tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20030299
Những bài báo
30.04.2012
Tư liệu
Trường ca, sử thi trong môi trường Văn hóa dân gian Tây Nguyên

Đâu là nơi đầu tiên sản sinh ra thể loại trường ca? Chưa có công trình khoa học nào tìm biết điều này. Kể từ bản trường ca của người Êđê “Bài ca chàng Dam San – Klei khan Dam San” do công sứ Pháp cai trị tại DakLak Sabachie phát hiện ra đầu tiên, cách nay gần 80 năm, các nhà sưu tầm đã lần lượt công bố: Xinh Nhã, Dăm Di, Khinh Dú, Nàng H’ Điêu – Chàng M’ Hiêng, Gyông Dư” rồi hệ thống các trường ca Mnông “Cây nêu thần, Mùa rẫy Bon Tiăng”... hầu như dân tộc nào cũng có. Nếu chỉ kể tên, riêng ở vùng DakLak, các nhà sưu tầm đã ghi được 39 tên trường ca Êđê, hơn 100 tên trường ca Mnông, 6 trường ca Jrai. Tại Phú Yên, Bình Định có sử thi Bâhnar Kriem, Bâhnar Chăm. Ở Kom Tum cũng đã ghi được hàng chục trường ca Bana Rngao, tìm ra hệ thống trường ca Xơđăng với những tác phẩm cũng đồ sộ không kém... chưa có điều kiện thống kê hết, nhưng theo thông tin từ chương trình sưu tầm sử thi của nhà nước đang được triển khai ở năm tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, thì hiện đã ghi được tên của 202 trường ca, nhiều nhất vẫn là của hai dân tộc người Êđê và Mnông ở DakLak. Chắc chắn sắp tới hệ thống các trường ca, sử thi Tây Nguyên sẽ được giới thiệu một cách đầy đủ hơn.


 


Người Êđê gọi trường ca là khan (akhan, k’han,  ghan). Người Mnông gọi là ot n’trong. Người Bana gọi là h’amon. Người Jrai gọi là hri. Người Xơđăng gọi là tói kia rnghia. Người Churu gọi là khau tr’o car. Người Chăm gọi là akhan. Khánh Hòa cũng có akha jur car - trường ca của người Raglai. Mặc dù đã thất truyền nhưng người K’ho vẫn có tên gọi dành cho thể loại hát - kể tương tự là yang yao...


 


Nghĩa là dù thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô Polynêdi như dân tộc Chăm, Êđê, Jrai, Raglai hay thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer như Bâhnar, Xơđăng, Mnông... thì người Tây Nguyên ở khu vực nào cũng vẫn có trường ca dù chỉ là văn chương truyền miệng, chứ chưa có được văn học thành văn. Và sẽ còn những trường ca nào của các tộc người Giẻ-Triêng, Kho, Mạ, Lạch... mà chúng ta chưa có cơ hội tìm ra chăng?


 


Trường ca chính là một sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính toàn cộng đồng, của đa số các dân tộc thiểu số ở bản địa Tây Nguyên. Bao giờ chúng cũng được trình bày dưới dạng hát - kể bằng các làn điệu âm nhạc, có ngữ điệu, sắc thái, cường độ, tốc độ với sự đổi  giọng, đổi âm vực của người diễn xướng. Những yếu tố này đều mang đặc trưng của nghệ thuật diễn xướng âm nhạc. Chúng vượt qua tầm của những phương thức biểu cảm trong ngôn ngữ nói và hát, thường được thể hiện những chuyện dài, xen kẽ giữa văn xuôi và văn vần, theo lối văn biền ngẫu. Các trường ca này đều không được lưu giữ bằng văn bản mà chỉ truyền miệng qua sự xuất hiện của các nghệ nhân (pô khan) trước đông đảo những người đồng tộc của mình.


 


  SỰ PHÂN BỐ VÙNG SỬ THI, TRƯỜNG CA Ở TÂY NGUYÊN .


 


Có thể nói mà không sợ quá lời rằng: Không ở đâu trên đất nước Việt Nam có một vùng đậm đặc như thế về hình thức diễn tấu văn chương truyền miệng dài hơi như ở khu vực Tây Nguyên - Trường Sơn.


 


Những vùng có bề dày của trường ca Êđê ở tỉnh DakLak là khu vực các huyện: Cư M’gar, M’Drăk, Ea H’Leo, Krông Buk, Krông Ana.


 


Ot n’trong của người Mnông tập trung ở các huyện: Đăk Rlấp, Đăk Nông, Đăk Mil... của tỉnh Đăk Nông.


 


Vùng An Khê, Đức Cơ, Cư Prông, Đăk Đoa, Măng Giang... của tỉnh Gia Lai là nơi đậm đặc các trường ca h’amon Bâhnar


 


Thị xã Kon Tum là nơi tập trung các h’ amon của người  Bâhnar Rngao.


 


Tại các huyện Ayun Pa, Krông Pa,Cư Pah của tỉnh Gia Lai là nơi tập trung dày đặc các Hri của người Jrai.


 


Sử thi, trường ca Xơđăng (tói kia rnghia) xuất hiện ở các huyện Đak Tô, Đăk Hà, thị xã Kon Tum của tỉnh Kon Tum, huyện Krông Pak của tỉnh DăkLăk.


 


Tại các huyện Vân Canh, Tây Sơn của tỉnh Bình Định có trường ca của người Bana Kriem. Ở các huyện sông Hinh, Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên đều tìm thấy trường ca, sử thi của người Bana Chăm.


 


Vùng Khánh Sơn của tỉnh Khánh Hòa là quê hương của những bản trường ca akha jur car của tộc người Raglai.


 


Vùng miền núi Ninh Thuận, Bình thuận có các thi tập akhan ghi trên lá buông của người Chăm... hiện cũng đang được các nhà sưu tầm tiếp tục tìm kiếm.


 


Các nghệ nhân người K’ho cho biết thuở xa xưa tộc người này cũng có các hình thức hát - kể chuyện dài, gọi là jang jau, pro jau... nhưng ngày nay đã không còn ai biết diễn tấu nữa.


 


Phải chăng Trường Sơn – Tây Nguyên chính là cái nôi nảy sinh và nuôi dưỡng trường ca, sử thi, không chỉ của khu vực Đông Nam Á mà còn là của thế giới?


DIỄN XƯỚNG CỦA TRƯỜNG CA, SỬ THI


a. Môi trường diễn xứng


Trong sinh hoạt đời thường


Tại sao các dân tộc thiểu số Tây Nguyên lại có nhiều trường ca trong khi người Kinh, cho đến nay vẫn chưa tìm thấy trường ca? Có một số nhà khoa học cho rằng: Người Việt cổ cũng đã từng có trường ca, nhưng so biến thiên của xã hội nên dứt gãy và hoàn toàn biến mất. Chưa có ai chứng minh luận cứ này. Nhưng phải chăng trường ca, sử thi xuất phát từ môi trường sống và phương thức canh tác? Người Kinh ở đồng bằng thẳng cánh cò bay, dập dềnh sông nước, dù có “tứ đại đồng đường” tập trung trong một khuôn viên rào tre thì mỗi tiểu gia đình cũng có một khoảng không gian riêng, theo hình thức cư trú tách rời giữa nơi ở và bếp nấu. Sau nữa, thứ dùng để đun nấu phải bòn mót rơm rạ, cỏ, lá khô, đốt vèo một cái là hết. Còn con người sau một ngày lao động vất vả, người mẹ, người vợ phải lo lắng chuyện cơm ăn, nước uống cho cả gia đình lẫn vật nuôi. Nghĩa là giữa cái cảnh thường xuyên diễn ra “Nước lửa cơm sôi, lợn kêu con khóc”, thì cũng không thể dỗ chúng bằng những câu chuyện kể dài hơn được. Sự chạy ra chạy vào nhà trên nhà dưới, giữa vườn ao chuồng... đã đủ làm vụn ra những câu chuyện. Bên ánh lửa đèn chỉ có thể đi ngủ sớm, để mai còn lo ra đồng. Mà đã nằm xuống, giữa đêm tối mênh mông không ánh lửa, thì chỉ sau vài tiếng ru hời rời rạc là nhanh chóng chìm sâu vào giấc ngủ.


 


Tây Nguyên ngược lại, quần tụ dưới một mái nhà sàn, quanh một bếp lửa là hàng ba bốn, thậm chí hàng năm sáu thế hệ của một dòng tộc. Tất cả mọi sinh hoạt của con người đều tập trung trong căn nhà ấy từ ăn, ngủ, nấu nướng, cho đến các lễ nghi cúng kiếng. Sáu tháng mưa triền miên, người ta quây quần bên nhau,  giết thời gian bên cạnh những bếp lửa đỏ rực ấm áp cháy suốt ngày đêm, suốt tháng năm bằng những thân củi gộc của rừng, để xua đi cái lạnh giá của rừng già đại ngàn. Ở vùng người dân tộc Bâhnar, Xơđăng cả làng thường tụ họp trên nhà rông, thanh niên chưa vợ đêm đêm phải ngủ tập trung tại đây để sẵn sàng trực chiến. Những câu chuyện kể kéo dài từ ngày này sang ngày khác ra đời từ toàn cảnh môi trường này chăng?


 


Có nhà sưu tầm lên Tây Nguyên đã gặp được cảnh “người ta lắng nghe kể chuyện một cách say mê. Đêm qua ngồi như thế nào, sáng ra vẫn thấy nguyên tư thế đó không nhúc nhích”. “Mà nếu có đứa trẻ con nào buồn ngủ, thì cứ thiếp đi trên lòng mẹ, hoặc lăn ra cạnh bếp lửa ấy, lúc nào tỉnh dậy lại nghe tiếp. Trong giấc ngủ trẻ thơ, chắc chắn có bóng dáng những tù trưởng dũng mãnh Anh mặc áo sắt em mặc áo thép, để rồi lớp lớp những thế hệ thanh niên lớn lên, mang trong tâm trí hình ảnh và niềm khát khao trở thành những nhân vật oai phong dũng cảm đó”.


 


Môi trường chính của diễn xướng trường ca, sử thi có thể ở trên nhà rông, nhà dài của một gia đình, hay ở chính nhà nghệ nhân hoặc trong nhà chòi canh rẫy. Nếu là trên nhà rông hoặc ở một gia đình nào đó do gia chủ mời về, nghệ nhân thường ngồi cạnh bếp lửa , mọi người sẽ ngồi quây quần xung quanh. Nếu là ở nhà nghệ nhân, người nghe có thể ngồi bên ngoài, thành nhóm quanh đống lửa họ tự đốt lên cho ấm qua đêm, vừa rít tẩu thuốc vừa im lặng lắng nghe. Chỉ có một số người cao tuổi, người có vai vế trong làng là ngồi gần gian tiếp khách.


 


Ở vùng Bâhnar An Khê, nghệ nhân nằm kề ở ngay gian đầu hồi phía Tây. Ông ta nằm ngửa trên sàn, vắt chân chữ ngũ, tay phải đặt trên trán, tay trái đặt lên bụng, đầu gối lên một khúc gỗ hay tấm choàng gấp lại. Vị trí này không gần bếp lửa hay ngọn đuốc. Toàn thân người kể chìm trong bóng tối. Chỉ thỉnh thoảng khi ánh lửa từ bếp bùng lên hay ngọn đèn cầy, hoặc đĩa dầu hạt vông được khơi lên, mới thấy thấp thoáng bóng dáng ông được in trên vách ngăn đầu hồi. Nhưng cũng chỉ vài giây rồi lại chìm trong bóng tối.



Trong không gian im ắng ấy, tiếng nghệ nhân ngân nga vang lên, như vọng lại từ một không gian xa xôi thần bí nào. Đôi khi ông ta còn diễn và đổi giọng theo nhân vật, rất dễ gây ấn tượng. Cả người kể lẫn người nghe đều bị nghệ thuật và không gian diễn xướng mê hoặc, dẫn dắt theo, như sống trong diễn biến câu chuyện. Đấy cũng chính là điều làm nên sức sống và sự truyền cảm của nghệ thuật diễn xướng trường ca.


 


Tại vùng Mnông, những nghệ nhân có thể được mời đến để phục vụ cho việc thu hoạch mùa màng. Trong trường hợp này, ông ta có thể kể ban đêm trong chòi giữ rẫy, nhưng thường là di chuyển theo những mảnh rẫy đang có đông người thu hoạch bắp hay những người đang gặt lúa.


 


Cũng chính từ những đêm bên bếp lửa nhà sàn, ngoài rẫy ấy mà trường ca lưu truyền trong trí nhớ các nghệ nhân hết đời này sang đời khác, từ vùng nọ sang vùng kia. Qua mỗi nghệ nhân là thêm một lần tái tạo và sáng tạo. Đến mỗi vùng lại được thay da đổi thịt để phù hợp với địa danh và hoàn cảnh từng miền.


 


Trong sinh hoạt lễ hội


Một vòng đời người Tây Nguyên phải trải qua nhiều nghi lễ, tham gia nhiều lễ hội. Bắt đầu từ thuở ban sơ cất tiếng khóc chào đời, cha mẹ hứng nước sương làm lễ thổi tai, đặt tên, đến tuổi vị thành niên phải qua lễ cắt việc, rồi cưới chồng, dựng nhà, cầu chúc sức khỏe, sản xuất, săn bắn, hái lượm... cho đến khi đi về “bến nước ông bà”, về cõi mang lung, từ giã hẳn cộng đồng trong lễ bỏ mả. Xen kẽ trong năm là những lễ thức nông lịch của cả cộng đồng như: Từ tháng 11 đến tháng 3 là “mùa ăn năm ăn tháng”, buôn plei nào cũng phải có lễ đón lúa hay ăn cơm mới, lễ cúng bến nước (uống nước ngọt), cảm tạ các thần linh đã cho một năm cũ đủ no, cầu xin một năm mới bình an không có thiên tai phá hoại mùa màng. Sang đến tháng 4 tháng 5 có các lễ cầu mưa, xin dọn rẫy, tra hạt... Tháng 6, tháng 7 là dọn cỏ hoặc thu hoạch bắp đậu sớm. Tháng 9, tháng 10 gieo tỉa vụ hai. Tháng 11 làm lễ đón hồn lúa... Lễ nhỏ trong phạm vi một nhà thì thôi, lễ lớn bao giờ cũng đi kèm với hội. Có hội là có hát múa, có đánh ching chêng, có kể chuyện cổ tích, hát kể trường ca, có sự hoạt động tổng hợp của mọi nghệ thuật diễn xướng. Có thể coi tín ngưỡng chính là văn hóa. Bởi các nghi lễ tôn giáo ở đây vừa mang sắc màu văn hóa dân gian đậm nét, vừa mang nặng tính sinh hoạt cộng đồng. Thậm chí các bài văn tế đọc trong lễ cũng là những áng văn vần, được thầy cúng hay thầy phù thủy diễn xướng như hát.


 


Môi trường sống lao động sản xuất không chỉ là điều kiện nảy sinh của nền văn minh nương rẫy – văn hóa dân gian Tây Nguyên, đặc biệt là thể loại trường ca, mà còn đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loại hình nghệ thuật trong dân gian, trong những thế hệ sau.


 


Tóm lại, gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng như thế nên trường ca là sự phản ánh sâu sắc mọi khía cạnh của đời sống xã hội Tây Nguyên, từ con người cho đến thiên nhiên, đến những đấng tối cao chi phối mọi mặt hoạt động của cuộc sống cộng đồng. Đó không chỉ là môi trường sản sinh mà còn tạo nên sự trường tồn, ban cho trường ca sức sống mạnh mẽ để truyền lại cho đời sau. Ở một khía cạnh nào đó, nó phản ánh rõ nét xã hội Tây Nguyên cổ xưa. Chính vì vậy mà các nhà chuyên môn còn gọi đó là sử thi. Nhưng thế nào có thể gọi là sử thi? Như thế nào chỉ nên gọi là trường ca? điều này còn phải bàn cãi nhiều. Trước hết hãy cứ xem kỹ nội dung các trường ca hát - kể, theo cách gọi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.


 


b. Nghệ nhân diễn tấu


Những trường ca nêu trên cho thấy: Rõ ràng môi trường diễn xướng của trường ca là lễ hội, và đi kèm theo các lễ hội là tất cả các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp của nền văn minh lúa rẫy ( ngày nay được tổ chức UNESCO gọi là “ không gian văn hóa cồng chiêng” ). Từ những bài ca cúng tế đến âm điệu các dàn ching chêng, các vũ điệu, hình họa hỗ trợ cho nghi lễ... không chỉ là phương tiện giao lưu với các vị thần linh, phương thức báo tin cho cộng đồng xa gần, mà còn là văn hóa nghi lễ trong tín ngưỡng.


 


Trong sinh hoạt hát - kể trường ca, mặc dù mang tích chất cộng đồng bởi số lượng đông đảo người nghe tạo thêm niềm hưng phấn cho tâm lý và giọng điệu, diễn tấu của người kể, trong đó vai trò nghệ nhân chiếm vị trí độc tôn, được cả cộng đồng kính trọng và yêu mến. Nghệ nhân hát - kể trường ca phải là một người thông minh, có trí nhớ tốt, trí tưởng tượng phong phú; lại còn phải là người biết phân tích diễn biến của sự việc; tâm lý, tính cách của nhân vật để thay đổi giọng điệu khi cần thiết, nhằm thể hiện trạng thái tình huống và tính cách nhân vật đó. Ông ta còn phải biết cách vận dụng các làn điệu, đặt vần cho các làn điệu, đặt vần cho các câu hát, phân đoạn, phân câu, chọn chỗ lấy hơi, chỗ luyến láy, thêm những hư từ, phụ từ làm cho câu chuyện thêm sinh động, giọng kể không đơn điệu. Do đó, trong mỗi một nghệ nhân là sự tập hợp của một nhà thơ, một ca sỹ kiêm nhạc sỹ sáng tác, một đọa diễn kiêm diễn viên kịch đầy tài năng, một nhà “tâm lý học” sâu sắc. Thường thì nghệ nhân kể trường ca là đàn ông, theo kiểu cha truyền con nối nhưng cũng có vùng là phụ nữ (như nữ nghệ nhân Aduôn Then ở phường Ea Tam thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh DăkLăk, mí Bin ở làng Hà Giăng Trên, huyện Vân Vanh tỉnh Bình Định).


 


Một đặc tính độc đáo của thể loại hát - kể trường ca: Là một trạng thái thăng hoa ngẫu hứng tại chỗ của người nghệ nhân, nên không bao giờ  có thể kể tóm tắt nội dung trước được. Nhưng bản thân cuộc sống của người Tây Nguyên cũng đã là một đời sống hòa nhập giữa siêu thực và hiện thực, bởi sự tồn tại của hệ thống các thần linh (yang) có trong mọi chỗ, mọi nơi, mà trong đó không thể tách ra những Yang Atao (linh hồn). Nên không khó khăn gì để hiểu rằng: Khi diễn xướng trường ca, cả người kể lẫn người nghe đều “sống” theo diễn biến lẫn lộn giữa siêu thực và hiện thực của câu chuyện. Người kể đắm chìm với cuộc đời của nhân vật mình kể, thì người nghe cũng hồi hộp, vui buồn không kém theo nội dung diễn ra. Người nghe không chỉ đóng vai trò gián tiếp, tiếp thêm hơi thở và hưng phấn cho người kể, mà còn gần như trực tiếp tham gia và nội dung câu chuyện. Nhân vật như không chỉ xuất hiện trong lời kể của nghệ nhân mà còn dường như đang sống cùng cộng đồng, thở cùng một không gian với người nghe, thậm chí có đối thoại cùng người nghe. Chính vậy mà người kể phải kể đến cùng, người nghe vẫn phải nghe cho đến hết, sống cho đến tận cùng kết cục cuộc đời của các nhân vật, dẫu có phải kể hết bao nhiêu thời gian. Đây cũng chính là một trong những động lực thúc đẩy để hình thành những câu chuyện được kể “hết ngày dài đến đêm thâu” ở các buôn, kon, plei.


 


Trường ca được cấu tạo hoàn toàn bằng văn vần. Đây là một điều kỳ diệu, bởi thường nghệ nhân ứng tác ngay tại chỗ. Câu chuyện càng dài, đòi hỏi sự sáng tạo, trí tưởng tượng và khả năng sử dụng ngôn ngữ cách điệu của nghệ nhân càng cao. Trong trường ca Bâhnar một số vùng như ở huyện An Khê, còn có sự xen kẽ giữa văn vần và văn xuôi. Câu văn trong trường ca thường được diễn tấu theo hình thức biền ngẫu, cặp đối xứng, so sánh. Khi là lời người kể, khi là đối thoại của các nhân vât, bắt buộc nghệ nhân phải thay đổi giọng điệu cho phù hợp với diễn biến câu chuyện và nhân vật.


 


Ví dụ, trong h’amon Gyông Dư của người Bâhnar, đoạn hai nàng Bia Phu và Bia Man gặp Gyông Dư và bạn bè vừa xúc cá xong, mời hai nàng cùng ăn.


(a) Bia Phu, Bia Man:  Sao anh Gyông Dư cho chúng tôi nhiều thế?


(b) Gyông Dư:  Hai cô đừng lo. Thịt cá nhiều lắm. Đoàn chúng tôi đã chia mỗi người hai gùi đầy mà vẫn còn dư.


(c) nói rồi Gyông Dư tiếp tục trò chuyện cùng Bia Phu. miệng nói, mắt liếc, trái tim chàng đập rộn ràng, bụng chàng nôn nao khó tả.


Trong đoạn trích rất ngắn này, nghệ nhân đã phải thực hiện cuộc đối thoại của hai người con gái Bia Phu và Bia Man (a), của chàng Gyông Dư (b), và lời dẫn chuyện của người kể (c). Cũng trong trích đọan này chúng ta gặp cả hình thức văn xuôi đối xứng “miệng nói - mắt liếc, trái tim đập rộn ràng - bụng nôn nao”...


Hoặc trong trường ca Xinh Nhã của người Jrai ở Gia Lai:


Đọan nàng Bra Tang hẹn hò gặp Xinh Nhã:


(a)  “Trăng tròn đủ ba đêm. Mặt trời lên khỏi núi. Hạt sương trốn nắng. Xinh Nhã đến gốc gòn của chàng Dăm Di, chờ mãi không thấy Bra Tang, Xinh Nhã vào bụi nằm chờ. Bra Tang vừa đến:


(b)  Ơ con gà con trong buôn ra đi. Ơ con gà rừng nhỏ trong hang ra đây. Hoa Êpang đã đến rồi.


 


(c) Nhìn chung quanh không thấy ai, Bra Tang tức đỏ mặt, ném gói com, ném cả con gà vừa đi vừa chửi:


(d)  Ơ cái giống trái putkơ đang nứt, trái kơpang chín, cái thằng lừa gạt con gái, làm chết phụ nữ giàu sang.


Bra Tang liệng gùi, vùng vằng quay trở về. Xinh Nhã núp trong bụi tranh chạy ra:


 


(e)  Ơ em Bra Tang. Anh ở đây. Sao em chửi cha chửi mẹ anh. Tại sao lại nói chuyện giàu nghèo với anh ?”


 


Trong trích đoạn này, chúng ta thấy nghệ nhân phải 4 lần đổi giọng điệu cho phù hợp với diễn biến của câu chuyện và từng nhân vật: (a) và (c) là lời người dẫn chuyện, (b) và (e) là lời thoại của Bra Tang và Xinh Nhã, (d) lại là lời tự nói của Bra Tang. Đôi khi còn chen vào đó lời bình của nghệ nhân về con người, hoặc về sự việc như “Ôi thương làm sao”, hoặc “Lại nói chuyện”... Đây là một trong những yếu tố gây hấp dẫn đối với người nghe, là sự sáng tạo của người hát - kể. Không phải là những nghệ nhân giỏi kể trường ca thì khó mà thực hiện được. Chúng tôi đã gặp nhiều nghệ nhân chỉ kể lại được câu chuyện, mà không hát và cũng không thể kể đổi giọng được.


 


Trong nghệ thuật diễn tấu của trường ca, có thể chia ra làm hai cách: Diễn xướng tĩnh và diễn xướng động.


 


Diễn xướng tĩnh


Tùy theo lễ nghi nông nghiệp hay đón năm mới, mừng chiến thắng hay chúc thọ, chúc sức khỏe người già chủ gia đình, hoặc dựng nhà cho người sống, bỏ mả cho người chết (tương tự như lễ mãn tang, giỗ hết của người Kinh), đám cưới, đám tang... mà có diễn tấu các nhạc cụ, những điệu hát khóc (cok, che), hát kể (k’ưt, adok, rnghe, tăm pớt), hát đối đáp (ai rei, alử, ting ting)...


 


Trong những môi trường này, phần lễ, phần hội có múa, có hát đối đáp diễn ra vào ban ngày. Đêm xuống, cả gia đình quây quần bên bếp lửa nhà  sàn hay cả làng tụ tập quanh bếp lửa trên nhà rông nơi sinh hoạt  cộng đồng đều có các bếp lửa. ( Bếp lửa chính trung tâm sinh hoạt  của một đại gia đình, của buôn, plei, cũng còn là nơi để đón khách xa, khách gần). Đây là thời điểm lên tiếng của những nghệ nhân kể trường ca, cổ tích. Thông thường, trường ca được hát kể theo giai điệu trầm bổng. Nghệ nhân hoặc ngồi dựa lưng vào cây cột chủ của nhà sàn, cạnh bên bếp lửa, trầm ngâm kể, hoặc nằm khuất trong bóng tối (người nghe sẽ ngồi vòng quanh bếp lửa, thậm chí ngồi ngoài sân, ngoài sàn hiên đầu nhà). Trong đêm chỉ nghe thấy tiếng sang sảng của người hát kể.


 


Diễn xướng động


Không chỉ có một cách hát kể, có vùng hát kể còn kèm theo vũ đạo để minh họa. Trong trường hợp này, nghệ nhân ngồi bên bếp lửa, khi kể đến những trường đoạn chiến đấu, hoặc mô tả dáng đi uyển chuyển của các cô gái thì nghệ nhân đứng dậy tự minh họa, có khi bằng động tác, có khi bằng vũ đạo. Có nghệ nhân vừa đổi giọng đối thoại, vừa làm điệu bộ diễn xướng sân khấu như của người Việt.


 


Tại vùng Mnông tỉnh Đăk Lăk, đang giữa mùa thu hoạch, gia đình mời thêm một số thành viên trong họ đến làm đổi công, muốn cho công việc chóng xong và quên bớt sự vất vả, gia chủ còn đón cả nghệ nhân ot n’trong ra rẫy, nhưng không phải làm giúp, mà chỉ kể chuyện để giải trí, giúp cho mọi người quên mệt nhọc, năng suất lao động sẽ cao hơn. Trong trường hợp này nghệ nhân không chỉ ngồi một chỗ, mà phải di chuyển theo bước chân những người đang suốt lúa, thu hoạch đậu, bắp sao cho ở bất cứ góc nào người lao động cũng nghe thấy tiếng kể.


 


Cũng có khi người ta kể trong những giờ nghỉ ngơi giữa buổi trên rẫy. Đây cũng vẫn là một trong những điều kiện kích thích sức sáng tạo của nghệ nhân bởi có người ngồi quây xung quanh tập trung lắng nghe, thậm chí vui cười, buồn bã bình luận tùy theo diễn biến của câu chuyện đang được kể.


 


Không gian mênh mông của núi rừng, hương thơm lúa mới, nhất là sự tán thưởng của người nghe đã kích thích trí tưởng trượng, sáng tạo, khiến nghệ nhân càng thêm hưng phấn, say sưa kể và hoa chân, múa tay minh họa cho nội dung chuyện kể.


 


c) Mối quan hệ với các loại hình nghệ thuật khác


Như đã nói, các lễ hội chính là môi trường trình diễn nghệ thuật tổng hợp của các tộc người ở Tây Nguyên. Những bài cúng tế, ngoài việc là đặc trưng của tín ngưỡng đa thần, nó còn là những áng văn vần độc đáo. Trong những dịp này, những người đàn bà chủ gia đình có điều kiện khoe tài khéo léo của gia tộc mình qua trang phục thổ cẩm tự dệt, vị ngọt thơm của ghè rượu, những món ăn chế biến độc đáo. Những lễ cúng nhà mới, rước ghế kpan, đặc biệt trong tang lễ còn là dịp để nghệ thuật tạo hình phát huy nội lực qua những bàn tay chạm khắc, vẽ vời trên các cột nhà, cột cúng Yang, tượng nhà mồ, con rối... Trên hết là nghệ thuật biểu diễn, với các dàn ching chêng, các điệu múa (từ múa nghi lễ đến múa dân gian), các làn điệu dân ca, hàng trăm loại nhạc cụ (làn điệu dùng cho nghi lễ, làn điệu dùng trong sinh hoạt)... cũng được dịp thỏa sức trình tấu. Cũng có khi bên ngoài nhà rông vẫn liên tục diễn ra những họat động múa hát, đánh ching của thanh niên, còn trong nhà  rông, nghệ nhân và những người yêu thích nghe kể chuyện tụ tập bên nhau... Trong tiếng trống ching rộn ràng, trang phục thổ cẩm tự dệt rực rỡ, với men rượu cần chuyếnh choáng, một lần nữa tín ngưỡng thực ảo trong tư duy những người tham dự, làm cho trường ca càng trở nên sinh động và đầy huyền bí.


Khi hát kể trên rẫy những lúc nghỉ ngơi còn có sự phụ họa của những nhạc cụ tự tạo tại chỗ bằng những nguyên liệu hết sức gần gũi và dễ chế tác, như chiếc đàn t’rưng gỗ , kèn cọng bí, cọng lúa của người Bâhnar tỉnh Gia Lai, nghệ nhân còn tự đệm đàn ting ning (sau này còn có người như nghệ nhân A Nhiêng ở plei Piơm, thị trấn Đăk Đoa tỉnh Gia Lai dùng đàn ghi ta gỗ để đệm) khiến câu chuyện kể càng tăng thêm tính nghệ thuật, giúp cho nghệ nhân có những quãng ngừng nghỉ, nhờ phần đệm của cây đàn.


 


Tóm lại trường ca thường xuất hiện trong các sinh hoạt cộng đồng, trong môi trường thường diễn xướng nghệ thuật tổng hợp (nhạc, hát, kịch, nghệ thuật tạo hình...) rất phong phú. Nếu tách khỏi môi trường folklore đó, tính nhân văn và giá trị nghệ thuật của trường ca bị giảm thiểu đáng kể.


Nguồn: linhnganiekdam.vn


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Cao Tự Thanh 25.07.2017
Người vợ tài danh của vua Tự Đức - Tư liệu 24.07.2017
Về việc Cục Xuất bản yêu cầu các Nhà xuất bản “xử lý kịp thời” câu văn của Vũ Bằng! - Triệu Xuân 23.07.2017
Một tư liệu “mật” về Thi hào Joseph Brodsky - Tư liệu sưu tầm 20.07.2017
Joseph Brodsky - Nobel Văn học 1987 - trò chuyện với bạn đọc: Chuyện của kẻ “lêu lổng” nhất Liên bang Xô Viết - Joseph Brodsky 20.07.2017
Chuyện "nghèo" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý... - Lưu Trọng Văn 16.07.2017
Sứ sống Việt trên biên giới Trung Hoa - Phạm Vân Anh 14.07.2017
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Người khát sống - Tư liệu 09.07.2017
Chuyện làng văn: “hậu phương vĩ đại” của nhà văn Xuân Thiều - Châu La Việt 09.07.2017
Nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải xuống biển Bình Thuận: Bản chất là xả thải - Tư liệu 07.07.2017
xem thêm »