tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518196
Tiểu thuyết
24.04.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

IX. Được lưu lại Quảng Ngãi, Nguyễn Thông liền đi kinh lý các nơi về việc thủy lợi, mỗi huyện đều làm một quyển sổ, con bản đồ thủy lợi nhỏ của từng sở, lại có bản đồ thủy lợi của tất cả các sở, căn cứ theo bản đồ rồi nhìn vào sổ thì ruộng đồng đủ hay thiếu nước đều rõ như trong lòng bàn tay. Nhân đóng thành một tập thể sẵn, khi đi xem xét thì cầm theo, cùng các người làm ruộng làm vườn, trưởng đê cai đập bàn rõ những nơi đủ hay thiếu nước; bổ sung điều thiếu sót trong các địa chỉ cũ, để giúp người sau này tham khảo.


Một hôm ông Bắc Nhai và ông Nguyên Điền dẫn một người đến nói với Nguyễn Thông:


- Bẩm đại nhân, người này tên là Phạm Thục, chức Dực thiện, nói là ở phía Tây huyện Bình sơn có một nơi, nếu khai kênh đắp đập thì rất có lợi cho dân, nên đến báo với đại nhân.


Nguyễn Thông vốn rất quí trọng và biết ơn các ông Bắc Nhai và Nguyễn Điền đã hết lòng cứu giúp khi ông mắc nạn, nên vội cùng hai người và người dẫn đường là Phạm Thục đi xem địa thế.


Tới nơi thì thấy đây là một vùng toàn núi. Dưới chân núi có trại Vĩnh tuy, có khe quanh co khuất khúc như một con rắn dài. Khe ấy gọi là khe Tắm ngựa, chảy theo hướng đông, qua các thôn trại như Phúc lộc, Thạch động, Thạch nội Phú thành, Trà bình, Ngọc trì. Từ đó chảy theo hướng bắc, chảy vào sông Chu ổ. Nguồn khe thì xa và lòng khe thì ít nước. Sau mùa xuân hè hết mưa giữa khe chỉ còn một dòng nước bé nhỏ khi đứt khi nối. Đất ruộng đôi bên bờ thường năm bị tổn thất.


Nguyễn Thông cùng ba người lần theo khe đi lên, đến hai chỗ gọi là Xà tát và Lộ công, gần bờ khe thấy núi đá xếp thành ô, có dấu một cái kênh cũ, Phạm Thục nói:


- Theo các cố lão cho biết, thời Cảnh Hưng, Trung phù hầu họ Nguyễn có làm kênh, sau gặp lụt lớn, kênh bị páh, đến nay chưa được sửa lại, nên nước khe thường cạn.


Nguyễn Thông lại cùn ba người dạo quanh xem xét. Bỗng ông vụt hiểu ra, nói:


- Khe này thế như viên ngói lật ngửa, liền bờ có nhiều hang ngòi, nước mưa tren núi đỏ dồn lại, lẽ nào lại không có nước. Việc của người xưa làm có lý lắm đấy. Nhưng cần phải có người tháo vát đứng ra lo liệu mới được.


Phạm Thục cho biết ở vùng này có ông tú tài Đinh Duy Tự, nhiệt tâm lo việc công ích. Tức thì Nguyễn Thông đến gặp ông tự, nói với ông rằng:


- Người sĩ phu ở nàh hay ra làm, cốt nhất là có giúp ích cho đời. Đi lập công ở huyện khác, sao bằng giúp ngay huyện nhà. Nếu ông chịu đứng ra lo việc, tôi sẽ giúp điều động nhân công, trù tính kinh phí cho đầy đủ.


Đinh Duy Tự nhận lời, đứng ra lo việc, xem xét thế đất, đào ngay một cái kênh lớn chạy quanh ba thôi Thạch động, Thạch nội, Thạch trì. Lại xét dấu đập cũ của ông hầu họ Nguyễn sửa lại đập cho chắc chắn. Bên cạnh đập khai một cái mương cho nước chảy. Các phụ lão hai tổng Bình trung và Bình hạ đem con em ra làm công dịch, hơn bốn tháng thì xong. Cuối thu sang đông, nước mưa trên núi đổ về không chỗ nào bị xói lở úng tắc, có đủ nước tưới ruộng cả ba thôn. Ngoài ra còn có các thứ củ ấu với các loài ốc sò, cá tôm, dân sở tại thu lợi khá nhiều.


Ngày khánh thành đập, Nguyễn Thông nói với Đinh Duy Tự:


- Ông Định tuổi già rồi, nhưng vẫn hết lòng hết sức, không quản mệt nhọc để làm lợi cho dân làng. Vì thế tôi xin đặt tên cái đập ấy là đập “Đinh gia” để ghi nhớ công ơn của ông – Rồi ngoảnh lại nói với bà con – Bà con có bằng lòng hay không?


Mọi người reo to tỏ ý tán thành. Nguyễn Thông cảm động nói:


- Có đập rồi các bà con ta nên hằng năm sửa chữa giữ gìn để hưởng lợi lâu dài, lòng tôi trông mong khôn xiết.


Đáp xong đập Đinh gia, Nguyễn Thông lại họp các ông Phạm Thục, Bắc Nhai và Nguyễn Điền lại bàn bạc.


Nguyên ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi có con sông gọi là sông Vệ. Phía bắc sông ấy có một sông nhánh gọi là sông Đồng, nhân nước sông Vệ chảy về phía bắc qua các nơi Đồng viên, Hào Môn, Hải Châu, Vạn An, Tâm quan, Thánh bình rồi chảy về phía đông, lại ra sông Vệ. Đường nước quanh co nhỏ hẹp, lâu ngày lấp thành đất bằng, ruộng nhà nông bị thiếu nước, những người ở đó dùng nước hồ ao là sông cũ đọng lại, phần nhiều bị bệnh.


Mùa hè năm Tân Mùi(1), Nguyễn Thông định nhân đường sông cũ đào kênh dẫn nước sông Vệ để giúp đỡ nông dân. Ủy viên của triều đình đã họp với Tri phủ Tư Nghĩa là Trần Dự để tính toán số khối đất và phí tổn nhân công để thuê mướn, thì vừa gặp lúc Nguyễn Thông bị khiển trách cách chức, việc tưởng như bỏ luôn.


Đến nay Nguyễn Thông được ở lại trông coi việc thủy lợi, ông bèn quyết định tiếp tục đào kênh cho xong. Ba người nghe nói đều sốt sắng hưởng ứng và tình nguyện đi huy động dân phu đến làm việc.


Khi ba người mộ được một số dân phu đi đến chỗ sửa sông thì thấy có vài trăm người ngồi đầu cửa sông không cho đào. Phạm Thục hỏi:


- Tại sao các ngươi lại ngăn trở việc quan?


Một người mập lùn, mặt phèn phẹt, râu ngạnh trê, nước da thiết bì ra nói:


- Đây là phần đất thuộc quyền sở hữu của ta, có bằng khoán điền thế của quan phủ sợ tại làm chứng, không ai có quyền xâm phạm đến. – Rồi hắn quay lại nói với các gia nhân – Kẻ nào đụng đến chỗ đất này, cứ việc đánh chết không thường mạng.


Phạm Thục ngạc nhiên đưa mắt hỏi mấy viên lý dịch đi theo. Viên lý trưởng làng Đồng Viên khẽ rỉ tai Phạm Thục:


- Ông ấy là Lê Noãn, là thổ hào có thế lực ở vùng này, trước làm nha lại ở phủ Tử Nghĩa, nên quen thân với quan tri phủ, được quan cho phép chiếm đoạt chỗ đất này để thu hoa lợi…


Phạm Thục quay hỏi Lê Noãn:


- Việc đào kênh là theo lệnh của quan bố chánh, ông cậy thế tri phủ dám chống lệnh quan trên hay sao?


Lê Noãn cười khẩy:


- Ông nói ông Nguyễn Thông phải không? Ông ấy trước có làm bố chánh thật, nhưng mới đây mắc tọi đã bị cách chức rồi, còn là quan tỉnh đâu nữa? Nếu có lệnh của quan tỉnh thật thì ông đưa ra đây cho tôi coi thử!


Phạm Thục biết rằng Nguyễn Thông hiện vẫn chưa được phục chức, chỉ là được lưu lại lo việc thủy lợi thì đâu có quyền ra công văn, huống chi quan đầu tỉnh đang muốn hãm hại Nguyễn Thông, đâu có chịu ra tờ sức hay cấp văn bằng! Thấy vẻ bối rối của Phạm Thục, Lê Noãn càng làm già, quát:


- Thì ra các ngươi dám mạo nhận danh nghĩa quan tỉnh, làm việc trái phép, gia nhân đâu! Cứ tiến lên, đứa nào dám chống lại thì gô cổ nó lại nộp lên phủ đường trị tội!


Gia nhân được lệnh, nhất tề xông lên chặn đường. Dân phu thấy thế đều chán nản, toan bỏ về. Phạm Thục bước tới, quát lớn:


- Việc đào kênh là cốt làm lợi cho bà con, khiến gia đình bà con được no ấm. Nếu bà con không đứng ra gánh vác, hỏi còn ai lo cho nữa. Nay đã có Nguyễn đại nhân đứng đầu, bà con cứ việc làm, không có gì phải lo lắng. – Rồi ông quay sang nói với Lê Noãn và bọn gia nhân – Nếu kẻ nào cản trở việc công ích thì sẽ biết tay ta.


Thấy Phạm Thục là chức dực thiện, lại khỏe mạnh, vũ dũng, bọn gia nhân đều sợ oai không tên nào dám tiến lên. Được sự can đảm của ông cổ vũ, dân phu đều nán lại chờ xem sự thể ngã ngũ ra sao.


Bát đồ đêm ấy lũ núi đỗ về, xoi phá bờ đắp một khoảng cái thuyền đi lọt, tên thổ hào nhìn thế nước mênh mông biết có ngăn cản cũng vô ích, thất vọng bỏ về. Rồi nước lũ rút xuống, mọi người lại tiếp tục đào vét.


Ông Bắc Nhai và ông Nguyễn Điền trở về nói với ông Đông Tân và ông Bình Trang:


- Tôi đến chỗ cửa sông nghe có chuyện này hơi lạ, nếu tên Lê Noãn mà không có tay trong thì sao biết được chuyện của tỉnh đường, cũng như có phải dựa vào thế lực nào mới dám công nhiên chống lại Nguyễn đại nhân. Chưa biết chừng nó có dây mơ rễ má với tên Lê Doãnh vu cáo cho Nguyễn đại nhân cũng nên.


Mỗi người chia nhau đi dò xét, biết Lê Noãn này chính là em tên Lê Doãn. Lê Noãn dựa thế viên tri phủ Tư Nghĩa chiếm đoạt được vùng đất ấy, thấy Nguyễn Thông cho người đến cắm đất dự định đào kênh, y biết rằng tri phủ không thể chống lại với quan bố chánh, nên bàn với anh tìm cách hại Nguyễn Thông. Lê Doãn vốn là nha lại cáo già, thừa mánh khoé xúi nguyên giục bị.


Nguyên vợ chánh thất cua Nguyễn Thông là Ngô thị, sinh hai con đầu đều là giá, nên bà cưới cho chồng một người thiếp để có con trai nối dõi.Người thiếp họ Đoàn sinh được con trai tên Thuật. Thuật lớn lên tính ham mê cờ bạc, cha răn dạy nhiều lần không được nên ông rất ghét. Thật chơi với bạn cờ bạc, du thử du thực, nhân bọn này gây nên án mạng bị bắt giam. Lê Doãn xui bọn này tiêu xưng là có Thuật dính líu vào vụ này. Nguyễn Thông vì có con em trong nhà có liên can, từ chối không dự vào việc tra xét. Doãn lại xui bọn này đút lót cho quan án sát, để ông này xử nhẹ tội cho chúng. Sau đó Lê Doãn lại vu cáo cho Nguyễn Thông vì bao che cho người nhà nên xử án sai lầm. Viên quan đầu tỉnh có tư hiểm với Nguyễn Thông và để chiều ý vua, nên cứ đổ riệt tội cho Nguyễn Thông. Khi biết tin Nguyễn Thông đã bị cách chức. Lê Doãn lại xui em nhân lúc hỗn quân hỗn quan này, cứ ngăn cản việc đào kênh, khiến mọi người chán nản sẽ bỏ dở.


 Thu thập đầy đủ tài liệu và chứng cứ, ông Đông Tân và ông Bình Trang lại voà kinh phen nữa trình bày với bộ Hình. Khi đó quan Thượng thư bộ Hình Lê Tuấn từ Bắc kỳ đã trở về. Ông này vốn từng giao thiệp với Pháp, không ưa gì thái độ ngạo mạn hách dịch của chúng, thấy Nguyễn Thông là người hăng hái chống Pháp, nên có ý bảo vệ ông, Kết tọi vu cáo của Lê Doãn và xin tha tội cho Nguyễn Thông. Nhưng Tự Đức vẫn bắt Nguyễn Thông về làm việc ở Sở Kiểm biên Lầu Tàng để “chuộc tội”.


Ngày Nguyễn Thông lên đường cũng là ngày mà kênh Vĩnh Lợi vừa đào xong. Dân chúng Quảng Ngãi sắp hàng hai bên vệ đường đưa tiễn ông. Nguyễn Thông đi trong tiếng nước dòng kênh cuồn cuộn chảy về đồng, trong tiếng xe nước cót két dọc theo đường kênh. Miệng kênh hút nước sông Vệ, nhân vì hẹp nên thế nước chảy xiết, đủ sức đẩy xe nước quay nhanh; mực nước vừa phải, nếu sâu thì nước sông Vệ tràn vào quá nhiều, nước chảy chậm thì xe dừng lại, như vậy việc đào kênh này mang lại nhiều lợi mà trừ được điều hại cho dân. Nguyễn Thông nhủ thầm: người làm quan cũng phải biết tính xa trông rộng mới làm cho dân ấm no hạnh phúc.


Lầu Tàng Thơ ở phía đông hồ Tịnh Tâm, thuộc địa phận phường Phong Dinh(1) bằng gạch, xây năm Minh Mạng thứ 6(2). Tầng trên 7 gian 2 mái, tầng dưới 12 gian, bốn bề xây lan can.


Lầu làm giữa một hồ vuông gọi là hồ Học Hải, phía tây hồ có bắc cầu để ra vào, đầu cầu phía ngoài đặt điếm canh.


Công việc của Nguyễn Thông ở đây chỉ là nhận công văn cũ của sáu bộ và các nha để tàng trữ, khi rãnh rỗi ông thường làm thơ để giải muộn.


Để lấy hứng, Nguyễn Thông ra hồ Tịnh Tâm chơi. Hồ có tường bao bọc chung quanh, chu vi 351 trượng 6 thước(3) bốn hướng trổ bốn cửa ra vào: nam là cửa Hạ Huân, đông là cửa Xuân Quang, tây là cửa Thu Nguyệt, bắc là cửa Đông Hy.


Trong hồ đắp ba hòn đảo: phía nam là đảo Hồng Lai, bắc là đảo Phương Trượng, tây là đảo Doanh Châu.


Giữa đảo Hồng Lai có điện Bồng Doanh, xây về hướng nam, 3 gian 2 chái, trùng thiềm lợp ngói hoàng lưu ly; phía đông điện là tạ Thanh Tâm, tây là lầu Trùng Luyện, xây ve hướng đông và tây; nam có cửa điện, trước cửa là cầu Bồng Doanh, bắc là cửa Hồng Cừ, trước cửa là cầu Hồng Cừ.


Giữa đảo Phương Trượng có gác Nam Huân, hai tầng, xây về hướng nam, lợp ngói hoàng lưu ly, phía đông gác là Hạo Khiên đường, xây về hướng nam; tây là hiên Dưỡng Tính xây về hướng tây, bắc có lầu Tịnh Tâm, xây về hướng bắc, nam có cửa Bích Tảo, trước cửa là lầu Bích Tảo.


Vào khoảng giữa hai đảo Bồng Lai và Phương Trượng có đỉnh Tứ Đạt, nam đình thông với cầu Hồng Cừ, bắc đỉnh thông với cầu Bích tảo, trên hai cầu này làm hành lang 11 gian. Hai bên đông và tây đình đắp một con đê dài, hai bờ trồng liễu, là đê Kim Oanh.


Đê này phái đông đến cửa Xuân Quang qua cầu Lục Liễu, trên cầu làm hành lang 3 gian, phía tây bắt đầu từ đình Tứ Đạt suốt một đoạn đê dài có hành lang 56 gian, khoảng giữa có cầu Bạch Tần. Giữa cầu này là xưởng Thanh Tước, là nơi để thuyền ngư. Phía tây nam cầu có Khúc Tạ, phía nam bên trái có nhà Khúc Tạ Hà Phong đều làm trên mặt nước có hành lang nối liền với nhau. Từ Khúc Tạ lại có 6 gian nối với hàng lang của đê Kim Oanh. Phái nam Khúc Tạ Hà Phong là đảo Doanh Châu, trên đảo không có lầu tạ gì.


Chung quanh hồ Tịnh Tâm trồng tre, trong hồ trồng sen, đến mùa hoa nở dày đặc rất là ngoạn mục.


Nguyễn Thông đọc bài thơ Tịnh hồ hạ hứng của vua Thiệu Trị ngự chế:


Trừng luyện hàm không nhất vọng xa,


Thiềm nha ảnh thủy trám tinh hà.


Lâu đài hoa thu trường sinh cảnh,


Thiên địa sơn hà tứ hải gia,


Vũ phiến mạn giao thi hóa nhật,


Thuấn cầm uyển nhĩ thập thi ca.


Y nhiên nhân trí tình vô hạn,


Đồng lạc giao phu thảo vật gia.(1)


Nguyễn Thông thầm nghĩ: trong khi tiên đế làm những thơ ca ngợi lầu các đình tạ, làm xong lại cho vẽ từng cảnh một, rồi gởi sang Tàu vẽ lại vào gương, đóng khung chạm thếp vàng, khoảng trên khung có lồng tấm gương ghi bài thơ của vua bằng chữ vàng, thì em Ngài là Tùng Thiện Vương Kiên Thẩm lại làm những bài thơ giãi bày cảnh khổ của dân.


Năm mười bảy tuổi, Kiên Thầm đến tuổi xuất phủ, đã xin ra làm nhà ở thôn Lê Khên, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, gần sông Lợi Hồng, sống gần những người làm nghề nông, để chia sẻ nỗi vui buồn với họ và cũng để lấy tài liệu làm thơ. Ông trực tiếp chăm lo việc cấy cày thu gặt trên đồng ruộng. Ông soạn được 10 pho sách chữ Hán, trong đó ngoài thơ văn còn có cuốn Thức cốc biên, ghi chép vè các giống lúa và kinh nghiệm trồng các giống lúa. Ông từng nói để răn con cháu trong nhà:


- Nước ta trọng nghề nông, dầu trong cung đình cũng mở vườn Thiên phương, cấy lúa trồng dâu, muốn cho mọi người đều biết tự thực kỳ lực. Hay bà con nên hướng về nghề ấy, có thực hiện hơn nghề thơ. Đã có thực nghiệp thì khỏi hư sinh mà có đủ quyền lợi.


Đời xưa có người bán gươm mà mua nghé, vì người làm ruộng nuôi được nhã binh, nuôi được cả nghề làm thơ…


Được lời mời của Tùng Thiện Vương, Nguyễn Thông liền đến thăm Vương. Từ xa đã thấy ngọ Thiên dữu, hinh núi vun dày đô sộ giống như vựa lúa nên có tên Thươngg sơn (núi kho). Chính phong cảnh đẹp đẽ, kỳ bí của núi này đã khiến Tùng Thiện Vương dùng tên núi để đặt biệt hiệu cho mình.


Ken theo sông Lợi nông (sông An cựu), Nguyễn Thông đến Tiêu viên. Nên vườn có một cái nhà nhỏ, dồn đá lại để đem nước vào, cây cối um tùm hơn cả cảnh sơn lam, gọi là Kỳ thưởng viên.


Nghe nói Nguyễn Thông đến thăm, Tùng Thiện Vương vội ra đón tiếp. Trong khi đàm đạo, Nguyễn Thông nói:


- Tôi đã được hân hạnh đọc thơ của Vương trong lòng rất ngưỡng mộ, nên đến thăm để được học hỏi về nghề thơ, xin Vương vui lòng chỉ giáo cho.


Tùng Thiện Vương nói:


- Thơ tôi nào đã có gì, mà ngài phải quá khen.


- Vương bất tất phải quá khiêm. Đến ông Nguyễn Văn Siêu là danh sĩ bậc nhất Bức kỳ còn phải khen ngợi thơ Vương. Ngya cả sứ Tàu là Lao Sùng Quang, đệ nhị giáp Tiến sĩ Thanh Triều, khi đề tựa tập thơ Thương sơn cũng phải viết: “Thương sơn nhất lão thiên đãi dĩ chi thức, thị Nam bang khởi đắc, cẩn dĩ thu nhân mục chi da”(1) huống hồ bọn chúng tôi.


Tùng Thiện Vương mỉm cười, đọc cho Nguyễn Thông nghe một số bài thơ ông mới làm.


Bài Trác mộc điểu (Chim gõ kiến) như sau:


Trác mộc điểu! Trác mộc điểu!


Hùng lại chi thượng điều.


Thế đắc hảo thu chi,


Trùng đố bất vi thiều.


Sàm khẩu tứ sở dục,


Bách vạn cung nhất bão.


Lão lai khước phi khứ,


Trĩ lại phục như cố.


Xi xi điếc hà liệu,


Khất sinh bất năng độ.


Đố mộc tín hữu tôi,


Hà như bỉ bang đố(2).


Bài Phù lưu tiền hành (bài hành tiền cau trầu) viết:


Triều tấn phù lưu tiền,


Mộ tấn phù lưu tiền,


Đại nhân nghiết phù lưu,


Nãi tuyết tiểu nhơn oan.


Đại nhân đường trung tiên sách hủ,


Tiểu nhơ mãi gia hoàn mãi phụ.


Thử thân tuy tồn gia dỉ hưu,


Già tỏa hạnh thoát phu nan lưu.


Bão nhi tạm lại dữ phu biệt,


Lệ bàng đói khắp xan phù lưu.(1)


Bài Mại trúc đao ( bài hát bán tre) viết:


Nhật phu lưõng cạn trúc,


Lại chi dĩ sung phúc.


Môn nội trúc như sơn,


Mộn ngọi tiền bất phán.


Bất ngôn nhất hà khổ,


Ngôn chi, trường tiên thả tiên nhữ.


Y ta ta!


Quy khứ lai hề lụy bàng đà.


Tùng kim chi hâu vật phạt trúc,


Cơ ngọa trúc gian tử diệc túc!(2)


Nghe xong hai bài thơ, Nguyễn Thông xúc động, chắp tay nói:


- Khi ở Quãng Ngãi, được đọc bài thơ của Vương nói về cảnh lưu dân ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngiã gặp năm mất mùa đói kém bồng bế dắt díu nhau vào Kinh lánh nạ: Việt quan thượng Kinh tương nhị tuần. Kênh hình như hạc, y huyền thuần. Một giả bất khí, trầm kinh trăn. Tồn giả bộ bặc giao ngâm thân(3). Tôi đã hết sức khâm phục trước tài kỷ thực của Vương. Nhưng đến ba bài này, vừa có tượng sáng rõ, vừa có ý sâu sắc, lại có sức khái quát cao, thực chẳng kém gì thơ Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị ngày xưa.


Ở kinh một thời gian, đến năm Quý Dậu(1) Nguyễn Thông cáo quan về nghỉ ở trại núi thuộc tỉnh Bình Thuận, lập thi xã ngâm vịnh làm vui. Một hôm, ông nhận được bài thơ của Tùng Thiện Vương gửi vào:


Thiên lý Nam quy khách,


Kinh tuần vị để gia.


Lâm phong nhai khiêu hổ,


Thảo lộ đắng hoàng xà.


Thu sĩ tâm không tráng,


Biên sầu mấn dục hoa.


Khả kham kim dạ nguyệt,


Tưởng ức tại thiên nhai.


Đọc xong thơ, Nguyễn Thông than:


- Tùng Thiện Vương quả là một Bình Nguyên Quân thời nay. Nhớ lại hôm đến dự cuộc họp thơ của Mặc vân thi xã, Nguyễn Thông thấy các nhà thơ thi làm làm thơ lấy vần Khoai. Mọi người chưa làm xong htơ thì Tuy Lý Vương đã đọc trước:


Cũng phải xởi ngơi cũng phải chơi,


Làm người nào phải Phật lo đời.


Ngày dài để đặng ba muôn sáu,


Thắng chẵn lần qua một chục hai.


Việc phủ bua quan nhờ Đức lớn,


Tiệc thơ hầu hạ dám nhường ai.


Mua vui ngàn lương xin đừng tiếc,


Đã thấy co ro cất cả khoai.


Mọi người đều xuýt xoa khen thơ của Đức Ông Tuy Lý, không ai dám đọc thơ của mình nữa.


Khi Tuy Lý Vương biết có mặt Nguyễn Thông trong buổi họp thơ, liền khẩn khoản mời ông đến nhà chơi. Vương còn đọc bài thơ Vịnh nhà mát để tự giới thiệu:


Cửa cỏ rèn lau mặc tả tơi,


Sông Hương nội lách ấy là nơi.


Dẫu cỏn mưa gió ta càng thích,


E nỗi trăng ba khách khó chơi.


Ghế đá giường tre không chút bơn,


Quần là áo lượt chẳng màng thơi.


Dầu ai tưởng tới qua, mà dởi,


Thiếu thốn tôi đâu dám rước mời.


Nghe xong thơ, Nguyễn Thông thầm nghĩ: Tuy Lý Vương rành cả thơ Nôm, có chất dân gian nhưng thơ chữ Hán thì không bằng Tùng Thiện Vương. Được cái Tuy Lý có những bài thơ tình khá tế nhị tiêu tao như bài Vô đề:


Nhược liễu thiên đièu lộng vẫn phong,


Thái liên chu tại họa kiều đông.


Phân minh phiến để như sờn cách,


Thùy tín hoa gian hữu lộ thông.


Mộ vũ tự quy giang hảo bích,


Đoạn hà không đới thúy lâu hồng.


Khả liên cô quán tài thi dạ,


Tiều tụy Phan lang mấn tự bồng.(1)


Đọc bài thơm Nguyễn Thông nhớ lại cái cảnh lần đầu tiên gặp bà Ngô Thị A Thúy ở Tân An. Khi Nguyễn Thông vô Kinh làm việc, bà xin phép ông cho bà về Nam thăm quê hương và người thân, ông đã làm bài thơ tiễn bà:


Mộng hồi la trướng, lệ châu san,


Em hoãn kinh thoa liễm thúy hoàn.


Phạ kiến đào hoa xuân lãng khoát,


Nhị thiên minh nguyệt nhất chu hoàn.


Âm phù th đố kiếm ngân ân,


Mã giác nan kỳ lữ mấn ban.(2)


Lúc này ông càng lo lắng, không biết bà về Nam có được bình an không. Nhưng ông tin rằng bà con xóm làng ở Tân An sẽ bảo vệ, săn sóc bà. Ông chỉ mong đến ngày được cáo quan, trở về Bình Thuận, sẽ tìm cách đưa bà ra, hai vợ chồng cùng nhau chung sống đến răng long đầu bạc. Ông thầm nghĩ, bà là cháu của Ngô Nhân Tĩnh, nhà thơ đã viết những câu thơ tình tuyệt diệu: Thúy tưởng cô miên dương liễu thu. Hồng lân khiếp thụy hải đường hoa. Cẩm bình ngọc chẩm xuân phong viễn. Độc bằng lan can nguyệt ảnh tà(3), hăn ũng thuộc nòi tình, chắc lúc này cũng rất nhớ ông, mà chỉ đành để những giọt lệ tương tư thấm trên gối lẻ. Ngày gặp lại vợ, ông sẽ gài chiếc trâm ngà ông mua dành cho bà trên mái tóc bà thấy vào chiếc trâm gỗ mộc tầm thường bà đã gài từ ngày còn hàn vi mới về nhà chồng. Chỉ một ước vọng giản dị như vậy mà bao năm trời vẫn chưa đạt được.


Năm sau Nguyễn Thông được khởi phục chức Tư vụ, làm Chủ sự Ty Thù ứng ở Bộ Lễ. Ông đã ra đến kinh nhậm chức, nhưng không chịu được lề lối làm việc câu nệ, chuộng bề ngoài của các quan Bộ Lễ, lấy cớ có bệnh xin về.


Đến năm Bính Tý(1), nhờ có sự tiến cử của Phạm Thú Thứ và Nguyễn Tư Giản, nói Nguyễn Thông là người văn học sâu rộng, có tài trước thuật, trước đây đã hoàn thành bộ “Khâm định Nhân sự Kim Giám’, nên Nguyễn Thông được thăng hàm Hàn lâm viện Trước Tác, lãnh chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Ông được giao cùng Bùi Ước, Hoàng Dụng Tân phúc kiêm bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, là bộ sử chính thức của Quốc sử quán.


Khi đó thương ước kèm theo hòa ước Giáp Tuất(2) triều đình ký với Pháp được thi hành, Pháp giao trả bốn tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội, Hải Dương, tặng cho năm chiếc tàu máy, nên triều đình bên dưới đều yên tâm theo lối tạm bợ, chỉ lấy tài lợi làm triều quan trọng. Nguyễn Thông nhân việc khảo hạch sinh đồ, soạn một bài kinh nghĩa “Mạnh Tử kiến Lương Huệ Vương thích nghĩa”, nhằm thức tỉnh vua quan trong triều đừng ham tài lợi, phải nghĩ đến việc chống Pháp.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Năm 1871.




(1) Nay là phường Phú Nhơn.




(2) Năm 1825.




(3) Bằng 1418m 10.




(1)     Dịch: Hồ nước như lụa trắng ngậm trời trông rộng thoáng,


Hiên nhà chiếu bóng xuống nước có sao ngân hà lấp loáng.


Lâu đài cây hoa như cảnh trường sinh,


Chính nơi tịch mịch ngồi suy nghĩ việc trời đất non sông bốn biển một nhà.


Khi trời mát mẻ không cần quạt của Vũ Vương để che mặt trời,


Thi ca êm tai như vua Thuấn gảy đàn cầm.


Do tình của nhân và trí phát ra không hạn lượng,


Sách Luận ngữ có câu: Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy. (kẻ có nhân ưa núi, kẻ có trí ưa nước)




(1) Trời sinh ông Thương sơn để làm gương cho dân nước Lam, ta há dám chỉ coi là một nhà thờ hay là thôi đâu?




(2)     Chim gõ kiến! Chim gõ kiến!


Con trống trên cây liệng,


Đậu được cành sum suê,


Sâu mọt bay xoa xiếng.


Dài mỏ mặc sức ăn,


Trăm nghìn một bụng đầy.


No rồi thẳng cánh bay,


Con mái cũng như thế.


Dân đen biết nhờ ai,


Trọn đời khó no đủ,


Mọt cây tội đã đành,


Sao bằng tôi mọt nước.




(1)     Dịch: Sang dâng tiền cau trầu,


Chiều dâng tiền cau trầu.


Quan lớn xơi cau trầu,


Dân đen mới khỏi tù.


Nhà quan lòi tiền, để mục bở,


Dân đen bán nhà, bán cả vợ.


Thân còn nhưng nhà đã bán lâu,


Gông cùm may khỏi, vợ còn đâu.


Bồng con, tìm đến chồng từ biệt,


Khóc tủi bên đường, nhá trầu cau.




(2)     Dịch: Ngày vác hai cây tre,


Bán đi để dỡ da.


Trong cửa tre chất non,


Ngoài cửa tiền không trả.


Chẳng nói thì đau lòng,


Nói thì roi quất thẳng vào hông.


Ôi chao ơi!


Đi ra về, nước mắt dầm dề,


Nay còn đốn vác làm chi hè,


Thà chết đói nằm bên tre.




(3) Dịch: Vượt ải hai tuần đến Kinh đô. Ao quần rách rưới, người ốm xo. Người chết vùi thân vào đám cỏ. Kẻ còn la lết, rên hừ hừ.




(1) Năm 1873.




(1)     Dịch: Liễu yếu ngàn cành gió thổi tung,


Hải sen thuyền ở mé cầu đông.


Rõ ràng hưng quạt như non cách,


Đâu biết trong hoa có lối thông.


Mư tối tự về rờn cỏ biếc,


Ráng chiều dọi nước ửng lầu hồng.


Thương đêm quán lẻ tìm thi tứ,


Tiều tụy chàng Phan tóc rối bồng.




(2)     Dịch: Mộng về màn lụa, lộ đầm đìa,


Lười đổi thoa cài tóc biếc sa.


Ngại thấy hoa đào xuân sóng cả,


Hai trời trăng sáng một thuyền về,


Binh thư đã mọt, rỉ gưởm hoen.


Chẳng hẹn ngày về, tóc trắng chen,


Gỏi được sông qua mơ trở lại.




(3) Dịch: Biếc ngờ liễu rủ cô liêu. Hồng thương thẹn ngủ thiu thiu hải đường. Gió xuân xa chốn đài trang. Một mình đứng tựa lan can nguyệt tà.




(1) Năm 1876.




(2) Năm 1874.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 28.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
xem thêm »