tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20038796
Tiểu thuyết
22.03.2012
Henry Fielding
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1

CHƯƠNG VII


Một bức phác họa sơ sài về thứ hạnh phúc mà những cặp vợ chồng khôn ngoan có thể rút ra từ sự thù ghét; cùng một đôi lời ca ngợi những ai biết bỏ qua những khiếm khuyết cho bè bạn.


 


Viên đại úy đã đạt kết quả làm hại được bác Pact'rigiơ tội nghiệp, nhưng hắn vẫn chưa toại nguyện, vì chưa tống được thằng bé con nuôi ra khỏi nhà ông Oluơtdi.


Trái lại, càng ngày, ông càng tỏ ra âu yếm thằng bé Tommy hơn; dường như đối với người cha, ông đã nghiêm khắc thì đối với đứa con ông đặc biệt thương yêu, âu yếm để bù lại.


Điều này làm cho viên đại úy bực mình lắm, cũng như hắn bực mình với mọi cử chỉ hào hiệp hàng ngày của ông Oluơtdi; hắn coi những kẻ chỉ hào phóng ấy đang làm giảm bớt sự giàu có của chính hắn.


Chúng tôi đã nói rằng về chuyện này hắn không đồng ý với vợ, mà quả tình, hắn cũng không đồng ý với vợ về bất cứ chuyện gì khác. Nhiều người khôn ngoan nghĩ rằng một mối cảm tình dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau vẫn bền vững hơn là dựa trên cơ sở sắc đẹp, nhưng trường hợp này lại khác hẳn. Việc cặp vợ chồng này hiểu biết lẫn nhau lại chính là nguyên nhân của sự bất hòa; đó là một nguyên nhân gây ra những sự xích mích thỉnh thoảng vẫn thường xảy ra giữa hai người; cuối cùng, về phía người vợ, tình trạng ấy đưa đến một thái độ hết sức khinh miệt chồng, và về phía người chồng, một sự ghê tởm cao độ đối với vợ.


Vì cả hai người cùng phát huy tài năng trong việc nghiên cứu thần học là chủ yếu, cho nên từ khi mới biết nhau, đó cũng là đề tài phổ biến nhất họ đề cập đến những khi trò chuyện; trước khi cười, như một người nhã nhặn, viên đại úy bao giờ cũng chịu dẹp ý kiến riêng nhường bước cho cô tiểu thư, mà không phải là một cách vụng về như một anh chàng ngốc nghếch tự mãn, vì lịch sự, tuy rút lui ý kiến trước một người bề trên, nhưng vẫn cứ muốn tỏ cho người ta biết rằng mình phải. Trái lại, viên đại úy là người kiêu ngạo nhất đời, nhưng hắn vẫn hoàn toàn nhường sự thắng lợi cho đối phương, thành thử cô tiểu thư không hề ngờ vực tí gì về sự thành thực của hắn; bao giờ rời khỏi cuộc thảo luận, cô cũng có cảm tưởng khâm phục khiếu hiểu biết của chính mình và yêu mến khiếu hiểu biết của chàng.


Sự nhượng bộ này, như xảy ra đối với một người mà viên đại úy hoàn toàn khinh bỉ thì lại không khiến cho hắn bực mình lắm như đã có những trường hợp vì cần thiết mà phải tỏ thái độ phục tùng tương tự đối với một Hôtly( ) hoặc một tên tuổi lớn nao nào đó trong lĩnh vực khoa học, với hy vọng nhờ đó mà được thăng cấp thì ngay cả những trường hợp đó, nếu không có một động cơ nào thì hắn cũng khó lòng chịu nổi. Đã lấy nhau rồi thì mọi động cơ thuộc loại này không còn nữa, thành thử hắn chán ngấy vì cứ phải nhượng bộ, và bắt đầu bình phẩm ý kiến của vợ với một thái độ kiêu ngạo hỗn xược, mà chỉ có những kẻ đáng bị khinh bỉ mới biểu lộ ra, và chỉ có những người không đáng bị khinh bỉ mới chịu đựng nổi.


Dòng thác lũ đầu tiên của tình âu yếm đã qua, và trong khoảng thời gian lặng lẽ và đằng đẵng giữa nhưng cơn kịch phát, lý trí bắt đầu mở mắt cho cô tiểu thư; cô đã nhận thấy sự thay đổi trong cách cư xử của viên đại úy, vì trong một thời gian dài, hắn ta chỉ đáp lại mọi lý lẽ của vợ bằng những tiếng "Xì! Xịt". Cô không sao chịu đựng nổi thái độ miệt thị này một cách nhu mì ngoan ngoãn nữa. Quả thật, mới đầu, thấy thế, cô công phẫn quá đến nỗi có thể xảy ra chuyện bi đát rồi, nếu như câu chuyện không xoay ra một hướng bớt tai hại hơn nghĩa là nó khiến cho cô cảm thấy khinh bỉ hết sức khiếu hiểu biết của chồng, điều này cũng làm giảm bớt sự thù ghét chồng, tuy rằng thực ra trong sự thù ghét, cô cũng chỉ đi đến một mức độ phải chăng.


Sự thù ghét của viên đại úy đối với vợ thuộc loại thuần khiết hơn: hắn khinh vợ về mặt thiếu sót kiến thức hoặc thiếu hiểu biết cũng không hơn gì hắn khinh vợ vì vợ hắn cao không đủ thước rưỡi( ). Về quan niệm đối với giới phụ nữ, hắn còn cay độc hơn chính cả Arixtôt: hắn coi một người đàn bà cũng như một thứ gia súc trong nhà, đại khái chỉ đáng trọng hơn con mèo một chút, vì công việc của người đàn bà cũng có phần quan trọng hơn. Song, theo ý hắn, sự khác biệt giữa người đàn bà và con mèo ít lắm, đến mức trong cuộc hôn nhân giữa hắn và những của cải đất đai của ông Oluơtdi, hắn có thể chịu đèo thêm hoặc người đàn bà hoặc con mèo. Thói kiêu ngạo của hắn rất nhạy cảm, nên hắn cũng thấy rõ sự khinh bỉ vợ bắt đầu tỏ ra với hắn; lại thêm vốn đã chán ngấy về cái tình yêu của vợ, thành thử hắn đâm ra ghê tởm đến mức độ có lẽ không có gì vượt hơn được.


Trong hôn nhân chỉ có một tình trạng làm mất hết mọi vui thú, đó là thái độ lạnh nhạt vợ chồng đối với nhau; song vì tôi hy vọng rất nhiều bạn đọc đã biết việc đem lại vui thú cho người mình yêu dấu là một điều sung sướng thế nào, cho nên tôi cũng e rằng một số ít khác có thể cũng đã nếm qua sự thỏa mãn vì giày vò được kẻ mình thù ghét. Tôi cho rằng chính nhắm đạt được niềm vui thú độc ác vừa nói, mà cả nam giới lẫn nữ giới thường đã không được hưởng sự thoải mái êm ả trong hôn nhân mà, nếu không, họ có thể được hưởng, mặc dầu người bạn đời của họ không đến nỗi đáng ghét lắm đối với họ. Vì lý do đó, người vợ thường làm ra vẻ yêu đương hoặc ghen tuông; hơn thế, có khi còn chịu hy sinh bất cứ thú vui nào của riêng mình cốt để quấy rối hoặc ngăn cản thú vui của chồng; còn người chồng, để đáp lại, cũng luôn luôn tỏ ra tự kiềm chế mình để cứ ngồi nhà bên cạnh con người mà mình ghét thậm tệ, cốt trói buộc vợ vào một điều mà chính người vợ cũng ghét thậm tệ. Cũng vì thế mà có những người đàn bà góa đôi khi khóc lóc nước mắt chảy như mưa trên nắm xương tàn của người chồng, tuy trước kia hai người cả đời sống bên nhau chẳng mấy khi yên, và bây giờ mụ chẳng còn hy vọng giày vò chồng được nữa.


Nếu như đã bao giờ có cặp vợ chồng nào được nếm thử thú vui nói trên, thì cái thú vui đó, bây giờ chính viên đại úy cùng bà vợ đang được hưởng. Thường thường, chỉ cần một bên bày tỏ một ý đối lập, thế cũng đủ là một lý do để bên kia khăng khăng bảo vệ ý kiến của mình. Khi người này đưa ra một cách giải trí nào đó, bao giờ người kia cũng phản đối; không bao giờ họ cùng yêu hoặc cùng ghét, cùng ca tụng, hoặc cùng mạt sát một người. Vì lý do ấy, thấy viên đại úy nhìn thằng bé con nuôi với cặp mắt hằn học, bà vợ bèn bắt đầu nâng niu nó gần ngang với con đẻ.


Bạn đọc cũng dễ nhận thấy hai vợ chồng này ăn ở với nhau như thế đã chẳng giúp ích gì lắm cho sự thư thái của ông Oluơtdi; cách ăn ở ấy không hướng mấy tí về một hành phúc trong sáng, là điều ông định tâm xây dựng cho cả ba người từ cuộc hôn nhân này. Song sự thực là, có thể ông phần nào thất vọng vì không đạt được những điều mong đợi lạc quan, thật đấy, nhưng ông cũng còn xa mới nắm được hết sự tình; vì viên đại úy hết sức giữ ý trước mặt ông, vì một số lý do dễ hiểu, còn bà vợ sợ phật ý anh trai, cũng bắt buộc phải cư xử như vậy. Trong thực tế, rất có thể có, một người thứ ba rất thân, thậm chí sống chung một nhà khá lâu với một cặp vợ chồng tính tình tương đối kín đáo, mà không thấy được họ đối với nhau có chuyện bất hòa; vì đôi khi thời gian suốt một ngày là quá ngắn đối với sự thù ghét cũng như đối với tình yêu, nhưng đối với những người tính tình tương đối biết giữ mức độ thì những giờ họ sống với nhau không bị ai quan sát cũng tạo điều kiện rộng rãi cho họ hưởng thụ một trong hai thứ tình cảm mãnh liệt nói trên, đủ để trước mặt khách khứa, họ có thể nhịn trong ít giờ không đùa nghịch nhau nếu họ yêu nhau, hoặc không nhổ vào mặt nhau nếu họ ghét nhau.


Tuy nhiên, cũng có thể ông Oluơtdi đã thấy khá rõ để cảm thấy ít nhiều khó chịu; vì không phải hễ thấy một người khôn ngoan không khóc lóc than thở như những kẻ tính khí trẻ con đàn bà, là chúng ta kết luận được người ấy không bị tổn thương. Nhưng có thể ông Oluơtdi cũng nhìn thấy một vài thiếu sót của viên đại úy mà không hề cảm thấy bực mình tí nào; xưa nay, những người thực sự khôn ngoan và tốt bụng vẫn ưng chấp nhận người và việc như trong thực tế, không phàn nàn vì thấy họ có khuyết điểm, mà cũng chẳng tính đến chuyện sửa chữa. Họ có thể nhìn thấy lỗi lầm ở một người bạn, một người bà con, một người quen mà không bao giờ nói điều ấy ra với chính những người này hoặc với người khác; và thường thường, không hề vì thế mà họ giảm bớt thiện cảm. Nếu con mắt sáng suốt của ta mà không được tính tình độ lượng kiềm chế, thì bao giờ việc kết bạn với nhau cũng chỉ là một sự điên rồ tột mức; tôi hy vọng sẽ được bè bạn tha thứ khi tôi nói rằng không một người nào trong bọn họ không có khuyết điểm, và tôi cũng sẽ buồn nếu hình dung được rằng tôi có một ông bạn nào đó không thể nhìn thấy khuyết điểm của tôi. Đức khoan dung thuộc loại này, chúng ta lần lượt vẫn ban phát và đòi hỏi. Đó là một cách rèn luyện tình bạn, và có lẽ không phải là không thú vị. Và chúng ta cần tỏ thái độ khoan dung ấy mà không đòi người ta phải sửa đổi... Có lẽ không có dấu hiệu nào về sự điên rồ chắc chắn hơn là cái ý định sửa chữa những khiếm khuyết bẩm sinh của những người mà ta yêu mến. Một bản tính con người được tạo thành đẹp đẽ nhất, cũng như một thứ đồ sứ đẹp nhất, đều có thể có vết; và tôi e rằng trong cả hai trường hợp đều không có cách nào sửa chữa; tuy vậy mà cả hai vẫn cứ được coi là có giá trị rất cao. Nhìn chung mà nói, chắc chắn ông Oluơtdi có thấy một vài thiếu sót nào đó ở viên đại úy; song vì hắn là một tay cực kỳ khéo léo, và trước mặt ông, bao giờ hắn cũng giữ gìn thận trọng, nên ông cũng coi những thiếu sót ấy chỉ là những vết nhỏ trên một tâm hồn tốt đẹp, mà vì lòng tốt, ông bỏ qua, cũng như vì khôn ngoan, ông không hé lộ ra cho chính hắn ta biết. Giả thử ông khám phá được tất cả thì thái độ của ông sẽ khác nhiều; có lẽ điều ấy lâu dần ắt phải xảy ra, nếu như hai vợ chồng viên đại úy cứ tiếp tục đối xử với nhau như vậy mãi; song, số mệnh may mắn đã tiến hành những biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa điều ấy, bằng cách buộc viên đại úy phải làm cái việc khiến cho hắn lại đáng yêu đối với vợ, và phục hồi được toàn bộ tình thương yêu của vợ hắn.


 


CHƯƠNG VIII


Một phương thuốc để lấy lại tình yêu thương đã mất của một người vợ; phương thuốc này chưa hề bao giờ tỏ ra không hiệu nghiệm ngay trong những trường hợp tuyệt vọng nhất.


 


Để bù lại những giờ phút khó chịu phải trò chuyện với vợ, (viên đại úy cũng hết sức hạn chế số giờ phút này đến mức tối thiểu), mỗi khi ngồi một mình, hắn theo đuổi những suy tưởng thú vị.


Những suy tưởng ấy hoàn toàn hướng về tài sản của ông Oluơtdi. Đầu tiên, hắn để rất nhiều tâm trí vào việc cố sức tính toán giá trị chính xác của toàn bộ tài sản; hắn luôn luôn tìm cơ hội sửa đổi cách tính toán có lợi cho mình; sau đó, và chủ yếu, hắn lấy làm thú vị tưởng tượng sẵn những việc tu bổ trong nhà cũng như ngoài vườn, đồng thời dự kiến nhiều kế hoạch khác nhằm gia tăng số tài sản cũng như vẻ nguy nga của nơi ở này. Nhằm mục đích ấy, hắn bắt tay vào nghiên cứu khoa kiến trúc và khoa làm vườn, đọc khác nhiều sách viết về cả hai vấn đề; quả thực, hai môn học này đã chiếm toàn bộ thì giờ và là nguồn giải trí duy nhất của hắn. Cuối cùng, hắn hoàn chỉnh được một kế hoạch tuyệt vời, chúng tôi rất lấy làm tiếc không đủ sức trình bày với độc giả vì tôi tin rằng ngay một công trình huy hoàng hiện đại cũng khó mà sánh được với kế hoạch ấy. Nó có ở mức độ cao nhất hai nhân tố chính cần thiết cho mọi dự kiến cao cả lớn lao thuộc loại này: bởi vì nó đòi hỏi một sự chi tiết không hạn chế để thực hiện, và một thời gian rất dài để tu chỉnh đến một mức hoàn thiện nào đó. Viên đại úy tính sản nghiệp của ông Oluơtdi giàu vô hạn, yên trí thế nào hắn cũng được hưởng; điều này có thể đảm bảo một cách hiệu quả cho nhân tố thứ nhất; còn nhân tố thứ hai thì với thể chất vững vàng như thế, lại mới ngần ấy tuổi, đang trong thời kỳ gọi là tuổi trung niên, hắn không phải lo không sống lâu để thực hiện.


Chỉ cần ông Oluơtdi chết đi là hắn có điều kiện để tiến hành thực hiện ngay lập tức kế hoạch này; trong khi tính toán kế hoạch hắn đã sử dụng nhiều đến kiến trúc riêng về đại số; ngoài ra, hắn còn mua hết thảy mọi thứ sách hiện có bná viết về vấn đề giá trị của việc bảo hiểm nhân mạng và vấn đề chuyển quyền sở hữu v.v... Từ những việc đó, hắn thỏa mãn với ý nghĩ rằng nếu như khả năng ông bị chết có thể xảy ra bất kỳ ngày nào thì hắn còn có nhiều hy vọng hơn là nó sẽ xảy ra trong khoảng ít năm nữa.


Nhưng một hôm, trong khi viên đại úy đang bận đắm mình theo đuổi những suy tưởng thuộc loại này thì bỗng xảy ra cho hắn một việc ngẫu nhiên bất hạnh nhất, cũng như không đúng lúc nhất. Quả thực số mệnh oái oăm không thể nghĩ ra được một thủ đoạn nào độc địa hơn, trái khoáy hơn, để phá hoại toàn bộ kế hoạch của hắn. Tóm lại, để bạn đọc khỏi đợi lâu, xin nói là đúng lúc hắn đang phởn chí, mơ tưởng chuyện hạnh phúc lọt vào tay hắn do cái chết của ông Oluơtdi thì chính hắn lại... bị thần chết lôi đi vì chứng xung huyết não.


Không may, việc này xảy ra khi hắn đang dạo chơi buổi tối một mình, thành thử chẳng có ai ở đó để cứu chữa - nếu quả thực có cách cứu chữa nào đó khiến cho hắn thoát chết. Thế là hắn đo ngay cái mảnh đất bây giờ đã trở thành thích hợp với mọi dự định của hắn trong tương lai; và hắn nằm chết cứng trên mặt đất, một thí dụ lớn lao (tuy không phải là một thí dụ sống) về chân lý bao hàm trong nhận xét sau đây của Oluơtdi:


Tu secanda marmora


Lacas sub ipsum funus: et sepulchri


Immemor, struis domos


Chúng tôi xin truyền đạt lại đại ý như sau: "Ngài chuẩn bị những vật liệu huy hoàng nhất để xây lâu đài, trong khi chỉ cần một cái cuốc chim và một cái xẻng; và xây những tòa nhà dài năm trăm bộ, rộng một trăm bộ, mà quên mất căn nhà sáu bộ trên hài".


 


CHƯƠNG IX


Một bằng chứng xác nhận công hiệu của phương thuốc nói trên, trong lời khóc than của bà vợ góa; cùng những vật trang trí thích hợp với cái chết, thí dụ các ông thầy thuốc v.v... và một bài văn bia trên một tấm mộ chí chân chính.


 


Đúng như thường lệ, ông Oluơtdi, cô em gái, và một bà khách đã tề tựu trong phòng ăn; họ đợi khá lâu so với thường ngày. Thoạt tiên, ông Oluơtdi nói ông thấy lo ngại về sự chậm trễ của ông đại úy (vì trước kia, bao giờ ông đại úy cũng đến ăn hết sức đúng giờ). Ông ra lệnh rung chuông gọi ngoài vườn, đặc biệt là về phía những lối viên đại úy vẫn quen đi dạo.


Chuông gọi mấy lần đều vô hiệu (vì một sự ngẫu nhiên oái oăm, tối hôm đó viên đại úy lại đi dạo trên một lối đi mới). Bà Blifin tỏ ý lo ngại lắm. Nghe vậy, bà khách, một người bạn hết sức thân thiết vốn hiểu rõ tình cảm thực của bà Blifin đối với chồng, bèn cố gắng an ủi cho bà yên tâm; bà ta bảo tất nhiên là không thể không lo ngại, nhưng bà cần phải hy vọng là không xảy ra chuyện gì. Có lẽ nhân tối hôm nay đẹp trời, ông đại úy cao hứng đi chơi xa hơn thường lệ, hoặc có thể là một ông bạn láng giềng nào đó mời ở lại chăng. Bà Blifin đáp: Không. Bà chắc chắn chồng bà đã gặp một tai nạn nào đó, vì không bao giờ ông nán ở lại đâu mà không báo tin cho bà rõ, vì ông ấy biết rõ nếu không tin cho bà biết bà sẽ hết sức lo lắng. Bà khách không còn lý lẽ nào khác, đành dùng những lời khuyên nhủ thông thường trong những trường hợp tương tự; bà xin bà Blifin chớ có hãi hùng để khỏi ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe; và rót một cốc rượu vang thật to rồi khuyên nhủ, và cuối cùng nài được bà Blifin uống.


Lúc này ông Oluơtdi trở lại phòng khách; ông vừa mới đich thân đi tìm viên đại úy. Nom vẻ mặt đủ thấy ông đang sửng sốt, và quả thật, ông không nói được nên lời. Song, bởi lẽ sự lo buồn tác động đến những tâm hồn khác nhau theo nhiều cách khác nhau thành ra cũng một nỗi băn khoăn đã khiến cho ông Oluơtdi nói nhỏ đi thì lại làm cho bà Blifin gào to lên. Lúc này bà mới òa lên khóc thảm thiết, kèm theo những dòng nước mắt đầm đìa. Bà bạn tìm cách an ủi, nói bà than khóc như vậy cũng là phải, nhưng bà không nên khóc lóc quá; để làm giảm bớt nỗi sầu muộn của bà, bà bạn đưa ra những nhận xét triết lý về những sự thất vọng hàng ngày con người ta thường gặp phải; bà bảo, cứ nghĩ thế cũng đủ cho ta trấn tĩnh được tinh thần trước mọi tai họa, dầu đột ngột và khủng khiếp thế nào đi nữa. Bà khuyên bà Blifin hãy nên xem ông anh trai như một gương mẫu về sự bình tĩnh: dẫu không thể cho rằng cái chết của ông đại úy đã khiến ông đau đớn nhiều như bà, song rõ ràng ông cũng lo lắng lắm chứ, có điều ông biết đành phục tùng mệnh trời, nên đã kìm giữ được nỗi đau buồn ở một mức độ vừa phải.


Bà Blifin đáp:


- Chị đừng kể đến ông anh tôi. Chỉ mình tôi mới đáng để chị thương. Những nỗi kinh hoàng do tình bạn gây nên có là bao so với nỗi xúc động của một người vợ trong trường hợp này? Ôi, anh ấy không còn nữa! Có kẻ nào đã giết anh ấy! Tôi không còn bao giờ được nhìn thấy anh ấy nữa. Đến đây, nước mắt bà trào ra, dòng suối nước mắt có tác dụng tương tự như lúc ông Oluơtdi nén mình nghẹn ngào, và bà yên lặng.


Vừa lúc ấy, một gia nhân chạy vào, thở không ra hơi, kêu lên "Tìm thấy ngài đại úy rồi"; anh ta mới nói được có thế, đã thấy hai gia nhân khác khiêng xác ông đại úy bước vào.


Đến đây, bạn đọc tò mò có thể quan sát một biểu hiện khác, trong cách tác động của nỗi đau buồn. Từ nãy, ông Oluơtdi vẫn yên lặng trước cùng một nguyên nhân đã khiến cho em gái ông khóc lóc thảm thiết; lúc này, cảnh tượng khiến ông trào nước mắt thì mắt bà em cạn ráo, thoạt đầu bà thét lên một tiếng dữ dội, rồi lập tức ngã lăn ra bất tỉnh.


Thế là căn phòng đầy chật ních gia nhân; vài người cùng bà khách lo săn sóc bà vợ ông đại úy; mấy người khác cùng ông Oluơtdi khiêng ông ta đặt lên một cái giường ấm áp rồi dùng đủ mọi phương pháp để cố cứu chữa.


Giả sử chúng tôi có thể báo tin cho bạn đọc hay rằng cả hai vợ chồng viên đại úy cùng được săn sóc có kết quả như nhau thì chúng tôi cũng hết sức vui vẻ. Những người lo chăm sóc cho bà vợ đã đạt kết quả rất tốt: sau khi bị ngất đi một lúc lâu bà Blifin tỉnh dần lại, mọi người hết sức vui mừng; còn với viên đại úy, mọi biện pháp như trích huyết, chà xát, nhỏ thuốc... đều vô hiệu. Thần chết, vị quan tòa khắc nghiệt đã tuyên án, từ chối không ân xá cho hắn, mặc dầu hội đồng của thần có hai ông thầy thuốc tham dự, hai ông này vừa được mời đến đã lập tức được trả tiền công ngay. Hai vị thầy thuốc, chúng tôi xin gọi là bác sĩ Y và bác sĩ Z, để tránh những sự xuyên tác xấu bụng. Hai ông bắt đầu xem mạch. Bác sĩ Y xem tay phải, bác sĩ Z xem tay trái của bệnh nhân, cả hai đều thừa nhận bệnh nhân đã chết thật rồi; song về căn bệnh, tức là nguyên nhân gây ra cái chết, thì hai ông mâu thuẫn với nhau; bác sĩ Y cho rằng ông đại úy chết vì bị xung huyết não, còn bác sĩ Z cho là do trúng phong.


Thế là nổi lên cuộc tranh cãi om sòm giữa hai nhà thông thái; vị nào cũng viện ra lý lẽ để bênh vực ý kiến của mình. Những lý lẽ đều có sức thuyết phục ngang nhau, thành thử đều có tác dụng củng cố quan niệm của mỗi bên và không hề gây được chút xíu ấn tượng gì cho đối phương.


Nói đúng sự thật thì hầu như mỗi ông thầy thuốc lại có một thứ bệnh hợp với sở thích của mình, để gán cho nó là nguyên nhân của mọi sự đánh bại bản chất con người. Bệnh thống phong, bệnh thấp cốt, bệnh thạch lâm, bệnh sỏi thận, bệnh ho lao, mỗi bệnh đều có một vị chủ trì của nó trong viện y khoa, cũng như các chứng sốt kinh giật. Ở đây, chúng tôi có thể giải thích được những sự bất đồng về nguyên nhân gây ra cái chết của một con bệnh, đôi khi vẫn xảy ra giữa những vị giáo sư thông thái nhất trong đại học đường, những sự bất đồng ý kiến vẫn làm cho người không biết đến chuyện tôi kể ở trên rất lấy làm ngạc nhiên.


Có nhẽ bạn đọc lấy làm lạ vì đáng lý phải cố gắng cứu sống nạn nhân thì hai vị học giả lại đi tranh luận về nguyên nhân gây ra cái chết của hắn, nhưng thực ra, trước khi các vị đến, người ta đã dùng hết mọi biện pháp rồi: viên đại úy đã được đặt lên giường ấm áp, người ta đã trích máu, đã chà xát trán, và đã nhỏ đủ các thứ thuốc hồi sinh vào lỗ mũi và mồm.


Thành thử, giờ đây hai vị thầy thuốc có giở cách gì ra cũng thấy người ta đã làm trước rồi; hai ngài bối rối quá, không biết sử dụng vào việc gì cái khoảng thời gian thông thường cần nán lại để chờ được trả tiền công, bởi thế, họ phải kiếm một vấn đề nào đó để bàn cãi với nhau, mà còn có chuyện nào khác hợp cảnh hơn là công việc vừa nói trên? Hai vị bác sĩ của chúng ta sắp sửa cáo lui thì được ông Oluơtdi yêu cầu họ thăm bệnh cho bà Blifin trước khi ra về. Lúc này, ông đành thuận theo ý muốn của Chúa từ bỏ việc cứu chữa cho viên đại úy, và quay sang hỏi han đến cô em gái.


Bà Blifin đã hồi tỉnh và, theo cách nói thông thường thì trong hoàn cảnh của bà, tình trạng như thế là rất khả quan. Mọi nghi lễ mào đầu xong xuôi, vì đây là một con bệnh mới, hai vị bác sĩ bèn theo lời yêu cầu ngồi vào coi bệnh, mỗi vị nắm một tay bệnh nhân để xem mạch, như với xác chết lúc nãy.


Bệnh trạng của bà vợ hoàn toàn mâu thuẫn với bệnh trạng của ông chồng. Bệnh của chồng bà vượt quá khả năng cứu chữa của y học, còn bệnh của bà thực ra chẳng cần chữa chạy gì hết. Thông thường, người đời vẫn cho rằng thầy thuốc là bạn của thần chết. Thật không gì bất công hơn. Trái lại, tôi tin nếu có thể đem số người được y học chữa cho lành bệnh so với số người chết vì y học, thì loại người thứ nhất vẫn nhiều hơn loại người thứ hai. Một số người đã quá thận trọng về vấn đề này, để khỏi giết chết người bệnh, họ đã không chịu dùng bất cứ một phương pháp điều trị nào, và chỉ kê cho những thứ thuốc vô thưởng vô phạt. Tôi đã từng được nghe một vài vị thuộc loại này hết sức trịnh trọng phát biểu câu nói sau, coi như một châm ngôn: "Cần để mặc cho tự nhiên tiến hành công việc, thầy thuốc có thể chỉ đứng bên đề vỗ vào lưng tự nhiên, và khuyến khích nó mỗi khi nó làm tốt".


Vậy thì hai vị bác sĩ của chúng ta không ưa cái chết lắm, cho nên nhận tiền công xong là họ từ biệt thây ma ngay; nhưng đối với bệnh nhân còn sống, các ngài lại không ghê tởm như vậy; hai vị đã lập tức đồng ý với nhau về căn bệnh, và ra sức kê đơn một cách rất hăng hái.


Chẳng rõ có phải vì thoạt tiên bà Blifin đã làm cho hai ông thầy thuốc tin rằng bà ốm, nên ngược lại, bây giờ có phải hai vị lại làm cho bà tin rằng mình đang ốm hay không, tôi không dám cả quyết; có điều trọn một tháng trời, bà ta có đủ mọi thứ trang trí của bệnh tật. Trong thời gian này, bà được các thầy thuốc đến thăm bệnh, được người nhà chăm sóc, và liên tiếp nhận được thư của bà con quen thuộc gửi đến hỏi thăm sức khỏe.


Cuối cùng, khoảng thời gian vừa phải dành cho bệnh tật và sự đau buồn vô độ đã hết, các ông bác sĩ thôi không được mời đến nữa, và bà Blifin lại bắt đầu tiếp khách. So với trước, bà chỉ thay đổi ở chỗ có khoác lên dáng điệu và vẻ mặt của mình một màu sắc u buồn.


Bây giờ viên đại úy đã được chôn cất rồi và có lẽ cũng đã đi khá sâu vào sự quên lãng nếu như ông Oluơtdi không vì tình bạn mà lo việc lưu lại chút kỷ niệm về hắn, bằng bài văn bia sau đây; bài văn do một người công minh và có tài, lại hiểu biết viên đại úy rất rõ, thảo ra:


"Tại đây an nghỉ thi hài của đại úy Jôn Blifin,


trong khi chờ đợi một cuộc tái sinh tốt đẹp.


Thành Luân Đôn có vinh dự là nơi đại úy sinh ra,


Đại học đường Ocfơt có vinh dự là nơi đại úy thụ hưởng giáo dục.


Tài năng của đại úy là một vinh dự cho nghề quân nhân và cho xứ sở.


Cuộc đời của đại úy là một vinh dự của tôn giáo và bản tính loài người.


Đại úy là một người con chí hiếu,


một người chồng dịu dàng, một người cha nhân hậu,


một người bạn trung thực,


một tín đồ Cơ Đốc giáo mộ đạo và một con người tốt.


Tấm bia này, do người vợ đau đớn không nguôi của đại úy dựng lên, để ghi nhớ những đức tính của đại úy và tình yêu thương của bà".


 


(còn tiếp)


Nguồn: TOM JONES Đứa trẻ vô thừa nhận. Tiểu thuyết của HENRY FIELDING, 2 tập, 1000 trang. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING của HENRY FIELDING. Nhà xuất bản MAC DONALD, Luân Đôn, 1935. Tái bản theo bản in năm 1983 của NXB Văn học.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »