bà. Và, trong thực tế bà rất ít quan tâm đến con hồi nó còn bé, chỉ thỉnh thoảng mới nhìn ngó hỏi han đến nó; do đó, chỉ sau một đôi chút ngần ngại, bà đã tán thành mọi ân huệ ông Oluơtdi ban cho thằng bé Tôm một cách rộng rãi cũng như ông gọi nó là con trai, và về mọi mặt ông đối xử với nó ngang hàng với cậu Blifin. Láng giềng và mọi người trong nhà đều coi thái độ trên của bà Blifin là một biểu hiện bà chiều theo ý ông anh; mọi người khác cũng như Thoăckơm và Xque đều nghĩ, trong thâm tâm bà thù ghét thằng vé con hoang. Bà càng vồ vập nó bao nhiêu họ càng cho là bà ghét bỏ nó bấy nhiêu và càng yên trí bà đang bày mưu đặt kế để hại nó: vì họ cho rằng vì quyền lợi riêng bà phải thù ghét nó, do đó bà rất khó lòng làm cho họ tin điều ngược lại.


Thoăckơm lại càng yên trí như vậy, vì nhiều lần bà ta đã khéo lẽo xúi lão đánh đòn Tôm Jôn những khi ông Oluơtdi vắng nhà; ông vốn rất thù ghét cách trừng phạt này; còn chưa hề bao giờ bà ra những mệnh lệnh tương tự về cậu bé Blifin. Điều này cũng khiến cho Xque phải tin. Trong thực tế, dù quả thật bà có thù ghét chính con trai bà - điều này tưởng như quái gở, song dám chắc bà không phải là một thí dụ đặc biệt - trong thâm tâm bà vẫn khá bực mình vì những ân huệ ông Oluơtdi ban cho thằng bé vô thừa nhận, tuy bề ngoài bà tỏ vẻ tán thành. Bà thường phàn nàn về chuyện này sau lưng người anh trai, và bà phê phán kịch liệt ông Oluơtdi trước mặt Thoăckơm và Xque; đôi khi bà cũng nói thẳng điều đó với ông anh, mỗi khi giữa hai người có chuyện xích mích lặt vặt, hoặc như người ta thường gọi, có chuyện lủng củng xảy ra.


Tuy nhiên, khi Tôm đã lớn và có những dấu hiệu của một con người tính tình phong nhã, vốn khiến cho đàn ông rất được giới phụ nữ mến, thì thái độ ghét bỏ của bà Blifin đối với nó khi còn bé cũng giảm dần dần; cuối cùng, ai cũng thấy rõ bò tỏ ra thương yêu nó còn hơn cả đứa con ruột thịt, thành thử chẳng ai còn hiểu lầm được thái độ của bà nữa. Bà cứ muốn gặp mặt Tôm luôn mà những khi ấy, bà cảm thấy rất thích thú, hài lòng, đến nỗi Tôm chưa tròn mười tám tuổi mà đã trở thành một tay kình địch của cả Xque lẫn Thoăckơm; tệ hơn nữa là khắp vùng, người ta bắt đầu đồn đại ầm lên về cảm tình của bà với Tôm, như trước kia họ to tiếng đồn đại về cảm tình của bà với Xque. Vì chuyện này, nhà triết học đâm ra ghét cay ghét đắng nhân vật chính đáng thương của chúng ta.


(còn tiếp)


Nguồn: TOM JONES Đứa trẻ vô thừa nhận. Tiểu thuyết của HENRY FIELDING, 2 tập, 1000 trang. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING của HENRY FIELDING. Nhà xuất bản MAC DONALD, Luân Đôn, 1935. Tái bản theo bản in năm 1983 của NXB Văn học.


www.trieuxuan.info



 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »