tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18928405
14.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (5)

II. Dấu ấn ngữ pháp Việt trong thư tịch cổ Trung Hoa.


 Nếu tiếng Việt là bộ phận cấu thành ngôn ngữ Trung Hoa, thì theo luật biện chứng, tất phải có những vết tích của ngôn ngữ Việt trong thư tịch Trung Hoa.


 Ngôn ngữ gồm hai bộ phận hợp thành là từ vựng và ngữ pháp. Từ vựng là sinh ngữ nên chịu biến đổi theo thời gian và sự giao lưu giữa các tộc người trong không gian. Vì vậy việc truy tìm nguồn gốc của một từ là không dễ dàng. Với ngôn ngữ nói chung đã vậy mà riêng trong quan hệ ngôn ngữ Hán- Việt lại càng phức tạp hơn. Đi theo hướng này, chúng ta gặp những từ như Thần Nông, Nữ Oa, Đế Minh, Đế Lai, Đế Du Võng, Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn... Không thể chối cãi được đó là những tên Việt. Nhưng vì lý do nào những danh từ riêng đó tồn tại trong ngôn ngữ Trung Hoa là điều bí ẩn. Tham vọng tìm ra những từ thuần Việt thường vấp phải sức phản kháng rất lớn. Ít năm trước có tác giả cho rằng một số địa danh vùng đất Phú Thọ như Kẻ, Mơ… là những từ gốc Việt. Nhưng giả thuyết vừa ra đời liền bị phản bác. Người ta đưa ra những cuốn sách vĩ đại như Từ Hải, Khang Hy tự điển, Tứ khố toàn thư… để chứng minh rằng “kẻ” cũng là từ gốc Hán, là những từ “cái”, “giới”, “giái” của Hán ngữ được người Việt mượn. Khi nhập tịch Việt Nam, nó được Việt hoá thành “kẻ”. Tương tự như vậy, “mơ” cũng là con đẻ của “mai” tiếng Tàu! Một vài từ xem chừng có vẻ Việt nhất thì cũng “Trăm phần trăm Hán, đều Made in China!” Trong con mắt những học giả này, dân Việt chỉ là đám Hán lai, văn hóa Việt nghèo nàn, chỉ là sự học mót người Hán chưa đến đầu đến đũa! Bất cứ những gì cả Hán lẫn Việt cùng có thì chỉ là Việt học Hán! Đáng buồn là giới khoa bảng Việt chưa ai cãi nổi họ. Giáo sư Cao Xuân Hạo kể rằng: “Ông Vượng (Trần Quốc) nói với tôi: biết rõ Huệ Thiên nói bậy mà không có cách nào bác ông ta được!” Thật đáng thương cho tiếng Việt!


 Không đủ tài trí để tìm những từ thuần Việt, chúng tôi đi theo hướng khác: tìm dấu vết ngữ pháp Việt trong Hán ngữ. Tới đây một câu hỏi nảy sinh: cái gì là đặc trưng nhất cho ngữ pháp tiếng Việt? Dựa vào luật “Chính trước phụ sau” của nhà ngữ học người Pháp Léopold Cadiere với nội dung: “Trong một câu đơn, các từ ngữ nối tiếp nhau theo một trật tự như thế nào mà mỗi từ đi sau làm rõ ý nghĩa của từ đi trước hay của một trong những từ đi trước», giáo sư Cao Xuân Hạo đưa ra nhận định: «Nhìn chung, tiếng Việt rất nhất quán trong cách xử lý trật tự từ ngữ (chính trước, phụ sau, nhất là khi so với tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán, trong đó không thể có một nhận định tổng quát nào về trật tự từ ngữ.) Trong tiếng Việt, những từ ngữ Hán-Việt làm thành một trường hợp lệ ngoại nổi bật đến mức người không có học bao nhiêu cũng biết đó là một trật tự “ngược”, nếu không kể những trường hợp lệ ngoại như những tổ hợp [vị từ tình thái+ ngữ vị từ] như các kết cấu mở đầu bằng bất hay vô vốn được xử lý như mọi tổ hợp [vị từ+ bổ ngữ] khác (chính trước phụ sau). Tuy vậy cũng không hiếm những kết cấu sai ngữ pháp Hán nhưng đã trở thành vốn văn học dân gian như cách nhại tiếng kêu của con đa đa (gà gô) là “Bất thực cốc Chu gia” (không thèm ăn lúa nhà Chu) được gán cho Bá Di và Thúc Tề (lẽ ra phải là Bất thực Chu gia cốc mới đúng ngữ pháp tiếng Hán)1.”


 Từ luật “chính trước phụ sau” nêu trên, soi vào những thư tịch Hán văn, ta dễ dàng bắt gặp cấu trúc ngữ pháp dạng Trung + danh từ như “trung tâm” (trong lòng), “trung đình” (trong sân): Trung tâm rạng rạng, Trung tâm dao dao, Trung cấu chi ngôn (kinh Thi); thứ nhị, thứ tam (kinh Thư); bệ thăng thiên, thần thọ (thần cây) ở Lục độ tập kinh. Trong những kết cấu trên, đúng là trật tự chính trước phụ sau được tuân thủ. Rõ ràng đó không phải là cấu trúc cú pháp Hán mà là cấu trúc cú pháp Việt. Nếu chỉ có một vài trường hợp trong một cuốn sách nào đó thì là chuyện ngẫu nhiên. Nhưng sự việc trở thành không bình thường khi phát hiện hàng loạt trường hợp tương tự trong nhiều thư tịch:


Kinh Thi (2):


- Túc túc thỏ ta, thi vu trung lâm (Thỏ ta: trong rừng)


- Hước lãng tiếu ngạo, trung tâm thị niệu (Chung phong: trong lòng áy náy)


- Hồ vi hồ trung lộ (Thức vi: trong sương)


- Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy)


- Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn)


- Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)


- Trung tâm dao dao (thử ly: trong lòng nao nao)


- Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)


- Trung cấu chi ngôn (Tường hữu từ: lời nói trong buồng kín)


 Những "hòn sạn" chữ nghĩa kia nói lên điều gì? Phải chăng là sự vô tình? Phải chăng là những người biên tập, san định, chú giải Thi vì "dốt" nên không thấy cái "sai" ấy? Mấy nghìn năm nay chưa ai giải thích điều này. Vì sao qua hàng nghìn năm phấn đấu xa đồng quỹ, thư đồng văn, qua biết bao lần nhuận sắc, chú giải, những đại nho Hán tộc không sửa chữa, không lượm đi những "hạt sạn"? Ðúng là chữ nghĩa thời kinh Thi chưa ổn định và có khác thời Hán thời Ðường. Nhưng thử hỏi, nguyên nhân của sự không ổn định ấy là gì? Theo thiển ý, ở chính trong lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngôn ngữ thời kinh Thi nằm trên đường chuyển hóa từ cách nói của người Việt sang cách nói của người Hán.


Không chỉ ở Thi mà chúng tôi gặp trong Kinh Thư3:


1. Thiên Vũ Cống câu 31: Hàm tắc tam nhưỡng, thành phú trung bang. (thuế ruộng chỉ lập thành ở trong nước- tại chính nước của thiên tử mà thôi)


2. Thiên Hồng Phạm câu 4: Sơ nhất viết ngũ hành. Thứ nhị viết: kính dụng ngũ sự. Thứ tam viết: nông dụng bát chính. Thứ tứ viết: hiệp dụng ngũ kỷ. Thứ ngũ viết: kiến dụng hoàng cực. Thứ lục viết: nghệ dụng tam đức. Thứ thất viết: minh dụng kê nghi. Thứ bát viết: niệm dung thứ trưng. Thứ cửu viết: hướng dụng ngũ phúc.


 (Trù thứ nhất gọi là ngũ hành. Trù thứ hai gọi là kinh dùng năm việc. Trù thứ ba là, trù thứ tư là…)


 Đây là lần duy nhất trong kinh Thư có cấu trúc “thứ nhị, thứ tam” theo cách nói của người Việt. Ở các thiên sau được viết “nhất viết, nhị viết” theo cách nói của người Hán.


3. Thiên Tử Tài câu 6: hoàng thiên ký phó trung quốc dân, việt quyết cương thổ vu tiên vương. (Vì rằng trời đã trao cho đấng tiên vương nhân dân bờ cõi đất đai trong nước.)


4. Thiên Thiệu Cáo câu 14: Kỳ tự thời trung nghệ. Vương quyết hữu thành mệnh (Có thể ở giữa nước cai trị nhân dân. Như thế nhà vua sẽ trọn vẹn được mệnh trời, nay được tốt đẹp cả.)


5. Thiên Lạc Cáo câu 23 Viết: kỳ tự thời trung nghệ, vạn ban ham hưu (nhà vua ở trung tâm cả nước trị dân, muôn nước nhỏ đều được tốt đẹp.)


6. Thiên Vô Dật câu 11: Văn Vương thụ mệnh duy trung thân, quyết hưởng quốc ngũ thập niên (Vua Văn Vương chịu mệnh làm vua chư hầu suốt đời, cả thảy 50 năm.)


Kinh Dịch4:


1. Khổng tử có câu: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân” (Thánh nhân xem người thiên hạ như người một nhà, xem người trong nước như người thân của mình.) Trang 64.


2. Đắc thượng vu trung hàng (vào trong hàng ngũ có nghĩa theo đúng đạo.) Trang 216.


3. Tượng viết, phiên phiên bất phú, giai thất thực dã, bất giới dĩ phú, trung tâm nguyện dã (trong lòng đã muốn sẵn vậy) Trang 221.


4. Tượng viết, trung hành độc phục (đi giữa bầy ác mà một mình theo đạo thiện nhân.) Trang 376


5/ Tượng viết, trung hành độc phục, dĩ tòng đạo dã. Trang 377


6. Lục nhị, vô duy tụy, tại trung quỵ, trinh cát (con dâu con gái không trách nhiệm, lo việc trong nhà, tốt.) Trang 539.


7. Tương việt, kỳ tử họa chi, trung tâm nguyện dã (nghe tiếng gáy mà họa ngay tại trong lòng muốn vậy) trang 825


8. Trung tâm nghi giả, kỳ từ chi (trong lòng nghi ngờ, lời nói không chắc chắn) Trang 929


 Rất may mắn, trong cuộc truy tìm của mình, chúng tôi được sự trợ lực quý báu của học giả Lê Mạnh Thát:


 “Ngoài Kinh thi, Lễ ký cũng bốn lần xử dụng cụm “trung tâm”. Một lần ở thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 54 tờ 12a3-4, dẫn đoạn ba của bài Thấp tang của Kinh thi: (Mao thi chính nghĩa 15/2 tờ 7a12). 


Tâm hồ ái hỉ 


Hà bất vị hỉ 


Trung tâm tạng chi 


Hà nhật vong chi. 


 Ba lần kia ở thiên Lễ vận và thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 22 tờ 10a7 và tờ 4a7 và tờ 5a1 “trung tâm vô vi”, “trung tâm thảm đát” và “trung tâm an nhân giả, thiên hạ nhất nhân nhi dĩ hỹ”. Trong cả ba lần này, Trịnh Huyền không có giải thích gì thêm, còn Khổng Dĩnh Đạt vẫn giữ nguyên khi viết lời sớ của mình. Tuy nhiên, không phải Lễ ký không biết đến lối viết tiêu chuẩn “tâm trung”. Cụ thể là thiên Nhạc ký của Lễ ký chính nghĩa tờ 9b10. “Tâm trung tư tu, bất hòa bất lạc”. Đặc biệt hơn nữa, khi giải thích chữ “trung” trong câu “lễ nhạc giao thố ư trung, phát hình ư ngoại” của thiên Văn vương thế tử của Lễ ký chính nghĩa 20 tờ 7b13-8a1, Trịnh Huyền đã viết: “Tâm, trung tâm giả”. Như thế rõ ràng đến thế kỷ thứ II sdl, qui định về vị trí của chữ "trung" đối với các danh từ và đại từ được tuân thủ. 


Thực vậy, kiểm soát toàn bộ văn liệu tiếng Trung Quốc từ thế kỷ thứ nhất sdl đến thời Khổng Dĩnh Đạt viết Mao thi chính nghĩa và Lễ ký chính nghĩa vào năm 638, ta thấy cụm “trung tâm” rất ít khi dùng tới. Trong ba thế kỷ từ thế kỷ thứ I- III ngoài Dương Hùng, ta chỉ gặp ba lần dùng cụm “trung tâm”. Một là trong lá thư của Phùng Diễn (k.1-65) do Lý Hiền dẫn trong truyện của Diễn ở Hậu Hán thư 58 hạ tờ 14a4-6 viết cho Tuyên Mạnh: “Cư thất chi nghĩa, nhân chi đại luận, tư hậu hòa chi tiết, lạc định kim thạch chi cố. Hựu tư thương tiền tào bất lương, tỷ hữu khử lương phụ chi danh, sự thành bất đắc bất nhiên, khởi trung tâm chi sở hảo tại!” Hai là trong tờ chiếu cải cách lịch của Hán Chương đế viết tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ 2 (86) trong Hậu Hán thư 12 tờ 2a5, ta có câu “trung tâm nục yên”. Ba là ngày Đinh Hợi tháng giêng năm Cảnh Sơ thứ 3 (240) Minh đế Tào Duệ băng hà, Tề vương Tào Phương lên ngôi. Tháng 2, Tào Sảng nhằm giảm bớt quyền hành của Tư Mã Ý, đã sai em là Tào Hy viết biểu đề nghị phong Ý từ thái úy lên thái phó. Bài biểu này chép trong Ngụy thư, mà Bùi Tùng Chi cho dẫn trong Ngụy chí 9 tờ 13a12, trong đó có câu “trung tâm quí dịch”. 


Hà Yến và Đặng Dương cùng nhóm với Tào Sảng. Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển trung tờ 30b11-13 chép việc Yến và Dương nhờ Quản Lạc xủ quẻ. Xủ xong, Lạc dặn phải cẩn thận. Yến lại dẫn 2 câu cuối của bài thơ Thấp tang 


Trung tâm tạng chi 


Hà nhã vong chi 


để trả lời. Hai câu này, Tôn Tú cũng dùng đễ trả lời Phan Nhạc về mối hận với Thạch Sùng, như Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển hạ tờ 38a8 đã ghi. 


Đến thế kỷ thứ IV, Thế thuyết tân ngữ phần thượng của quyển hạ tờ 9a2-7 chép Chi Tuần (352- 404), sau khi người bạn đạo của mình là Pháp Kiên tịch, đã nói: “Tri kỷ đã mất, nói ra không ai thưởng thức, trong lòng dồn nén, ta cũng mất thôi”. Câu “trong lòng dồn nén” là dịch cụm “trung tâm uẩn kết”, mà sau khi viết truyện của Tuần trong Cao tăng truyện 4 ĐTK 2059 tờ 349c15-167, Huệ Hạo đã ghi lại và là một lời nhái câu “ngã tâm uẩn kết” của bài thơ Tố quan trong Mao thi chính nghĩa 7/2 tờ 4b6. 


 Qua các thế kỷ V-VI không thấy dùng nữa. Đến đầu thế kỷ thứ VII, khi viết Biện chính luận 7 ĐTK 2110 tờ 541a20-22 vào năm 622, Pháp Lâm mới có dịp dùng “trung tâm” trong bài thơ Thanh sơn (Núi xanh) mà bốn câu cuối cùng đọc: 


 Huyên phong bạch vân thượng 


 Quải nguyệt thanh sơn hạ 


 Trung tâm dục hữu ngôn


 Vị đắc vong ngôn giả. 


Như vậy cụm từ “trung tâm” từ thế kỷ thứ VI tdl, khi Khổng Tử san định kinh Thi, Thư và Lễ trở về trước, đang còn được sử dụng khá phổ biến. Nhưng từ thế kỷ thứ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, việc sử dụng nó cực kỳ hiếm hoi, như ta đã thấy. Trong khoảng 300 năm, nó chỉ được sử dụng ba lần, một trong lá thư của Phùng Diễn, một trong tờ chiếu viết năm 86 của Chương đế và một trong bài biểu năm 240 của Tào Sảng. Những lần do Hà Yến, Tôn Tú và Phan Nhạc dùng tới thì đều đọc lại hay nhái theo thơ của kinh Thi, nên không cần kể ra ở đây.”


 Điều thú vị là hiện tượng cấu trúc ngữ pháp Việt tồn tại trong bản văn chữ Hán còn gặp trong 3 bản kinh Phật bằng chữ Hán tồn tại từ thế kỷ II, đó là Cựu tạp thí dụ kinh, Tạp thí dụ kinh và Lục độ tập kinh. Theo học giả Lê Mạnh Thát, đó là những bản kinh do thiền sư Mâu tử và Khương Tăng Hội dịch từ những bản kinh tiếng Việt sang chữ Hán. Quá trình này như sau: Khương Tăng Hội mà trong nhiều thư tịch Trung Hoa viết là người Hồi Hồi (Pakistan) thì chính là con một người lái buôn Tây Trúc. Người này sang Giao Châu làm ăn, lấy vợ người Việt, đẻ ra Khương Tăng Hội. Hội thông thạo tiếng Việt, theo đạo Bụt rồi học chữ Hán và dịch kinh Phật ra Hán ngữ. Ban đầu do chưa thành thạo chữ Hán nên ông đã chuyển nguyên xi một số cú pháp Việt từ bản tiếng Việt sang bản chữ Hán. Cũng theo Lê Mạnh Thát:


 “Lục độ tập kinh hiện nay có cả thảy 91 truyện. Kiểm tra 91 truyện này ta thấy xuất hiện một hiện tượng ngôn ngữ khá bất bình thường, đó là những kết cấu ngôn ngữ học không theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Ngược lại, những cấu trúc được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt:


 1. Truyện 13 ĐTK 152 tờ 7c 13: “Vương cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc, trung cung chính điện thượng tọa, như tiền bất dị…”


 2. Truyện 14 ĐTK 152 tờ 8c5: “…Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vi lạc, trưởng ư trung cung…” Tờ 9b27: “…lưỡng nhi đồ chi, trung tâm đảm cụ…”


 3. Truyện 26 ĐTK 152 tờ 16b2: “… thủ thám tầm chi. tức hoạch đắc hĩ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ an chi…”


 4. Truyện 39 ĐTK 152 tờ 21b27: “…trung tâm hoan hỉ”


 5. Truyện 41 ĐTK 152 tờ 22c12: “… Vương bôn nhập sơn, đổ kiến thần thọ.”


 6. Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24b21: “…trung tâm chúng uế…”


 7. Truyện 44 ĐTK 152 tờ 25; “… trung tâm nục nhiên, đê thủ bất vân.”


 8. Truyện 72 ĐTK 152 tờ 38b25: “ Thần sổ tôn linh vô thượng chính chân tuyệt diệu chi tượng lai trung đình, thiếp kim cung sự.”


 9. Truyện 76 ĐTK 152 tờ 40a8: “Thần thiên thân lãnh, cửu tộc quyên chi, viễn trước ngoại dã. ĐTK 152 tờ 40b5: “Vị chúng huấn đạo trung tâm hoan hỉ.”


 10. Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44c1: “Ngô đẳng khước sát nhân súc, dĩ kỳ cốt nhục vi bệ thăng thiên.” ĐTK 152 tờ 45a19: “ Ngô đương dĩ kỳ huyết vi bệ thăng thiên.”


 11. Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47b26: “… trung tâm gia yên.”


Trong những trường hợp nêu trên, rõ ràng ngữ pháp tiếng Hán đã không được tuân thủ. Muốn nói "trong lòng" mà nói "trung tâm" theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc là không thể chấp nhận. Như thế, những trường hợp "trung tâm" vừa dẫn phải được viết theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp "thần thọ" để diễn tả ý niệm "thần cây" và "bệ thăng thiên" để diễn tả "bệ thăng thiên" cũng thế. Chúng đã được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt.


 Những trường hợp ngôn ngữ khá bất bình thường này chỉ cho ta điều gì? Làm sao lý giải sự có mặt của những cấu trúc ấy?5


Một câu hỏi thú vị.


 Phải chăng việc làm của Khương Tăng Hội vô hình trung lặp lại quá trình chữ Việt chuyển hóa thành chữ Hán hơn ngàn năm trước?


 Vết tích ngữ pháp Việt trong những thư tịch trên nói lên điều gì? Nó cho thấy, tới thế kỷ VI TCN, trong xã hội Trung Hoa còn tồn tại song song cả cách nói Việt lẫn cách nói Hán. Cách nói Việt không chỉ lưu hành trong tầng lớp bình dân sáng tác ca dao làm ra kinh Thi mà còn được trí thức quý tộc sử dụng. Trong bài viết trước (Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt) chúng tôi có nói đại ý trong khi san định kinh Thi, Khổng tử có ý đồ ém đi những cấu trúc ngữ pháp Việt. Nay xét kỹ, thấy không phải vậy. Sự thực là Khổng tử không chỉ dùng nhiều cấu trúc Việt để viết kinh mà còn sử dụng ngay cả trong câu nói thường: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân.” Hiện tượng này chứng tỏ, vào thời của ông, cả hai cách nói Hán Việt cùng tồn tại. Ta có thể ngờ rằng do mang trong mình gene Việt nên cách nói Việt đã sâu đậm trong máu huyết vì vậy khi viết, một cách vô thức Khổng tử dùng cách nói Việt?


 Những điều trình bày ở trên là bằng chứng không thể bác bỏ về sự có mặt của tiếng Việt trong quá trình hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngay cái câu “Bất thực cốc Chu gia” biết đâu cũng là cách người Việt nhại tiếng kêu chim đa đa từ thời Xuân Thu vọng tới hôm nay?


 Đến đây, tất nảy sinh câu hỏi: Nếu sự có mặt của tiếng Việt trong ngôn ngữ Hán là có thật thì về định lượng, đóng góp đó bao nhiêu? Nhà ngôn ngữ học lịch sử phải trả lời câu hỏi này. Chúng tôi chỉ có thể đoán rằng: Người Lạc Việt là nhân tố lãnh đạo cộng đồng Bách Việt về xã hội và ngôn ngữ thì tiếng Việt phải là phần chủ thể tạo thành ngôn ngữ của cộng đồng dân cư mới. Làm cuộc phiêu lưu ngược thời gian trở về 4600 năm trước, ta sẽ thấy nhóm người Mông Cổ da sáng lọt thỏm trong biển dân đen bản địa. Đám quan quân du mục với tiếng nói nghèo nàn thật vất vả khổ sở giữa rừng từ vựng quá đa dạng quá phong phú của dân nông nghiệp lúa nước. Kẻ xâm lăng phải học tiếng nói, văn hoá bản địa. Người bản địa cũng học văn hoá, tiếng nói của kẻ xâm lăng… Cùng với thời gian, tất cả hòa trong một cộng đồng về máu huyết, văn hoá, tiếng nói. Cố nhiên, chủ thể ngôn ngữ của cộng đồng không ở nơi kẻ nắm quyền mà phải là của số đông có văn hóa cao. Quy luật tất yếu của lịch sử là thế. Kịch bản này được diễn lại vào thời nhà Thanh. Tộc Mãn thống trị Trung Hoa chỉ bảo lưu được bản sắc văn hoá duy nhất là cái đuôi sam. Sau vài trăm năm, triều Thanh đổ, đuôi sam bị cắt… tất cả đã trở thành Hán! Sau bốn ngàn năm trăm năm, với một đại Hán tộc có đến 1 tỷ người, khó ai hình dung nổi một cội nguồn máu huyết cũng như tiếng nói đã bắt đầu như vậy!


III. Kết luận


Từ những phân tích ở trên, chúng ta có cơ sở khẳng định:


1. Tổ tiên người Việt không phải từ cao nguyên Thiên Sơn xuống mà từ Trung Đông theo con đường phía nam đến Việt Nam khoảng 60 –70.000 năm trước. Từ đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết để sinh ra những chủng người Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, người Đông Nam Á đi lên khai phá vùng đất từ sông Dương Tử tới Hoàng Hà. Tại đây người Đông Nam Á Bách Việt xây dựng nền văn minh lúa nước phát triển. Khoảng 2600 năm TCN, người Hán Mông Cổ từ tây bắc tràn xuống, chiếm đất của người Bách Việt. Một bộ phận người Lạc Việt lui xuống phía nam sông Dương Tử và trở về Việt Nam xây dựng nhà nước Văn Lang. Những người trở về đem nguồn gene mới làm biến đổi di truyền của người Việt Indonesien, Melanesien tại chỗ đồng thời cũng du nhập những yếu tố văn hóa phương bắc trong đó có từ vựng Hán vào cộng đồng.


2. Một bộ phận quan trọng người Việt ở lại sống chung với lực lượng chiếm đóng, góp vật chất cũng như văn hóa vật thể và phi vật thể xây dựng văn minh Trung Hoa. Trong đó tiếng Việt góp phần quan trọng hình thành ngôn ngữ Hán. Quá trình như sau: cùng với việc người Việt và người Hán hòa huyết tạo ra chủng Mongoloid phương Nam, tiếng Việt cũng hòa nhập cùng tiếng Hán trở thành ngôn ngữ của cộng đồng cư dân mới. Ban đầu từ vựng được ký âm bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng được ghi bằng chữ vuông. Chữ Việt hoàn toàn bị biến mất trong chữ Hán. Trong quá trình hòa nhập ngôn ngữ đó, cách nói, ngữ pháp tiếng Việt tồn tại khá lâu dài, để lại nhiều bằng chứng trong thư tịch.


3. Từ thực tế như vậy, việc cho rằng tiếng Việt mượn đến 70% từ tiếng Hán là sai lầm về lịch sử và văn hóa cần bác bỏ. Việc dựa vào những bộ từ điển lớn của Trung Quốc để phân định chữ này gốc Hán hay gốc Việt là thiếu chuẩn mực về phương pháp luận. Nếu cần một phương pháp luận xác định từ Hán hay Việt thì đó là xét theo nguồn gốc nông nghiệp hay du mục của nó. Tuy nhiên kết quả tìm được cũng chỉ tương đối. Hơn nữa, với lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa và ngôn ngữ Việt như vừa trình bày, thiết tưởng việc truy tìm những từ thuần Việt không thật có ý nghĩa nữa. Điều có thể tin chắc: tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa.


Sài Gòn 6-2006


PHƯƠNG PHÁP LUẬN MỚI
NGHIÊN CỨU TIỀN SỬ NGƯỜI VIỆT


Cho đến cuối thế kỷ trước, để tìm hiểu tiền sử dân tộc Việt, các nhà nghiên cứu căn cứ vào hai nguồn tư liệu là thư tịch cổ Trung Hoa cùng những phát hiện khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ và xã hội học, chủ yếu của những học giả Pháp thời thuộc địa. Từ những nghiên cứu đó, bức tranh tiền sử của người Việt được trình bày như sau:


Người tiền sử gồm nhiều chủng tộc, trong đó có người Việt, từ Trung Đông tới cao nguyên Tây Tạng. Từ phía nam cao nguyên Tây Tạng, người Việt theo ngọn sông Dương Tử đi xuống phía đông nam chiếm lĩnh đồng bằng Hoa Nam rồi ngược theo bờ biển lên khai phá vùng duyên hải. Một bộ phận từ ngọn nguồn Dương Tử lên phía bắc khai thác vùng nam sông Hoàng Hà.


1. Người Hán cũng từ nam cao nguyên Tây Tạng di chuyển về phía đông nhưng do phương thức sống du mục nên dừng lại ở vùng đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc.


2. Người Hán vượt Hoàng Hà chiếm đất, xua đuổi người Việt xuống phía nam sông Dương Tử.


3. Do người Hán lấn chiếm tiếp, người Việt đã từ nam sông Dương Tử tràn xuống Việt Nam, tiêu diệt và đồng hóa người bản địa lập nên nước Văn Lang6.


Sơ đồ như trên trở thành quan điểm chính thức của các nhà sử học khu vực và cũng được ghi trong những cuốn sách sử của nhiều trường đại học danh tiếng thế giới.


Tuy nhiên, quan niệm trên vấp phải những thách thức to lớn khi người ta phát hiện rằng, nhiều di chỉ khảo cổ ở Đông Nam Á có tuổi sớm hơn vùng Tây Bắc Trung Hoa cùng những chứng cứ cho thấy, nền văn hóa Đông Nam Á phát triển sớm hơn vùng Hoa lục.


Cho đến cuối thế kỷ XX, nhờ nhũng công trình của Bing Su và Y. Chu dùng công nghệ gene khảo sát sự đa dạng di truyền của người Hán7, bức tranh tiền sử người Việt và Đông Á nói chung được vẽ lại. Đường nét chính của bức tranh như sau:


1. Người Homo sapiens từ Trung Đông băng qua Ấn Độ và Pakistan rồi theo bờ biển phía nam châu Á tới miền Trung và Bắc Việt Nam khoảng 60-70.000 năm trước.


2. Dừng lại đây khoảng 10.000 năm, hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết tạo thành những chủng Indonesien, Melanesien cùng những chủng lai giữa chúng đồng thời lan tỏa ra sống khắp lục địa Đông Nam Á.


3. Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á đi tới Úc; 40.000 năm trước đặt chân tới New Guinea. Cũng thời gian này, người Đông Nam Á lên khai phá lục địa Trung Hoa và từ đây lên tới Siberia rồi vượt qua eo Bering sang chiếm lĩnh châu Mỹ.


4. Cũng từ Đông Nam Á, một nhóm Mongoloid sống biệt lập, đã độc hành lên Tây Bắc Trung Hoa, tạo nên chủng Mongoloid phương Bắc.


5. Tại Hòa Bình, người Đông Nam Á chế tác đồ đá và sáng tạo trung tâm nông nghiệp phát triển sớm nhất trên thế giới.


6. Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người Mông Cổ vượt Hoàng Hà lấn chiếm đất của người Bách Việt. Do sự tiếp xúc giữa người Mongoloid phương Bắc với người Bách Việt, một chủng mới xuất hiện: chủng Mongoloid phương Nam, thuộc nhóm loại hình Đông Nam Á.


7. Cũng thời gian trên, do thua trận, một nhóm người Việt từ châu thổ Hoàng Hà đi thuyền vượt biển, trở lại Việt Nam, cùng với người Việt tại chỗ lập ra nhà nước Văn Lang. Trong đoàn di tản này có những người lai Mông Cổ, đem gene Mongoloid phương Nam về Việt Nam hòa huyết với người tại chỗ, tạo ra chủng Mongoloid phương Nam ngày càng chiếm ưu thế trong dân cư Việt Nam


8. Từ cuối thiên niên kỷ II TCN, do người Hán đánh đuổi gấp, một bộ phận lớn người Bách Việt chủng Mongoloid phương Nam từ phía nam sông Dương Tử trở lại lục địa cũng như hải đảo Đông Nam Á. Những người trở về mái nhà xưa này đã làm chuyển hóa đại bộ phận cư dân Đông Nam Á cổ sang loại hình Đông Nam Á hiện đại. Cũng thời gian này, người Bách Việt từ Hoa lục tràn ra ngoài biển, tới Nhật Bản và Triều Tiên làm biến đổi di truyền những người gốc Đông Nam Á tại đó thành người hiện nay.


Với bức tranh được vẽ như trên, ta thấy tiền sử của người Việt đã diễn ra trái ngược với quan niệm từ trước. Không phải là người tiền sử từ Tây Bắc nước Tàu đi xuống mà ngược lại, chính người tiền sử đã từ Đông Nam Á, từ Việt Nam đi lên khai phá đất nước Trung Hoa. Hành trình cùa người Bách Việt Đông Nam Á gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu đi lên phương bắc còn giai đoạn sau từ Trung Hoa trở về. Khi phát hiện lịch trình trên của người Đông Nam Á tiền sử, khoa học có thể lý giải thỏa đáng những câu hỏi trước đây về nhân chủng cũng như lịch sử văn hóa vùng Đông Á.


Vấn đề cần đặt ra ở đây là vì sao suốt thế kỷ XX khoa học đã lạc đường khi nghiên cứu tiền sử Đông Á?


Có thể lý giải điều này như sau: Khiếp nhược trước một đất nước có số dân đông đúc cùng nền văn hóa lớn, các nhà khoa học phương Tây nhiễm quan niệm dĩ Hoa vi trung (lấy nước Tàu làm trung tâm), mặc nhiên coi Trung Quốc là trung tâm phát sinh của Đông Á. Từ mặc cảm định trước này, ngay từ năm 1904, E. Aymonier đưa ra thuyết người tiền sử thiên cư từ cao nguyên Tây Tạng xuống. Tiếp đó, các tác giả khác, khi giải mã những hiện vật khảo cổ và nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học cùng thư tịch cổ Trung Hoa… đều nương theo thuyết Hoa tâm. Tất cả những việc làm mang tính duy ý chí đó đã vẽ nên bức tranh sai lầm về tiền sử Á Đông.


Từ những sai lầm của quá khứ, thiết tưởng việc nghiên cứu tiền sử Đông Á nói chung cũng như người Việt nói riêng hiện nay cần có một phương pháp luận mới.


Theo thiển ý, những cơ sở của phương pháp luận đó là:


1. Lần theo hành trình của người tiền sử từ Đông Nam Á lan tỏa ra khắp Hoa lục sau đó một bộ phận lại trở về Đông Nam Á. Bằng công nghệ gene cùng những vật chứng khảo cổ, nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học… xác định thời gian, không gian xuất hiện và chuyển dịch của người Việt trên đất Trung Hoa.


2. Giải mã lại những vật chứng khảo cổ, nhân chủng học, những tư liệu ngôn ngữ học, xã hội học đã phát hiện được theo hành trình của người Đông Nam Á. Từ đây xác định những dấu ấn văn hóa mà người Đông Nam Á để lại trên đất Trung Hoa.


3.  Trước đây, do chưa xác định được thời gian cũng như con đường thiên di của người tiền sử Đông Nam Á, với người Việt, thư tịch cổ Trung Hoa là nguồn cứ liệu duy nhất để chúng ta tìm ra tiền sử của mình. Nay ta biết rằng, do Khổng Tử đã bỏ đi một phần Ngũ Điển trong kinh Thư nên về thời gian, thư tịch Trung Hoa không thể đáp ứng thông tin trước thời Đường Ngu, tức khoảng trước 2600 năm TCN. Về không gian, lúc đó nước Trung Hoa còn nhỏ bé quanh lưu vực Hoàng Hà nên sự hiểu biết của sử gia Trung Hoa bị hạn chế. Sau này sử gia Trung Hoa, kể từ Tư Mã Thiên, phần nhiều mang con mắt đại Hán tộc nên viết không chính xác lịch sử những nước xung quanh được gọi là man, di… Vì vậy, trên thực tế, nguồn thư tịch Trung Hoa vừa khiếm khuyết vừa không đáng tin cậy, không thể là khuôn vàng thước ngọc cho chúng ta lấy làm căn cứ để viết lịch sử của mình.


4. Ngày nay, nhờ có người Việt “thiên di” tới nhiều nơi trên thế giới nên đã thu thập được khá nhiều tư liệu của các nước phương Tây viết về đất nước chúng ta. Một số trong đó đã được đưa lên mạng giúp cho chúng ta có cái nhìn về mình mới mẻ hơn và thoát được sự “cầm tù” của thư tịch Tung Hoa.


5. Hai ngàn năm nay, do không hiểu nguồn gốc sinh học của mình và do mối quan hệ lịch sử đặc biệt với láng giềng phương bắc nên ông bà chúng ta coi Trung Quốc là nước đồng văn đồng chủng, còn các nước Đông Nam Á là di, rợ. Nhờ thành quả mới của khoa di truyền học, ta biết rằng, các dân tộc Đông Nam Á cùng một cội nguồn với chúng ta. Điều này đưa tới phát hiện quan trọng: chính các sắc dân Đông Nam Á là người lưu giữ sâu đậm văn hóa cội nguồn của tổ tiên người Việt. Vì vậy, trong hành trình tìm lại văn hóa gốc của người Việt, việc nghiên cứu văn hóa các sắc dân Đông Nam Á có ý nghĩa rất lớn.


Tìm hiểu, nghiên cứu làm sáng tỏ giai đoạn tiền sử của dân tộc là chuyện dài dài, là cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ. Chúng tôi cho rằng, sau khi đã tìm được nguồn cội về mặt sinh học, công việc trung tâm lúc này là tìm lại cội nguồn văn hóa của người Việt. Áp dụng phương pháp luận trên, chúng ta sẽ tìm ra những dấu tích văn hóa mà tổ tiên ta đã để lại trên đất Trung Hoa, đặc biệt là hai trung tâm Thái Sơn và Lĩnh Nam, từ hạt lúa, ngọn rau, rìu đá, rìu đồng đến tiếng nói, chữ viết, kinh Thư, kinh Thi, kinh Dịch… Tìm lại văn hóa cội nguồn không chỉ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết về tổ tiên, mà quan thiết hơn là học từ đó những điều khôn ngoan để phục hưng văn hóa Việt.


Sài Gòn, ngày Trùng Cửu năm Ất Dậu


DẤU ẤN VĂN HOÁ VIỆT TRONG KINH THI


Kinh Thi là tuyển tập những bài dân ca và ca dao đẹp nhất, hay nhất xuất hiện trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VI TCN trở về trước trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo Tư Mã Thiên viết trong Sử ký thì ban đầu có tới 3000 bài, Khổng Tử san định đã bỏ đi 9 phần 10, chỉ giữ lại có 311 bài. Ðấy là tác phẩm văn học cổ điển có ảnh hưởng sâu rộng đến tâm hồn và trí tuệ phương Ðông, quan trọng đến mức Khổng Tử nói bất học thi vô dĩ ngôn! (Không học Thi biết gì mà nói). Thời nhà Tần nó cũng bị đốt nhưng sau đó được khôi phục và xếp vào Ngũ kinh.


 Hàng nghìn năm nay, kinh Thi mặc nhiên được coi như sản phẩm đặc hữu của Hán tộc, không có ai nghi ngờ hay bàn cãi. Vì vậy, ba chục năm trước, khi học giả Lương Kim Ðịnh cho rằng Kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc8 đã gây nên sự phản ứng của không ít người. Dễ hiểu thôi, thay đổi một thói quen từng hằn vào cân não hàng nghìn năm đâu phải là việc một sớm một chiều!


 Ðiều dễ nhận ra là kinh Thi đã bị Hán nho rối Tống nho đánh tráo một cách trơ trẽn: Những sáng tác dân gian sinh ra nơi ruộng lúa nương dâu bị biến thành sản phẩm cung đình, một thứ văn chương xu phụ chuyên ca tụng ông vua này ông vua khác cùng bà hậu phi nào đó! Chính ở đây, tầng lớp Hán nho đã ăn cắp tác quyền của dân gian trao cho vương triều. Ðiều này dễ thấy. Còn cách đánh tráo, ăn cắp tác quyền khác tinh vi hơn thì khó nhận ra. Khó về học thuật và càng khó hơn trong tâm lý: đứng trước nền văn hóa khổng lồ của người láng giềng phương bắc, chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé đi, đến mức chỉ còn là cậu học trò ngu ngơ trước ông thầy vĩ đại! Tâm lý ấy khiến chúng ta hèn đi, không dám nghĩ đến cái điều bị coi là hoang tưởng thậm chí phạm thượng: kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc!


 Ðể phân định điều này, ta phải xét từ cội nguồn: Tìm về lịch sử hình thành kinh Thi.


Vào thập niên 70 của thế kỷ trước tồn tại 2 giả thuyết về cội nguồn dân tộc Việt. Một cho rằng, tổ tiên người Việt từ cao nguyên Thiên Sơn di cư vào đất Trung Hoa sau đó bị người Hán chèn ép nên tràn xuống Việt Nam tiêu diệt người bản địa, lập ra nước Văn Lang. Giả thuyết thứ hai cho rằng tổ tiên người Việt đã từ Mã Lai đi lên.


 Ngày nay, với những thành tựu mới nhất của di truyền học, lần đầu tiên chúng ta có bản viết chính xác về tiền sử Đông Á: Người hiện đại Homo sapiens đã từ châu Phi lên Trung Đông rồi từ đây theo bờ biển Nam Á đến Việt Nam khoảng 60-70000 năm trước. Dừng lại đây trong khoảng 10.000 năm, hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết tạo ra những chủng lai. Những chủng người này sinh sôi nảy nở lan khắp lục địa, hải đảo Đông Nam Á rồi sang châu Úc. Khoảng 40.000 năm trước, khi băng hà tan, người từ Đông Nam Á đi lên phía bắc, chiếm lĩnh lục địa Trung Hoa rồi sau đó vượt qua eo Bering tới châu Mỹ.


 Cho đến thiên niên kỷ thứ IV TCN, người Đông Nam Á mà sau này sử sách gọi là Bách Việt sống khắp duyên hải Đông Á với nhân số chiếm khoảng 54% nhân loại. Trong đó người Lạc Việt có khoảng 15-20% và giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Người Bách Việt Đông Nam Á kiến tạo nền văn minh nông nghiệp tiến bộ nhất thế giới: Nghề trồng lúa phát triển với giống lúa được tuyển chọn tốt, biết cày bằng trâu bò, đắp bờ giữ nước. Nghề chăn nuôi gia súc trở thành nghề sản xuất chính, biết nuôi tằm dệt lụa. Nghề đúc đồng ra đời. Khoa thiên văn quan sát tượng trời tượng đất dự báo thời tiết ở trình độ cao. Kiến thức âm dương ngũ hành, dịch số được tích luỹ. Từ kết nút để ghi nhớ đã có chữ Khoa đẩu. Là cộng đồng nông nghiệp nên sinh hoạt văn hoá phát triển với ca dao, dân ca, đồng dao, nhạc múa, trái gái luyến ái tự nhiên theo tục dã hợp…


 Khoảng 2600 năm TCN, những bộ lạc du mục thiểu số này vượt Hoàng Hà chiếm đất của dân Bách Việt nông nghiệp, lập ra thời đại Hoàng Đế9.


 Tuy chiến thắng về quân sự nhưng do số người ít và văn hóa kém phát triển nên kẻ chiến thắng bị đồng hóa cả về di truyền cả về văn hóa. Người Mongoloid vốn có nước da sáng hơn người Australod, lại sống ở phía bắc từ lâu nên nước da càng trắng hơn. Vì vậy kẻ thống trị gọi người bản địa là lê dân- dân đen- để phân biệt.


 Vào đất Bách Việt, người Mông Cổ choáng ngợp trước số dân đông đúc và kinh tế sung túc nên lập tức bỏ nghề du mục, chuyển sang làm quan, làm công nghiệp, nhà buôn- những công việc đặc quyền của kẻ thống trị.


 Không lâu sau, chỉ một vài trăm năm, toàn bộ người Mông Cổ xuống Trung Nguyên bị hòa huyết với dân đen bản địa thành chủng người mới, khoa học gọi là Mongoloid phương Nam hay nhóm loại hình Đông Nam Á. Trong quá trình hòa huyết thì văn hóa cũng hòa đồng: Trước hết là tiếng nói. Lớp con lai dùng trộn trạo từ vựng của bố của mẹ. Với thời gian, hai hệ tiếng nói bổ sung cho nhau, hòa vào nhau tạo nên tiếng nói chung phong phú của lớp dân mới. Tuy nhiên, tiếng nói của một vùng, một quốc gia bao giờ cũng theo cách nói của trung tâm, của thủ đô. Người Mông tập trung ở đô thị nên trong khi học thêm từ vựng Việt thì họ cố giữ cách nói- văn phạm truyền thống Mông Cổ thuộc hệ Sino-Tibétan. Dần dần toàn bộ dân cư chuyển sang dùng cách nói thống nhất như các đô thị, kết quả là trong giao tiếp cùng nói theo cách của người Mông Cổ. Đồng thời trong quá trình chung sống, các phong tục tập quán của hai tộc người ban đầu cũng hòa vào nhau.


 Chủng người lai Mông Cổ- Bách Việt ngày càng đông đúc, trở thành chủ thể của xã hội. Họ bỏ vật tổ truyền thống của người Mông là con sói trắng để chuyển sang thờ vật tổ của dân Bách Việt là con cá sấu được thần hoá thành con rồng. Họ cũng nhận những ông tổ xa xưa của người Việt là Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ của mình10. Điều này không có gì sai trái mà hợp lý vì do hòa huyết nên về huyết thống, những thế hệ từ sau Hoàng Đế như Đế Cốc, Đế Chí đều là con cháu của Thần Nông, làm nên cư dân thời Đường Ngu, Thương, Chu… sau này được gọi là người Hán. Họ có toàn quyền nhận tổ tiên cũng như văn hóa nông nghiệp Bách Việt làm của mình.


 Từ lịch sử đó, chúng ta thử tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của kinh Thi.


 Từ thời vua Vũ nhà Hạ (2205-1783 TCN), các nước chư hầu dâng cống vật cho thiên tử thì trong phương vật, có cả những câu ca của dân quê nơi thôn dã. Thiên tử xem những câu ca ấy mà hiểu thuần phong mỹ tục trong thiên hạ, để đánh giá sự cai trị của vua chư hầu. Cái lễ cống tồn tại dài dài mãi sau này nhưng việc cống những câu ca nơi thôn cùng xóm vắng chỉ tồn tại đến thời nhà Chu (1134-247 TCN).


 Nhưng thử hỏi thiên hạ Trung Hoa thời Chu là ai? Lúc này đã 2000 năm qua đi từ trận Trác Lộc Hoàng Đế chiến Si Vưu. Trong cương thổ nhà Chu rộng khoảng 115.000 km2 với 15 tiểu quốc, hai chủng tộc chính ban đầu là Mông Cổ và Bách Việt đã hoà huyết thành chủng mới Mongoloid phương Nam. Cùng với máu huyết, giữa người Việt và người Mông cũng có sự hòa đồng về văn hóa. Trong cộng đồng dân cư mới này, lực lượng đông đảo nhất là lê dân, là dân đen tức những người gốc Tam Miêu. Chính do số đông áp đảo, chính xuất phát từ nền văn hóa cao hơn nên những người gốc Bách Việt giữ vai trò chủ đạo trong nền văn hóa.


 Đặc điểm nổi bật của dân Miêu Việt là sống hồn nhiên vui vẻ, ưa ca múa, khá thoải mái trong chuyện luyến ái gái trai. Kinh Thư ghi nhận, khi vì bất bình mà người Miêu Việt nổi dậy, dẹp không được, vua Thuấn phải sai ông Quỳ dùng ca múa phủ dụ mới yên. Từ kinh nghiệm trên, các ông vua hiền thời cổ ở Trung Hoa đã phần nào dựa vào những lời ca cất lên nơi thôn cùng xóm vắng mà biết nguyện vọng của dân, để kịp thời điều chỉnh chính sách của mình. Chính những lời ca dân dã ấy được thu thập lưu giữ trong tàng thư của nhà vua. Và từ những thư tịch trong cung vua nhà Chu, Khổng Tử (551- 479 TCN) đã đem ra san định thành kinh Thi.


 Những nguyên nhân trên đã tạo nên tinh thần nông nghiệp Việt tộc bàng bạc trong kinh Thi ngay từ bài đầu tiên và quan trọng nhất: Quan thư.


 Quan quan thư cưu


 Tại hà tri châu


 Yểu điệu thục nữ


 Quân tử hảo cầu.


Bài ca là hình ảnh một bãi nổi trên sông với những loài chim nước cặp đôi cùng người trai người gái tình tự, phản ánh cuộc sống hồn nhiên của dân cư nông nghiệp miền sông nước. Hảo cầu là từ đa nghĩa. Tản Ðà dịch là tốt đôi vợ chồng nhưng theo Kim Ðịnh, một bản Latinh lại dịch là giao cấu (copulary). Dịch như vậy mới phản ánh đúng cái thần câu ca: quan hệ tính giao tự nhiên như vậy chỉ có ở văn hóa phồn thực của Viêm Việt nông nghiệp. Dịch như Tản Ðà là dịch theo quan điểm thanh giáo mà Hán nho rồi Tống nho áp đặt để xuyên tạc kinh Thi.


 Một bài khác cũng mang cái phong vị trữ tình như vậy, bài Hán Quảng:


 Trên bờ sông Hán ai ơi,


 Có cô con gái khó ai mơ màng


 Mênh mang sông Hán sông Giang


 Lặn sang chẳng được, bè sang khó lòng.


Sông Hán là chi lưu của sông Dương Tử, miền đất châu Kinh, châu Dương, châu Hoài... địa bàn cư trú lâu đời của người Bách Việt, một bằng chứng cho thấy người Việt là chủ nhân những câu ca trên. Một bài khác Thảo trùng: người con gái lên núi hái rau, nhìn thấy châu chấu theo nhau bay nhảy liền mong tưởng đến chồng trở về: Diệc ký kiến chỉ, diệc ký cấu chỉ, ngã tâm đắc di.


 Tản Ðà dịch: bao giờ cho thấy mặt chàng,


 Cho ta vui vẻ nở nang tấm lòng.


 Dịch vậy là quá khéo, bởi chữ cấu có nghĩa là giao hoan. Nở nang tấm lòng vừa có nghĩa vui mừng lại có nghĩa thai nghén sinh nở!


 Bài Dã hữu tử huân (con nai chết trên đồng) có câu:


 Có cô con gái xuân tình,


 Cậu giai tốt đẹp dỗ dành muốn ve


cũng là bằng chứng của lối sống phồn thực Viêm Việt. Cuộc sống phồn thực luyến ái tự nhiên là đặc điểm của văn hóa Việt tộc. Ta thấy điều này trong sinh hoạt hội mùa xuân: đến hội xuân, tất cả trai gái làng này đến hát đối với trai gái làng bên cạnh (là hai bộ lạc). Trai chưa vợ gái chưa chồng xem mặt nhau rồi chọn lựa trong lúc hát hò. Tan đám hát, họ chia nhau từng đôi, tặng nhau kỷ vật rồi dẫn nhau vào những lùm cây bãi cỏ giao hoan, gọi là dã hợp. Không ai chê bai ngăn cản việc này. Những đứa trẻ sinh ra trong cuộc hôn phối tự nhiên ấy là điềm may. Chỉ khi các thánh hiền phương Bắc xuất hiện mới coi là xướng ca vô loại, chê là dâm bôn, ra sức cấm đoán rồi vỗ ngực ca ngợi công việc ấy của mình là cải hóa phong tục của man di! Nếu trong cuộc đời thực, Hán nho, Tống nho tiếp tay cho vương triều phong kiến xóa bỏ văn hóa Việt tộc thì trên phương diện chữ nghĩa, họ cũng một mặt ăn cắp tác quyền những dân ca và ca dao Việt trao cho vua chúa, mặt khác chú giải Thi theo hướng có lợi cho vương triều, cổ xúy chủ nghĩa thanh giáo. Kim Ðịnh phát hiện ra mưu đồ này nhưng có lẽ ông đã quá lời khi nói: "Có thể xẩy ra những cuộc tráo trộn do chính Viêm tộc làm ra: nó ở tại đem vào những bài ca của dân gian một ít lời để lái một bài thơ phương Nam ra vẻ của phương Bắc, hoặc để nguyên cả một bài hay một chuỗi bài như Châu Nam, Thiệu Nam mà đặt vào vùng núi Kỳ ở Thiểm Tây để cho người phương Bắc dễ chấp nhận." (VLTN 135) Có lẽ không phải vậy. Người dân quê hồn hậu không nghĩ rằng những câu ca nơi đồng nội của mình sẽ thành kinh điển nên phải tự sửa mình đi cho vừa khẩu vị kẻ xâm chiếm thống trị. Họ chỉ tự nhiên nhi nhiên hát lên lời hát của lòng mình mà vì nó hay nên vương triều không thể bỏ, phải lượm lặt đem về. Nhưng rồi việc biên tập, nhuận sắc, chú giải diễn ra, nội dung nhiều bài thay đổi đồng thời tác quyền bị chuyển cho người khác. Việc làm này của Hán nho là có ý thức. Tuy nhiên, cái việc vụng trộm ấy cũng không hoàn toàn vô tang mà đã để lại dấu vết. Không những không thể xóa hết tinh thần Viêm Việt bàng bạc trong khắp tập kinh mà ở nhiều bài còn lộ rõ dấu vết trong cách đặt câu, trong cú pháp. Ta biết, so với tiếng Việt, cú pháp chữ Hán nói ngược: Việt nói trong lòng là trung tâm thì Hán nói tâm trung. Nhưng trong kinh Thi, có hiện tượng rất lạ là nhiều câu vẫn giữ cấu trúc ngữ pháp Việt:


 Túc túc thỏ ta, thi vu trung lâm


 (Thỏ ta: Lưới thỏ mà căng giữa rừng.)


Ðúng ra giữa rừng viết theo cú pháp chữ Hán phải là lâm trung mà ở đây lại là trung lâm. Hay:


 Hước lãng tiếu ngạo, trung tâm thị niệu


 (Chung phong: Cũng là bỡn cợt mà thôi,


 chỉ thêm đau ruột cho người xót thương).


 Có thể kể ra nhiều nữa:


- Hồ vi hồ trung lộ (Thức vi: trong sương)


- Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy)


- Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn)


- Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)


- Trung tâm dao dao (thử ly: trong lòng nao nao)


- Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)


- Trung cấu chi ngôn (Tường hữu từ: lời nói trong buồng kín)


 Những "hòn sạn" chữ nghĩa kia nói lên điều gì? Phải chăng là sự vô tình? Phải chăng là những người biên tập, san định, chú giải vì "dốt" nên không thấy cái "sai" ấy? Mấy nghìn năm nay chưa ai giải thích điều này. Trong bài Dẫn nhập in ở đầu cuốn kinh Thi, ông Trần Văn Chánh nhận xét: "Trong kinh Thi, chữ "trung" (ở trong, ở giữa) thường đặt sau danh từ, thay vì ngược lại, so với văn ngôn các đời Hán, Ðường... về sau11." Ông cho rằng đó là một trong những nguyên tắc, những mô hình cấu trúc cần nhận biết khi đọc Thi. Ðiều này đã hẳn nhưng nó cũng gợi lên thắc mắc: vì sao lại có hiện tượng khác thường đó? Và vì sao qua hàng nghìn năm phấn đấu xa đồng quỹ, thư đồng văn, qua biết bao lần nhuận sắc, chú giải, những đại nho của muôn đời không sửa chữa, không lượm đi những "hạt sạn"? Ðúng là chữ nghĩa thời kinh Thi chưa ổn định và có khác thời Hán thời Ðường nhưng thử hỏi, nguyên nhân của sự không ổn định ấy là gì? Theo thiển ý, ở chính trong lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngôn ngữ thời kinh Thi nằm trên đường chuyển hóa từ cách nói của người Việt sang cách nói của người Hán. Cách nói của người Hán cuối cùng đã thắng nhưng trong ca dao, dân ca vẫn tồn tại cách nói Việt phản ánh tư duy Việt. Khi ca dao dân ca của người Việt được đưa vào kinh điển, người san định tuy đã nhuận sắc sửa đổi nhưng không thể sửa chữa tất cả vì buộc phải tôn trọng vần điệu của thơ. Trong 2700 bài thơ bị loại bỏ, ai biết có bao nhiêu bài của Việt tộc? Những bài còn lại là những bài không thể bỏ. Những cấu trúc ngữ pháp không bình thường trong các bài đó cũng là không thể sửa đổi! Cái không thể sửa đổi đã trở thành những "hòn sạn" trong ngôn ngữ của Thi. Nhưng chính những "hòn sạn" tưởng như ngẫu nhiên này lại là những hóa thạch ngôn ngữ chứng minh về sự đóng góp của tiếng Việt vào kinh Thi, vào ngôn ngữ Trung Hoa! Không chỉ trong Thi, cách nói Việt này cũng để lại dấu ấn trong một số tên gọi: Nữ Oa, Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn, Ðế Chí rồi Ðế Minh, Ðế Lai... Cách nói đó không thể phủ nhận được là cách nói Việt. Có lẽ cũng do những nguyên nhân lịch sử bất khả kháng mà người ta không thể sửa thành Nông Thần, Nghiêu đế... theo cách nói của người Hán!


 Nói như ông Kim Ðịnh Kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc e rằng quá lời. Bởi lẽ không hiểu những bài bị loại bỏ ra sao, còn căn cứ vào những bài hiện có, ta thấy trong đó nhiều bài mang đặc tính chung của con người, cái chất uy-manh chả của riêng ai, thật khó tách bạch. Trong đó bên cạnh những bài đậm sắc thái Việt lại có những bài mang tố chất Hán tộc như bài Thạc nhân:


 Người đâu dong dỏng như ai,


 Trong mặc áo gấm phủ ngoài áo lương.


 Ấy người con gái họ Khương,


 Em ông thái tử cưới sang vua Vệ hầu.


 Còn như bề giượng là đâu?


 Có Ðàm công với Hình hầu hai vua.


 Từ phục sức đến nhân thân cho thấy đó là người đàn bà quý tộc. Nhân vật này không phải đối tượng của văn chương dân gian. Nhiều khả năng đây là sản phẩm của nhà thơ cung đình nào đó mượn phong cách dân gian làm thơ phục vụ vương quyền. Không phải trong tầng lớp vương giả không có người Việt nhưng người đàn bà này đích thực là người Hán:


 Tay ai như cái cỏ gianh non,


 Da như mỡ đọng, cổ như con nhậy dài,


 Hạt bầu thời như thể răng ai,


 Ðầu trăn mà lại mày ngài thêm xinh...


Tay, da, đầu có thể là cái đẹp chung của người Hán người Việt nhưng rõ ràng, cái răng: hạt bầu như thể... cũng như đầu trăn (Tản Đà giảng con trăn như con ve mà bé) là vẻ đẹp theo chuẩn mực thẩm mỹ Hán tộc. Thời ấy, vẻ đẹp của người Việt là nhuộm răng đen, xăm mình.


 Nhưng điều thú vị là, ngay ở đây cũng hiển lộ yếu tố văn hoá Việt: mày ngài! Trồng dâu nuôi tằm là bản nghệ của dân nông nghiệp phương Nam. Do chăm chút con tằm từ ăn một ăn hai đến ra né, chọn giống, cho ngài đẻ… mà người nuôi tằm nhận ra vẻ đẹp kỳ diệu của cặp râu con ngài. Sự so sánh tuyệt vời nảy sinh: râu con ngài được ví với lông mày con gái. Thành ngữ mày ngài ra đời! Đấy là sản phẩm của văn hóa nông nghiệp Bách Việt.


 Khi đưa nghề tằm tang từ văn hóa Hòa Bình lên Trung Nguyên, người Việt cũng đưa luôn thành ngữ mày ngài lên quê hương mới. Thành ngữ này, như những từ vựng khác, nhập tịch ngôn ngữ Trung Hoa rồi một cách vô thức phát lộ trong câu ca dao mang nhiều sắc thái Hoa tộc nhất. Điều này là ví dụ tuyệt vời chứng tỏ sự đóng góp của văn hóa Bách Việt vào văn hóa Trung Hoa.


 Như vậy, có lẽ sẽ công bằng hơn khi nói rằng, kinh Thi là đứa con lai giữa hai nền văn hóa Hán và Việt mà trong đó phần hồn phần cốt là văn hóa của Bách Việt nông nghiệp.


 Sài Gòn 6-2006


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.







1 Cadiere R. P. Leopole (1877-1948) Souvenirs d un vien annamitisant. Indochine, Hanoi, N143, 8 Julliet 1945. Theo Cao Xuân Hạo: “Sự tích bốn chữ Chính trước phụ sau trong Việt ngữ học.” (tài liệu riêng).




(2) Kinh Thi. NXB thành phố Hồ Chí Minh 1990




3 Kinh Thư. Thẩm Quỳnh dịch, Trung tâm học liêu Bộ Giáo dục. Sài Gòn 1973.




4 Kinh Dịch. Phan Bội Châu, NXB Văn hoá Thông tin 1996.


 




5 Lê Mạnh Thát. Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam tập I. Quangduc.com




6 Kim Định. Việt lý tố nguyên. Lá Bối Sài Gòn 1970.




7 J.Y. Chu: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 N. 95 tr. 11763-11768.


 




8 Kim Đinh. Việt lý tố nguyên. An Tiêm Sài Gòn 1970 tr. 125.


 




9 Hà Văn Thuỳ. Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hoá. talawas.org




10 Ts Nguyễn Thị Thanh- Việt Nam trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới– Vietcatholic 30.9. 2001.


 




11 Kinh Thi NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1992 tr.XXXII.


 



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »