tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20012004
07.05.2012
Tư liệu sưu tầm
Trở về với thiên nhiên: cây chò chỉ

PARASHOREA CHINENSIS H. WANG. Họ: Dầu Dipterocarpaceae. Bộ: Chè Theales


Mô tả:


Cây gỗ to, có thân hình trụ thẳng, cao 45 - 50 m, đường kính 0,8 - 0,9 m, chiều cao dưới cành đến hơn 30 m. Tán thưa, gốc có bạnh vè nhỏ. Võ màu xám, nứt dọc nhẹ. Thịt vỏ vàng và hơi hồng, có nhựa và có mùi thơm nhẹ. Cành lớn thường bị vặn. Lá hình mác hay bầu dục, có lá kèm sớm rụng; gân bậc hai 15 - 20 đôi, song song, nổi rõ ở mặt dưới. Mặt dưới lá và trên các gân có lông hình sao. Cụm hoa lông ở đầu cành hay nách lá. Hoa nhỏ có mùi thơm đặc biệt. Quả hình trứng, có mũi nhọn do gốc vòi nhụy tồn tại, mang 2 cánh to, 3 cánh nhỏ. Hạt 3 - 4.


Sinh học:


Mùa hoa tháng 5 - 6, mùa quả chín tháng 7 - 9. Thường 2 - 3 năm mới có 1 lần sai quả. Hạt rơi xuống nảy mầm ngay.


Nơi sống và sinh thái:


Mọc rải rác trong rừng rầm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, cùng với các loài Gội (Aglaia gigantea), Sấu (Dracontonelum duperreanum), Sâng (Amesiodendron chinense)... ít khi mọc thành đám nhỏ thuần loại. Tái sinh tốt ở ven suối hay ở nơi có độ tàn che nhỏ. Cây non bị chết dưới tán rừng quá rậm.


Phân bố:


Việt Nam: Loài thực vật thuộc họ Dầu Dipterocarpaceae có ở hầu hết các tỉnh Bắc Việt Nam , từ Quảng Bình trở ra. Gặp nhiều ở Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá), Vĩnh Phú (Thanh Sơn), Thanh Hoá (Quan Hóa), Nghệ An (Quỳ Châu), Hà Tĩnh (Hương Khê, Hương Sơn).


Thế giới: Trung Quốc.


Giá trị:


Gỗ chò chỉ vàng nhạt hay hơi hồng, rất bền, chịu nước, chịu chôn vùi, dùng làm cột nhà để xây dựng và đóng đồ đạc. Dáng đẹp có thể làm cây đường phố.


Tình trạng:


Do gỗ chò chỉ tốt nên chò chỉ đang bị săn lùng ráo riết để khai thác. Mức độ đe doạ: Bậc K.


Đề nghị biện pháp bảo vệ:


Khoanh khu bảo vệ ở Xân Sơn (Vĩnh Phú), Chiêm Hóa (Tuyên Quang) và sớm đưa vào vùng trồng trọt ở vùng phân phố tự nhiên. Thăm dò khả năng trồng làm cây dọc đường phố.


Nguồn: Sách đỏ Việt Nam - trang 209.


 


MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA CÂY CHÒ CHỈ (PARASHOREA CHINENSIS H. WANG) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THƯỢNG TIẾN – KIM BÔI - HOÀ BÌNH


Đoàn Đình Tam


Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam


Chò chỉ (Parashorea chinensis H. Wang) là cây gỗ lớn có giá trị kinh tế và giá trị đa dạng sinh học cao, có tên trong sách đỏ của Việt Nam và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và cần được bảo tồn. Chò chỉ có biên độ sinh thái hẹp, thích hợp với cả loại đất feralit vàng nâu hoặc vàng đỏ và có thể sống thành quần thụ rừng và trong hệ sinh thái đó, chúng có thể có những vai trò khác nhau trên những lập địa khác nhau. Hiện nay, Chò chỉ đang bị khai thác quá mức và còn lại rất ít trong rừng tự  nhiên và thường sống chung với các loài cây gỗ khác như  Sấu, Re, Kháo, Trâm,... chò chỉ rất nhạy cảm với đất chịu ảnh hưởng của Cácbonnát canxi và trong tự nhiên chưa thấy Chò chỉ tồn tại ở nơi đất trống, đồi núi trọc, đất bạc màu thoái hoá.


Từ khoá: Cây Chò chỉ, đặc điểm sinh thái


     Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Thượng Tiến, nằm trên xã Thượng Tiến–Kim Bôi–Hoà Bình, có toạ độ địa lý 19042-19048 độ vĩ Bắc đến 105048–105056 độ kinh Đông, với diện tích khoảng 5.305,66ha. Địa hình phức tạp, chủ yếu là đối núi cao và thung lũng với dáng địa hình kiểu lòng máng cao ở ba bên. Khí hậu phân làm hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Nhiệt độ bình quân năm là 22,80C, lượng mưa bình quân năm từ 2000–2300mm, tập chung chủ yếu vào tháng 7 đến tháng 10.


     Khu BTTN Thượng Tiến có thảm thực vật theo kiểu mưa mùa nhiệt đới thường xanh và cấu trúc tổ thành các loài thực vật tương đối phong phú, trong đó có nhiều loài cây gỗ quí hiếm có giá trị cao về kinh tế và bảo tồn.


     Loài Chò chỉ ở khu BTTN Thượng Tiến là cây gỗ lớn có tên trong sách đỏ Việt Nam. Do không được bảo vệ và khai thác quá mức trước đây nên hiện nay Chò chỉ còn lại ở đây rất ít. Chính vì vậy việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của Chò chỉ là cần thiết, góp phần vào việc bảo tồn và phát triển loài cây này trong tương lai.


Mục tiêu nghiên cứu


- Đưa ra cơ sở góp phần bảo tồn loài cây Chò chỉ.


- Xác định được một số đặc điểm Sinh thái của cây Chò chỉ tại Khu BTTT Thượng Tiến–Kim Bôi-Hoà Bình.


Nội dung nghiên cứu


- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của cây Chò chỉ.


- Nghiên cứu một số đặc điểm lâm phần có Chò chỉ phân bố.


Phương pháp nghiên cứu


- Phương pháp điều tra, khảo sát nhanh để phát hiện vùng phân bố.


- Phương pháp ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời (2500m2) để thu thập các số liệu về đất đai, cấu trúc rừng, tái sinh tự nhiên,…


- Phương pháp xử lý số liệu:



  • Xác định tổ thành loài cây cao và cây tái sinh thông qua tổ thành loài cây theo số cây (N).

  • Xác định số cây trung bình của một loài theo công thức:                 


                 åni


        X =


                 N


Trong đó:  X -  Số cây trung bình của một loài


                     ni -  Số cây của loài thứ i


                     N -  Số loài cây


 


 


·         Xác định hệ số tổ thành theo loài i (theo phần10)


                    ni


     ai =                     x 10


                   åni


·         Tổ thành theo tiết diện ngang (G), theo trữ lượng (V) cũng được thực hiện theo công thức trên.


·         V được tính theo công thức V = G.H.F (của một cây)


    Trong đó: G - Tiết diện ngang


                    H - Chiều cao


                    F – Hình số (bằng 0,45)


 


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


Một số đặc điểm sinh thái


Đặc diểm phân bố


       Họ Dầu (Dipterocarpaceae), là một họ thực vật điển hình của rừng nhiệt đới Đông Nam Á, có phân bố rộng rãi trải suốt khu vực từ Ấn Độ đến Philippin, gồm 13 chi và 470 loài. Trung tâm phân bố của các loài cây họ Dầu có cả ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Mianma và Trung Quốc (Thái Văn Trừng, 1983). Hệ sinh thái của các loài cây họ Dầu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng chịu tác động rất mãnh liệt bởi các nhân tố phát sinh.


      Hệ sinh thái rừng cây họ Dầu ở các tỉnh phía Nam (Đaklak, Giai Lai, Đồng Nai, Tây Ninh,…) còn gọi là hệ sinh thái rừng Khộp, mà tổ thành chủ yếu là các loài cây họ Dầu như: Dầu nước (Dipterocarpus alatus), Sao đen (Hopea odorata), Vên vên (Anisoptera cochinchinensis), Dầu trà beng và Dầu song nàng.


      Hệ sinh thái rừng cây họ Dầu ở khu vực phía Bắc chủ yếu là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới mà tổ thành là các loài cây lá rộng họ 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Dẻ (Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đậu (Fabaceae). Các loài cây dọ Dầu như cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), Táu mật (Vatica tonkinensis), Táu muối, Chò nâu chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên lá rộng thường xanh.


     Ở phía Bắc Chò chỉ phân bố ở các tỉnh Sơn La (Phù Yên, Bắc Yên), Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá), Phú Thọ (Thanh Sơn) và Hòa Bình. Tại miền Trung có các tỉnh Nghệ An (Quỳ Châu), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê). Ở các tỉnh phía Nam hầu như không thấy xuất hiện. Chò chỉ thường mọc tự nhiên ở những nơi ven sông, suối, chân hoặc sườn núi dốc, độ cao £700m so với mực nước biển.


      - Tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái cây Chò chỉ được thể hiện dưới các hình thức sau:


-          Da dạng loài


-          Đa dạng các dạng sống


-          Đa dạng về kích thước


-          Đa dạng về vai trò của HST mà chúng thể hiện trong môi trường sống


    Tại khu BTTN Thượng Tiến, Chò chỉ phân bố chủ yếu trên đất Feralit đỏ nâu hoặc vàng đỏ phát triển trên đá vôi với độ sâu tầng đất tương đối dày, tơi xốp, có thành phần chủ yếu là sét pha thịt, hàm lượng mùn tương đối khá, đất có phản ứng hơi chua và độ bão hoà Bazơ thấp (pH=4-5), hàm lượng các chất dinh dưỡng P2O5 và K2O dễ tiêu nghèo.


Một số đặc điểm lâm phần có Chò chỉ phân bố


Tổ thành loài cây gỗ


·     Kết quả điều tra tại 8 ô tiêu chuẩn có diện tích 2500m2 cho thấy, có 864 cá thể của 49 loài.


·     Mỗi loài có trung bình Ntb=864/49=17,6 cây.


·     Trong công thức tổ thành có 19 loài cây thì có tới 727 cá thể chiếm 84% tổng số cây trong ô tiêu chuẩn. Trong đó, Chò chỉ có 23 cá thể chiếm 2,6% tổng số cây trong lâm phần và đứng ở vị trí thứ 14.


Tổ thành theo tiết diện ngang


·     Số loài tham gia vào trong công thức tổ thành theo G nhiều hơn số loài tham gia vào công thức tổ thành theo loài cây (N) là 4 loài.


·     Trong công thức này có 23 loài chiếm 71,1% tổng G của lâm phần. Trong công thức này thì Chò chỉ có 23 cá thể chiếm 2,5% tổng số cá thể và đứng ở vị trí thứ 9 và đạt 3,2 tổng G.


  Như vậy mức độ ưu thế của Chò chỉ về G chỉ ở mức độ trung bình.


Cấu trúc tổ thành theo trữ lượng


·     Trong công thức tổ thành theo trữ lượng (V), loài có hệ số lớn nhất là Sấu (bằng 1,5), loài có hệ số nhỏ nhất là Sương cá (bằng 0,1), mức độ chênh lệch nhau là 14 lần. Mức độ chênh lệch trong công thức tổ thành theo trữ lượng lớn hơn mức độ chênh lệch trong công thức tổ thành theo loài cây là 6 lần.


·     Tại lâm phần điều tra thì Chò chỉ có 23 cá thể chiếm 2,6% số cá thể và đạt 3,2 tổng G và 4,0 tổng V, đạt 12,5m3/ha. Như vậy là không cao.


Tổ thành theo diện tích tán


   Trong công thức này thì Chò chỉ đứng ở vị trí thứ 8 với diện tích tán là 1.076m2, chiếm 4,5% diện tích ô tiêu chuẩn, trong đó Sấu là loài đứng đầu với 66 cá thể (gấp 3 lần Chò chỉ) và diện tích tán đạt 3.187m2 gấp 2,9 lần so với Chò chỉ.


    Như vậy, mức độ và khả năng chi phối, ảnh hưởng của Sấu đến sinh trưởng và phát triển của Chò chỉ là rất lớn.


Cấu trúc mật độ


Cấu trúc mật độ tại lâm phần điều tra được thể hiện tại bảng 1.


 


Bảng 1. Mật độ cây gỗ


 

























Đối tượng



N/ôtc



N/ha



Tỷ lệ %



Chò chỉ



23



12



2,6



Tổng số cây



816



363



100




 


   Mật độ các loài cây có trong lâm phần điều tra là 363cây/ha và của Chò chỉ là 12cây/ha.


   Như vậy, mật độ phân bố của các loài nói chung và của Chò chỉ nói riêng nhìn chung chưa cao.


 


Một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của Chò chỉ


Tổ thành cây tái sinh


    Trong các loài cây tái sinh thì Chò chỉ đứng ở vị trí cuối cùng với số lượng cá thể là 16 và có hệ số xấp xỉ bằng 0,3% (bảng 2)


 


Bảng 2. Tổ thành cây tái sinh


 






























































































TT



Loài cây



Ký hiệu



Số lượng



Tỷ lệ



Hệ số



1



Trâm



Tr



136



21,6



2,2



2



Giẻ



G



114



18,1



1,8



3



Sấu



S



59



9,4



0,9



4



Kháo



Kh



38



6,0



0,6



5



Gội



Go



27



4,3



0,4



6



Thị rừng



Thr



23



3,6



0,4



7



Ngát



Ng



20



3,2



0,3



8



Trường



Trươ



19



3,0



0,3



9



Sâng





18



2,9



0,3



10



Chò chỉ



Cc



16



2,5



0,3



 


   Như vậy, hệ số chênh lệch giữa loài nhỏ nhất là Chò chỉ và loài lớn nhất là Trâm tới 7,3 lần.


Mật độ và chất lượng cây tái sinh


Thể hiện tại bảng 3


Bảng 3. Mật độ và chất lượng cây tái sinh


 


































Đối tượng



Số cây/ô



Số cây/ha



Tỷ lệ



Tái sinh/ô



T.vọng/ô



Tái sinh/ha



T.vọng/ha



Chò chỉ



16



5



156



48



2,5



Tổng số cây TS



630



126



6.153



1.231



100



 


    Như vậy, mật độ tái sinh tại lâm phần điều tra là 6.153cây/ha. Trong đó, Chò chỉ tái sinh là 156 cây chiếm 2,5%.


   Trong 16 cây tái sinh trong ô điều tra thì số cây tái sinh có triển vọng là 5cây/ô (chiếm 31,3%).


Phân bố của cây Chò chỉ tái sinh tự nhiên


    Trong 200 ô dạng bản tại 8 ô tiêu chuẩn 2500m2, xuất hiện 16 cá thể Chò chỉ tái sinh. Như vậy bình quân x = 0,0625 cá thể/ô dạng bản.


   Sử dụng phân bố Posson cho kết quả w = 2,0965.


   Như vậy, Chò chỉ tái sinh tự nhiên tại khu BTTN Thượng Tiến–Hoà Bình phân bố theo cụm, đám vì trong 8 ô tiêu chuẩn 2500m2 nhưng Chò chỉ tái sinh chỉ xuất hiện tại 6 ô là ô1 (3 cây), ô 2 (2 cây), ô 4 (6 cây), ô 5 (2 cây), ô 7 (1 cây) và ô 8 (2 cây).


KẾT LUẬN


   - Tại Khu BTTN Thượng Tiến, Chò chỉ phân bố trên đất Feralit đỏ và đỏ nâu phát triển trên đá vôi, tầng đất dày, hơi chua, độ bão hoà Bazơ thấp, các chất dễ tiêu thuộc loại nghèo.


- Phân bố của Chò chỉ không đều mà theo cụm hoặc đám, chủ yếu ở các vùng ẩm ướt trên các sườn và đỉnh đồi đất hoặc các thung đá lẫn đất.


- Tại khu BTTN Thượng Tiến thì Chò chỉ thường mọc cùng các loài các gỗ khác như Trâm, Giẻ, Sấu Kháo,…tạo nên kiểu rừng có nhiều tầng thứ. Trong đó, Chò chỉ không phải là loài cây ưu thế tại đây. Mức độ ưu thế về G, V, diện tích tán và mật độ chỉ ở mức trung bình.


- Chò chỉ là loài cây có mức độ tái sinh tự nhiên thấp, tái sinh có dạng phân bố cụm, đám, số cây tái sinh thấp và chất lượng cây tái sinh là trung bình.


 


TÀI LIỆU THAM KHẢO


Cây gỗ rừng miền Bắc Việt Nam. 1981. NXB Nông nghiệp – HN.


Lê Mộng Chân. 1976. Cây rừng Việt Nam.


Nguyễn Hoàng Nghĩa. 1999. Bảo tồn Đa dạng sinh học. NXB Nông nghiệp, HN.


Sổ tay điều tra qui hoạch rừng – Viện Điều tra qui hoạch.


Trần Ngũ Phương. 1970. Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam. NXB Khoa học Kỹ thuật, HN.


Thái Văn Trừng. 1978. Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm Hệ sinh thái. NXB Khoa học KT, HN. (Tập I, II, III, IV, V.)


Thái Văn Trừng. 1983. Hệ Sinh thái cây họ Dầu. NXB Khoa học Kỹ thuật.


Những cây chò bên Lăng Bác


Nhìn cây ta mới hiểu được lòng người xưa vì sao đã trồng chò trên đất Tổ, để người nay noi theo mang cây về trồng nơi Quảng trường Lăng Bác.


Cây và hoa từ mọi miền đất nước tụ về bên Lăng Bác


Mỗi lần đến Quảng trường Ba Đình, đi dọc theo đại lộ Hùng Vương, qua Lăng Bác, mấy ai không chú ý tới những cây chò trồng hai bên đường. Những cây chò được mang từ đất Tổ Hùng Vương về trồng nơi đây.


Cây chò có gì đặc biệt? Ta tự hỏi và thử đi tìm tính cách sinh trưởng của loài cây. Và ta sửng sốt khi biết một loài cây sừng sững, sống vượt mọi thời gian và chiếm lĩnh không gian bằng tầm cao. Nhìn cây ta mới hiểu được lòng người xưa vì sao đã trồng chò trên đất Tổ, để người nay noi theo mang cây về trồng nơi Quảng trường Lăng Bác. Phải chăng loài cây mang ý chí bất khuất của dân tộc đã trải bốn nghìn năm?


Ai đã đến Rừng Cúc Phương, một khu rừng nguyên sinh, kho báu của Quốc gia còn là một kho báu về thực vật của địa cầu. Rừng Cúc Phương có rất nhiều chủng loại thực vật cũng như về muông thú quý hiếm. Nhưng đặc biệt loài cây chò ở đây khiến bất cứ du khách nào cũng phải sửng sốt, ngạc nhiên về cây chò nghìn tuổi. Ta bái phục sức sống quật cường, bất diệt của loài cây.


 


Cây chò cao nhất của rừng Cúc Phương là 60 m, cây cao thứ nhì là 52m. Những cây chò này tính ước chừng khoảng trên một nghìn năm. Theo bề dày của lịch sử ta, có thể thấy cây chò được mọc lên từ khoảng cuối Thế kỷ IX S.Cn. Hay nói một cách nôm na dễ nhớ hơn là: Những cây chò ấy được mọc lên cùng thời với Vua Đinh Tiên Hoàng phất ngọn cờ bông lau tập trận. Trải qua bao nhiêu triều đại, bao nhiêu thế hệ con người, đất nước khi còn, khi mất, bao nhiêu nạn giặc giã từ mọi phương kéo đến xâm chiếm. Rồi kẻ thì đầu hàng, kẻ bỏ xác, phơi thây khắp dải non sông, đất nước này, cây chò vẫn đứng sừng sững, ngạo nghễ với trời xanh, rễ bám sâu trong đất, giữ thế đứng thẳng, chứng kiến những sự kiện, những dâu bể biến đổi cùng lịch sử.


Đường kính cây chò là 6m, chưa kể những bạnh cây dầy hàng mét có hình tam giác như những cánh buồm thể thao, tạo thành bệ đứng vững chãi cho cây. Người ta ước tính: nếu cưa một cái “thớt” dày 1m, cái thớt ấy được khoảng 27 m3 gỗ. Những ô tô vận tải cỡ trung bình, trọng tải 7 khối, phải bốn xe mới chở hết cái “thớt” ấy. Còn tính toàn bộ khối lượng của cây chò, ước gần 1.000 m3 gỗ. Nếu ô tô chở 5 khối, phải có một đoàn xe 200 chiếc xe. Ta có thể hình dung ra một đoàn xe chở gỗ, xe nọ cách xe kia 10 m, đoàn xe sẽ dài hơn hai cây số. Nếu xe qua Cầu Long Biên hay Cầu Chương Dương, chiếc xe đầu tiên đã sang sông, chiếc xe cuối cùng còn đang lên dốc cầu bên này sông vẫn chưa hết. Ước tính tàm tạm như vậy, đủ cho ta thấy cây chò vĩ đại biết chừng nào.


Người Hà Nội, khi còn là trẻ thơ ai chẳng thường đến Công viên Bách thảo. Nhưng có lẽ ít ai để ý đến những loài cây ngoài những nhà thực vật học và những nhân viên của công ty công viên. Để giúp bạn, nhất là các em nhỏ tuổi chưa có dịp đến Rừng Cúc Phương hoặc chưa đến đền Hùng, người viết bài này xin mách nhỏ: Hãy đến Bách Thảo xem thử 6 cây chò ở đây: 2 cây ở ngay cổng vào công viên thứ  nhất (đi từ Quán Thánh lên), 3 cây ở ngay đầu hồ trong công viên. Cây thứ sáu bạn sẽ tìm thấy ở gần Núi Nùng. Cây chò này nhỏ nhất. Những cây chò ở đây, khoảng trên dưới một trăm tuổi. Những cây to đã hai người ôm, cao khoảng vài chục mét. Không cần nhìn lá, nhìn ngọn, ta cũng có thể dễ dàng nhận ra ngay. Từ đường nhựa nhìn vào ta có thể nhìn thấy những gốc chò trắng nhẵn nhụi không hề có một sợi giây leo nào hoặc rong rêu những cây ký sinh bám vào sống gửi, ăn nhờ như những loài cây khác. Tất cả mọi gốc chò, dù ở rừng Cúc Phương, Đền Hùng hay ở Bách Thảo, nhìn từ gốc lên ngọn, từ xa ta có thể thấy thân chò như những cột bê tông nhẵn trắng, thẳng tắp như được người dựng lên vậy.


Mùa Xuân bao giờ cũng đến sớm hơn với loài chò. Sự rụng lá tuần tự, lá già nhất rụng vào mùa Thu, lá cuối cùng rụng hết vào mùa đông. Khi chiếc lá đầu tiên bay trong heo may, đầu cành những mắt cây đã dày lên như mắt cua. Những chiếc lá cuối cùng sắp ra đi cũng là lúc đầu cành xòe lá nõn. Cây luôn luôn giữ được màu xanh, không bao giờ trơ cành, trụi lá như những loài cây khác. Lá nõn và búp non mang mầu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu xanh vàng làm toàn bộ tán cây, vòm cây sáng lên rực rỡ. Cây như được khoác một bộ áo lá có tráng lên một lớp men bằng nắng nhẹ sớm mai.


Ta trở lại đại lộ Hùng Vương. Hai hàng cây chò mùa này đang tỏa lộc non và những chiếc lá óng màu lụa nõn. Mùa Xuân ở đây đến sớm hơn những nẻo đường thành phố. Nhìn những hàng chò, ta thử nhắm mắt lại mà tưởng tượng, mà hình dung ra khoảng năm hai nghìn một trăm có lẻ của Thế kỷ hai hai, những cây chò nay bằng những cây chò trong Công viên Bách Thảo, tỏa cành, cao vài ba chục mét, mỗi gốc cây hai người ôm không xuể mang mùa Xuân đến sớm trên quảng trường. Và mùa Xuân ở đây sẽ tỏa đi muôn nơi, khắp đất nước. Những du khách trên hành tinh của những Thế kỷ sau, cùng con cháu chúng ta ngẩng nhìn lên ngọn chò, cũng là ngẩng nhìn lên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiêm ngưỡng Người đã nối nghiệp Vua Hùng giữ gìn đất nước. Và những cây chò được đưa từ đất Tổ về đây, truyền cái màu xanh ngàn đời, cái lá tơ non, cái dáng đứng bất khuất và sự sống bền bỉ như dân tộc bất khuất mà cha ông ta đã chọn xứ sở này dựng nước. Và màu xanh ấy, dáng đứng bất khuất ấy cứ đẹp mãi, cao lớn mãi cùng với đất nước rạng rỡ đến vô cùng…


 


Thanh Hào


chinhphu.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những nhà tù “ế ẩm” - Tư liệu 13.07.2017
Nhà thờ Chánh tòa nguy nga nhất Italia: Duomo ở Milan - Tư liệu sưu tầm 13.07.2017
Vành đai và Con đường dưới góc nhìn địa chiến lược - Joseph S. Nye 12.07.2017
30/11/1917: Đức chúc mừng Cách mạng Tháng Mười Nga - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Ngày 08/07/1918: Ernest Hemingway bị thương trên Mặt trận Ý - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Nỗi đau của chàng Vecte (Werther) & Faust - Johann Wolfgang von Goethe 07.07.2017
Văn hóa Ẩm thực: 18 địa chỉ ăn ngon, sạch nhất Sài Gòn và vùng phụ cận - Triệu Xuân 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (14) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (13) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
18/12/1972: Nixon tuyên bố ‘Đánh bom Giáng Sinh’ Bắc Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 30.06.2017
xem thêm »