tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19749527
Những bài báo
20.03.2012
Tư liệu
Những bài viết về Sêkhốp (Anton Chekhov)

Sêkhốp và những bức thư


Anton Chekhov (1860-1904) nhà soạn kịch, người viết truyện ngắn nổi tiếng người Nga. Thế kỷ XIX, cùng với Edgar Allan Poe (Mỹ) và Guy de Maupassant (Pháp), Anton Chekhov được xem là một trong ba cây bút truyện ngắn bậc thầy của thế giới.


 


Sáng tác của Chekhov luôn gắn chặt với cuộc đời. Ông đã từng đi ngựa đến tận Xiberi để thu thập tài liệu. Nghệ thuật truyện ngắn của ông đạt đến đỉnh cao ít có người sánh kịp. Trong số những người viết văn xuôi, Chekhov là nhà văn có tầm ảnh hưởng rộng lớn vào hàng bậc nhất của nhân loại.


 


Hầu hết các cây bút kiệt xuất của thế giới thế kỷ XX (Faulkner, Hemingway, Marquez…) không ai là không tôn sùng và thừa nhận việc học hỏi từ ông. Điều đó chứng tỏ, tính hiện đại và tính luôn mới ở Chekhov lớn biết nhường nào. Về phương diện này ta có thể khẳng định, hiếm có cây bút truyện ngắn nào của nhân loại bắt kịp ông.


 


Xuất thân trong một gia đình không có gì là vẻ vang nếu không nói là thuộc tầng lớp gần bần cùng của xã hội. Chekhov sinh ngày 29-1-1860 tại Taganroc, Nga. Từ nhỏ ông đã phải xa nhà, tự lực kiếm sống để học tập. Tốt nghiệp Đại học Y khoa năm 1884, ông vừa hành nghề thuốc vừa sáng tác. Ông viết kịch và truyện ngắn. Suốt đời ông chỉ trung thành với hai thể loại này và đã gặt hái được những thành công chói lọi.


 


Về kịch, Chekhov có những vở tiêu biểu như: Chim hải âu, Cậu Vania, Ba chị em, Vườn anh đào… Sự nghiệp sáng tạo và hoạt động xã hội đã khiến uy tín ông vang dội. Năm 1900, vị trí viện sĩ danh dự Viện hàn lâm Nga đã được trao cho Chekhov nhưng năm 1902, ông từ bỏ danh hiệu đó để phản đối việc Nga Hoàng không thừa nhận Gorki vào Viện hàn lâm.


 


Chekhov lừng danh với hàng loạt truyện ngắn. Phòng 6 là ẩn dụ về môi trường tù túng kinh hoàng của một nước Nga trì trệ, nơi con người rất dễ hóa điên và cũng rất dễ bị xem là điên. Lenin khi đọc truyện này lúc còn trẻ bỗng cảm thấy thật ghê rợn, không thể ngồi lại trong phòng mình nữa mà phải đứng dậy bước ra ngoài.


 


Nhà tu hành vận đồ đen là câu chuyện buồn về tình yêu, hôn nhân và lý tưởng con người được xây dựng trên nền của không gian huyền thoại. Còn câu chuyện về Người đàn bà có con chó nhỏ là bi kịch tình yêu, áng văn xuôi tuyệt tác của muôn đời.


 


Chekhov là thiên tài trong lĩnh vực nắm bắt và phản ánh thực tại. Chỉ đôi dòng là ông có thể đi sâu vào bản chất sự việc. Văn ông không khoa trương mà bình lặng, đầy suy tư. Ông là bậc thầy trong nghệ thuật khai thác tâm lí, khai thác những rung động tinh tế trong hồn ngưòi. Đọc ông ta ngỡ như chạm phải một cung đàn, tuy khẽ nhưng dư âm của nó vẫn mãi vang vọng, có khi ngân suốt của đời ta.


 


Cách viết ấy là kết quả từ quan niệm được chính Chekhov phát biểu, "nghệ thuật viết là nghệ thuật rút gọn (…) điều gì chưa nói là người đọc sẽ nói" và nhà văn ưu tú là người "biết nói ngắn về những chuyện dài…". Vậy nên truyện của ông rất cô đọng. Văn ông đầy chất thơ và mạch ngầm văn bản thì vô cùng tận.


 


Sự nghiệp sáng tạo của Chekhov rất bền bỉ, đồ sộ về số lượng (ngoài kịch, ông viết hơn 700 truyện ngắn), và rất vĩ đại về chất. Tiếc thay, căn bệnh lao quái ác đã cướp đi tài năng đang ở độ sung sức. Chekhov mất ngày 15-7-1904, thọ 44 tuổi.


 


Trích thư gửi Aleksey S. Suvorin


 


Anh phê phán tôi về tính khách quan, gọi đó là thái độ dửng dưng đối với cái tốt và cái xấu, thiếu tư tưởng này tư tưởng nọ và cứ thế. Anh hẳn muốn tôi, khi miêu tả những tên trộm ngựa, thì phải nói: "Trộm ngựa là xấu xa." Nhưng điều đó đã được biết từ rất lâu mà chẳng cần tôi nói ra. Hãy để bồi thẩm đoàn phán xét họ; công việc của tôi đơn giản chỉ cho thấy họ thuộc loại ngưòi nào


 


...


 


Khi viết tôi tính toán kĩ lưỡng đến độc giả và để cho tự anh ta bổ sung thêm những thành tố chủ quan mà câu chuyện đang thiếu.


 


Thư gửi Maxim Gorki


 


Khi đọc bản in thử, hãy gạch bỏ đám từ ngữ bổ nghĩa cho danh từ và động từ. Anh có rất nhiều tư ngữ như thế, đến nỗi đầu óc của người đọc thấy có nhiệm vụ phải tập trung vào chúng, rồi anh ta chẳng mấy chốc sẽ trở nên mệt mỏi. Anh có thể hiểu ngay, khi tôi nói, "người đàn ông ngồi trên cỏ"; anh hiểu bởi vì điều đó rõ ràng và không đòi hỏi phải tập trung chú ý.


 


Trái lại, sẽ không dễ hiểu và thách đố đầu óc nếu tôi viết, "Một người đàn ông tầm vóc trung bình, ngực lép, cao, có bộ râu đỏ, ngồi trên cỏ xanh, bị những người đi bộ ngang qua khinh bỉ, ngồi lặng im, rụt rè và nhút nhát nhìn về phía hắn." Viết như thế thì tư duy chẳng thế nào nắm bắt được ngay lập tức trong khi đó, cách viết giỏi sẽ được nắm bắt ngay - trong khoảnh khắc.


 


Nguồn: Văn Nghệ Trẻ


 


Sêkhốp - một nụ cười độ lượng


 


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thương nhân cấp thấp, Antôn Sêkhốp đã có một cuộc sống tuổi thơ tù đọng, nhàm tẻ, lẻng xẻng những xu, hào, rền rĩ những lời chì chiết, đay nghiến, đòn roi. Thế nhưng Sêkhốp cứ thế lớn lên, trưởng thành, tâm hồn không hề bị cằn cỗi, thui chột mà ngược lại càng mềm mại, dịu dàng, trong sáng. Phải chăng do ông quá hiểu cuộc sống nghèo hèn, tù túng này? Không, vì ông là con người tài trời, ông đã được tạo hóa ban cho nhiều sức lực sáng tạo song lại tàn nhẫn cướp đi thời gian vật chất để ông không có cơ hội tiếp tục hoàn thành sự nghiệp của đời mình.


 


Giờ đây, nhớ đến ông, chúng ta lại mường tượng đến một gương mặt hiền hậu, đôi mắt thông minh ẩn sau cặp kính không gọng, trên môi thoáng nụ cười ý vị. Trong các truyện ngắn của ông luôn luôn chứa chan tình yêu và sự thấu hiểu thế giới thực tại. Từ Olga Ivanovna và Dưmov trong "Người đàn bà phù phiếm" đến bác sĩ Kirilốp và Abôghin trong "Hai kẻ thù" đều được Sêkhốp nhìn bằng con mắt nhân hậu, thương cảm. Ông không cho mình cái quyền được phán xét và lên án một ai, mỗi một nhân vật mà ông dựng lên là một tính cách, một hoàn cảnh, một số phận. Ông nhìn con người như bậc trên nhìn kẻ dưới, đầy độ lượng, bao dung. Ông không xét đoán tình yêu ở sự chung thủy mà phải yêu như thế nào cho xứng đáng, do đó ông không lên án Olgo Ivanovna ("Người đàn bà phù phiếm") như lẽ thường. Điềm đạm, ít nói và hiểu cặn kẽ tâm lý con người là những tính cách dễ nhận thấy nhất ở ông được toát ra trong truyện "Những kẻ thù", ông viết: "... Nói rộng ra thì lời nói dù có hoa mỹ và đầy ý nghĩa đến đâu cũng chỉ tác động đến những người dửng dưng ngoài cuộc mà không bao giờ tác động đến được những người có hạnh phúc hoặc không có hạnh phúc. Vì vậy biểu hiện cao nhất của niềm hạnh phúc hay nỗi đau thường là sự im lặng, và điếu văn thống thiết, lâm ly đọc bên một người chết chỉ làm xúc động những người không thân thích, còn đối với bà quả phụ và những đứa con của người chết thì lời điếu ấy thật lạnh lùng và vô nghĩa...", vậy còn gì để nói nữa đây?


 


Điều đặc biệt và cũng là sự độc đáo, riêng biệt ở hầu hết các truyện ngắn của ông chính là không có cốt truyện nhưng sức chứa tinh thần mà ông đem lại cho người đọc lại rất lớn. Có thể ví các truyện ngắn của ông như những "lát cắt tươi rói" trong cuộc sống hoặc nói một cách khác, ông đã bê những "mảng sống" ngoài xã hội vào trong truyện của mình, tiêu biểu: "Anh béo anh gầy", "Mặt nạ", "Con kỳ nhông", "Cây phúc bồn tử"... Ở những "mảng sống" này, ông đã khiến người đọc cảm thấy tất cả sự khủng khiếp của cuộc sống tù đọng, trì trệ, nhỏ nhoi của những con người bị tấm lưới tư hữu chằng buộc, níu kéo, một kiếp người đến là thảm thương.


 


Một điều đặc biệt nữa ở ông chính là sự chân thật, ông sống thế nào thì viết thế đấy, không hoa mỹ, không ồn ào, giả dối. Song trong cuộc đời cầm bút, ông đã tìm thấy những điều mà ông cho rằng quý giá hơn cả đó là sự vật lộn muôn thủa giữa bản nguyên tối và bản nguyên sáng, giữa cái chết, tình yêu và sự sống trong tâm hồn mỗi con người. Từ đó ông làm thức dậy trong tâm trí người đọc khát vọng về một sự đổi thay, khát vọng về một thế giới đẹp đẽ, công bằng, cao thượng. Và đó cũng chính là niềm tin tưởng của ông trên con đường tìm kiếm, niềm tin đã biến những truyện ngắn của ông trở nên bất tử.


 


Antôn Pavlôvits Sêkhôp: Người nghệ sĩ của cuộc sống


 


Antôn Pavlôvits Sêkhôp là một trong những nhà văn đại diện vĩ đại của chủ nghĩa hiện thực phê phán văn học Nga. Ông là cây bút thiên tài về truyện ngắn và kịch. Đến nay, nhân loại vẫn gọi ông là "nhà văn làm ta muôn thuở say mê".


 


Với 24 năm lao động nghệ thuật cần mẫn, Sêkhôp đã để lại một di sản văn học phong phú, độc đáo, lột tả sâu sắc, chân thực cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của nhân dân Nga với bút pháp chủ nghĩa hiện thực phê phán, làm cho mọi người thấy được tất cả sự khủng khiếp của cuộc sống cũ nhỏ nhen, trì trệ và thức dậy trong lòng người đọc khát vọng về một sự thay đổi lớn lao cần phải có.


 


Có thể nói Sêkhôp là bậc thầy của thể loại truyện ngắn, một thể loại tưởng chừng như đơn giản nhưng đã làm nản lòng không ít nhà văn. Hiếm nhà văn nào có khối lượng truyện ngắn đồ sộ và đặc sắc như Sêkhốp với gần 500 truyện ngắn, chính ông là người đã nâng thể loại truyện ngắn tới mức hoàn thiện, mở lối khơi đường với cách viết độc đáo, sáng tạo. Toàn bộ truyện ngắn của Sêkhốp là bức tranh liên hoàn gồm nhiều mảng nhỏ hợp lại dựng lên chân dung xã hội Nga những năm cuối thế kỷ XIX. Truyện của Sêkhốp nhìn chung thường đơn giản về phương diện kết cấu, ngắn gọn, trau chuốt về phương diện ngôn ngữ. Người đọc nhận ra trên những trang viết của ông giọng khách quan lạnh lùng xen lẫn đồng cảm, sẻ chia, giọng trữ tình đầy chất thơ xen lẫn chất hài hước. Sêkhốp chủ trương miêt tả cuộc sống một cách chân thực khách quan song ông hoàn toàn không dửng dưng đối với những gì ông viết. Bàng bạc khắp truyện là một tâm sự âm thầm, một ước mong khắc khoải, một khát vọng lay chuyển cuộc sống. Thái độ tình cảm của Sêkhôp bộc lộ một cách kín đáo, nhiều khi không thể bộc lên bằng âm thanh, từ ngữ mà chỉ “cảm” thấy qua toàn bộ những gì làm nên tác phẩm. M.Gorki đã nhận xét rất có lý rằng: Đọc Sêkhôp, chúng ta thấy “phảng phất đâu đây nụ cười buồn buồn của một tâm hồn biết yêu thương”, “tiếng thở dài khẽ mà sâu của một trái tim trong sạch”.


 


Antôn Sêkhôp là một nghệ sĩ lớn, giữa ranh giới hai thế kỷ, đã góp phần mở ra một thời kỳ mới trong sự phát triển của văn học Nga. Sáng tác của Sêkhôp đã vươn tới những giá trị nhân đạo cao cả và trở thành di sản quý báu trong nền văn hóa nhân loại. Các tác phẩm của ông gợi lên dòng phản kháng đầy căm hờn đối với xã hội Nga đương thời, thức tỉnh tư tưởng xã hội, nêu lên khát vọng của một bộ phận tiên tiến trong xã hội Nga trước cách mạng, niềm dự cảm say sưa về trận bão táp tương lai sẽ quét sạch cuộc sống cũ, mở đường cho cuộc sống mới đi lên. Cảm hứng lạc quan cách mạng trong tác phẩm Sêkhôp đã chuẩn bị cho bước chuyển hướng mạnh mẽ qua nền văn học vô sản tràn ngập sức sống mãnh liệt.


 


Sêkhôp không chỉ là nhà cách tân trong truyện ngắn mà còn cống hiến lớn lao vào ngành kịch Nga. Bước vào lãnh vực này, Sêkhôp đã tiếp tục những truyền thống ưu tú nhất về kịch theo chủ nghĩa hiện thực phê phán, đồng thời nâng kịch Nga lên một chất lượng mới. Tình yêu sân khấu từ những năm tuổi trẻ và khát vọng khái quát hóa về mặt nghệ thuật toàn bộ cuộc sống đã thôi thúc ông say mê, gắn bó với kịch.


 


Nói về Sêkhốp, nhà văn Nguyễn Tuân bộc bạch: " Sêkhốp là con chim linh điểu của buổi tịch dương trên đồng cỏ dại nước Nga xưa, Sêkhốp là cánh diều sáo vĩ đại, trên đôi cánh âm vang tiếng nói của hiện thực và nhịp thơ của lãng mạn. Sêkhốp là bậc thầy của tiếng Nga, tên tuổi ông sáng chói trong lâu đài của Chủ nghĩa nhân đạo."


Sêkhôp xứng đáng là “một nghệ sĩ vô song”, "nghệ sĩ của cuộc sống” (L.Tônxtôi).


N.B


 


Sêkhốp: Cửa Vào Vĩnh Cửu


"Một trong những nhà văn 'phá hoại, lật đổ' sâu thẳm nhất từng có mặt trên cõi đời này": rất ít người, ngay cả trong số những độc giả ái mộ Chekhov, đồng ý với nhận định trên của Simon Karlinsky, người tuyển chọn, và bình luận một số thư từ của nhà văn Nga thường vẫn được coi là "hiền lành" này. (Anton Chekhov's Life and Thought: Selected Letters and Commentary, Michael Henry Heim và Simon Karlinsky dịch từ tiếng Nga, 494 trang, nhà xb Northwestern University Press, 1997).


 


Khác với tiểu thuyết của Dostoevsky: cơn lũ ma quái, của cái gọi là tâm lý con người, kịch và truyện của Chekhov là về những con người bình thường, với cuộc sống nhàm chán, vô vị của họ. Trong khi Tolstoy rao giảng chủ nghĩa vô chính phủ chống lại Nhà Thờ Nga, và Nhà Nước, Anton Chekhov lặng lẽ làm một ông thầy thuốc nhà quê, một ông chủ trại nho nhỏ, cho tới khi tình trạng sức khoẻ bắt buộc ông phải lui về sống những mùa đông ở Yalta. Một cuộc sống tránh né mọi vấn nạn nóng hổi của thời đại, cuối cùng cho thấy, sự thiếu vắng ý thức "dấn thân" như thế đó, đã làm cho những gì ông viết ra, đầy chất phá hoại (subversive). Thái độ diễu cợt khi đả động tới "cái đúng", "phải đạo", bây giờ mới cho thấy tính "tiên tri" của nó. Ông "coi thường" rất nhiều những "tín lý" của xã hội hiện đại, về tiến bộ, tự do, đạo đức cá nhân và (không như Tolstoy), ông đã không tìm cách thay thế những gì mà ông huỷ diệt, bằng những "huyền thoại" riêng của mình.


 


Xã hội thời đó trông mong ở những nhà văn của nó, như những người dẫn đường về ý thức hệ, đạo đức, trong cuộc chiến chống lại vương quyền. Trong khi những nhà phê bình cấp tiến đề cao những nhà văn "hạng nhì" như Zlatovrasky và Gled Uspensky, với những nhân vật đối nghịch: thầy tu, nhà buôn, sĩ quan (những nhân vật phản diện xấu xa)/những người dân quê, những con người trẻ tuổi lý tưởng (những nhân vật với trái tim trong trắng), Chekhov viết thư cho vị chủ báo bắt đầu in tác phẩm của mình: Tôi chẳng cấp tiến, chẳng bảo thủ, chẳng tu sĩ, chẳng dửng dưng. Tôi chỉ muốn là một nghệ sĩ tự do, và chẳng cần chi nữa... Thái độ đạo đức giả, sự ngu si đần độn, hành động hiếp đáp, cả vú lấp miệng em, bạo chúa... ngự trị không chỉ ở trong những gia đình con buôn, những trạm cảnh sát. Tôi thấy chúng ở trong khoa học, văn chương, thế hệ trẻ. Đó là lý do tại sao tôi chẳng trông mong gì ở đó... Điều thánh thiện nhất trong mọi điều thánh thiện, riêng với tôi, đó là thân thể người ta, sức khoẻ, sự thông minh, tài năng, hứng khởi, tình yêu và... tự do - thoát ra khỏi bạo lực và những điều dối trá - không cần biết hai thứ sau mang hình dáng nào."


 


Sự ghê tởm bạo lực và giọng ấm ớ đạo đức, Chekhov có rất sớm, ngày càng lộ rõ. Ông có lần nhận xét (nhân nói về thái độ lý tưởng của Tolstoy đối với dân quê Nga): "Tôi nhà quê ở trong máu, và tôi chẳng hề bị xúc động bởi những đức hạnh của họ."


 


Ông sinh năm 1860, được một tuổi là bãi bỏ chế độ nông nô. Ông nội, ông ngoại là nông nô. Ông già trút được lốt nhà quê khi chen chân làm chủ một cửa tiệm tại thành phố Taganrog ở phía Nam nước Nga. Là con trai thứ ba trong sáu người, ông nhớ hoài nguồn gốc nông dân, chế độ gia trưởng tàn bạo của ông bố mà ông và hai người em trai là nạn nhân, chưa kể những giờ dài đằng đẵng quì trên đá lạnh, hát thánh ca tại nhà thờ, dưới con mắt khắc nghiệt của ông thầy dậy nhạc. Mười sáu tuổi, bị bỏ lại ở Taganrog, tự lo thân, khi ông bố khánh tận phải đem gia đình về Moscow tìm việc làm. Trong ba năm vừa học vừa lo kèm trẻ, ông làm được điều Tolstoy suốt đời mơ ước nhưng không sao thực hiện được: tái tạo ra chính mình, một con người như một toàn thể đạo đức, thoát ra khỏi những biến dạng, bởi chế độ bạo chúa vốn đè nặng đời đời kiếp kiếp lên người dân Nga.


 


Ông trở thành đầu đàn trong gia đình, sự sống còn chỉ còn trông vào số tiền ông gửi về. Cùng thời gian, ông lo tự trau giồi bằng những giờ tại thư viện thành phố. Thành quả của những năm tháng cô đơn đó, chúng ta có thể nhìn ra, trong thư viết cho người em, Nicolai: "để vượt lên khỏi những ngọn roi khốc liệt thuở ấu thời, (em) phải làm sao tạo được sự kính trọng của những con người có nhân cách; phải tự kiềm chế trước hành động nông nổi, liều lĩnh, và lừa dối; không được ngừng đọc, nghiền ngẫm sâu xa, trau giồi ý nguyện của mình. Mỗi giờ là một hiếm hoi, quí báu." Vào năm ba mươi tuổi, ông đã chứng tỏ điều này, khi một nhà xuất bản coi ông là một nhà văn "vô nguyên tắc": "Tôi chưa từng nịnh bợ, nói dối, sỉ nhục bất cứ một ai", "chưa từng viết ra một dòng mà tôi cảm thấy nhục nhã vì nó."


 


Đời văn của Chekhov bắt đầu, là để giúp đỡ gia đình, khi ông được học bổng, và rời thành phố quê hương tới Moscow làm sinh viên Đại học Y khoa. Trước tiên là những bài viết nho nhỏ, gửi cho những tuần báo. Thành công đến nỗi, sau khi tốt nghiệp y khoa, ông "đành" phải chia thời giờ ra làm hai, "giữa y học... người vợ hợp pháp, và văn chương... người tình (bà vợ bé), của tôi."


 


Truyện ngắn của ông có một sắc thái riêng, đề tài đa dạng, trải dài toàn cảnh nước Nga với những con người của nó. Chưa tới ba mươi, ông đã là một nhà văn lớn. Năm 1887, vở Ivanov cho ông danh hiệu: người viết bi kịch. Nhờ nó, ông mua được căn nhà cho gia đình, thuộc vùng ngoại vi Moscow. Trở thành nhân vật trung tâm của giới văn nghệ thủ đô, và của phái đẹp; một số người tình (trước khi có vợ, vào năm bốn mươi) sau này trở thành bạn thân. Bạn trai cũng "mê" ông: Họa sĩ Konstantin Korovin mô tả bạn mình "cực kỳ đẹp trai", với đôi mắt dịu dàng, và một nụ cuời "e thẹn lạ chi đâu", "toàn vẻ bề ngoài gây một sự tin cậy đặc biệt". Niềm tin cậy đặc biệt này, là do tình nhân loại "chân trần", luôn luôn bám vào đất của ông. Chính nó đem đến cho ông "một cái mũi rất nhọn" chuyên trị mùi ghê tởm, của "thói đời".


 


"Tôi có niềm tin vào sự tiến bộ, ngay khi còn là một đứa bé, nhưng chuyện đó chẳng giúp tôi, khi không tin vào nó, bởi vì sự khác biệt giữa thời kỳ thấm đòn, và hết còn bị đòn, thật là lớn lao." Ông ngưỡng mộ thái độ lý tưởng của những người Nga cấp tiến, nhưng những lời hô hào của họ chỉ làm ông nhớ lại ấu thời: "Tôi quá ớn sự lạm dụng, bất kể nó nhắm vào ai." Ông buộc tội tầng lớp trí thức, do không tưởng nên bỏ qua những thành quả của zemstva - Những Thay Đổi Lớn, The Great Reforms, hay là những định chế mà chính quyền đưa ra vào thập niên 1860 - nhằm canh tân xã hội Nga. Về những tiến bộ trong ngành giải phẫu tại Nga trên hai thập niên trước đó, ông có lần đưa ra nhận xét, "nếu phải chọn lựa giữa không tưởng cấp tiến, được miêu tả như trong tiểu thuyết của Nicolai Chernyshevsky, What Is to Be Done?, nổi tiếng vào thập niên 1980, và bệnh viện tồi tệ nhất 'zemstvó, tôi chẳng do dự lấy một chút, khi ôm lấy bệnh viện."


 


Những nghiên cứu, ghi nhận riêng của ông, về "việc thiện", humanitarian work, thật đáng nể. Cuốn sách của ông về đảo tù Sakhalin (The Island of Sakhalin, 1893, dựa trên số liệu từ những cuộc thanh tra tình trạng y tế ở đó) đã bầy ra cho cả nước Nga thấy sự khủng khiếp, ghê rợn của hệ thống nhà tù. Những cố gắng của ông trong việc cứu đói tại vùng ông vào năm 1891-1892, được kèm theo bằng những chuyến đi mệt nhoài, thường lội bộ suốt vùng băng giá, như một ông thầy thuốc không được trả lương có nhiệm vụ ngăn chặn một trận dịch, bên cạnh một trận đói. Ông đã chữa trị hàng ngàn dân quê tại y viện địa phương, hoạch định, tham gia việc xây cất trường lớp, thư viện, đóng góp tiền bạc cho những công trình phúc lợi, trong đó có việc cứu trợ một tờ báo y học bị khánh tận; mua ngựa phân phát cho dân chúng, làm phương tiện chuyên chở lúa gạo. Chính thái độ lăn sả vào cuộc sống hàng ngày đã khiến ông trở nên khinh khi, những phương thuốc về một "ngày mai ca hát", hay rõ hơn, một cuộc cứu đói toàn cầu: nhân một chuyến thăm Venice, ông đưa ra nhận xét, một trong những niềm vui của "Đến thăm Venice rồi hãy chết": thành phố thiếu vắng hẳn, những bộ mặt làm ra vẻ quan trọng, của mấy ông Mác-xít. Khi đến thăm Hong Kong, ông nhận xét, so với người Nga, người Anh vậy mà đã nhiệt tình quan tâm tới những "người làm" (employees) của họ. Ông viết, tôi chẳng hề tin, vào tầng lớp trí thức "en masse"; ông đặt để niềm hy vọng của mình, ở nơi những cá nhân, bất kể trí thức hay nông dân, rải rác khắp nước Nga, chỉ có họ là đáng kể: chỉ với những hiểu biết, những cố gắng của họ mà xã hội từ từ biến đổi.


 


Đề tài trấn ngự, cơ bản của nghệ thuật "Chekhovian", là từ cuộc chiến đấu đầu đời, cộng với những thực hành, do nghề thầy thuốc mang lại: cuộc chiến đấu của những ước vọng con người, chống lại những hoàn cảnh "bất thuận lợi". Những năm tháng ở Taganrog đã dậy ông một điều: những cuộc chiến đấu quan trọng nhất, mang tính đạo đức, "được hay thua" không phải vào thời điểm căng thẳng, bi đát, mà thông qua một quá trình những chọn lựa chẳng có gì đáng kể, rất cá nhân. Chúng ta có thể nhận ra dáng dấp của "người hùng Chekhovian", qua lời khuyên của ông, gửi tới nhà xuất bản, và cũng là bạn, Aleksei Suvorin, khi ông này viết một bi hài kịch truyền thống: Bạn không thể kết thúc với những người theo chủ nghĩa hư vô. Với họ, chỉ có bão tố, hung bạo. Điều vở kịch của bạn cần, là một kết cục êm ả, trữ tình, cảm động... Nếu nữ nhân vật của bạn, sau cùng nhận ra, những con người quanh cô, đều làm xàm, vô dụng, xấu xa... điều này chẳng lẽ không "khủng khiếp", hơn cả chủ nghĩa hư vô, hay sao? Điều kỳ lạ, ở cái bình thường; thảm kịch, của điều "chẳng có gì bi thảm", đó là đề tài kịch Chekhov, cùng với nó là cuộc cách mạng kịch nghệ Nga, vào thập niên cuối đời ông. Vở kịch lớn đầu tay, Ivanov, vẫn còn giữ những yếu tố bi kịch truyền thống, đã được đón nhận khá nồng nhiệt; vở kế, The Seagull (trong đó, ông đưa ra kỹ thuật của mình, bỏ đi những "mưu đồ" kịch mang tính ước lệ), đã là một thất bại thê thảm, ngay đêm đầu được trình diễn, vào tháng Mười, 1896; nhưng lần trình diễn thứ nhì, tại Moscow vào năm 1898, đã được nồng nhiệt đón nhận, cũng như những vở kế tiếp: Uncle Vanya, Three Sisters, và vào tháng Giêng 1904, The Cherry Orchard. Sự kiện "chẳng có gì xẩy ra", ở trong kịch Chekhov, đã trở thành "dấu ấn" của ông, nhưng giới phê bình lại coi đây là khả năng tạo nên không khí, trạng thái kịch, chúng thường được cắt nghĩa như những gợi nhớ u buồn về một nước Nga tranh tối tranh sáng, khi những bậc trưởng thượng, đại diện cho giai cấp đang hấp hối, "nhìn ngắm những cuộc đời thừa thãi của họ."


 


Richard Gilman, trong "Kịch Chekhov: Cửa vào Vĩnh cửu" (Yale University Press, 261 trang, 1997), đả phá những nhận định "bản kẽm" như thế. Ảnh hưởng Francis Ferguson, khi coi The Cherry Orchard là "thơ-kịch của nỗi khổ đau, do tang thương dâu bể", Gilamn tiếp cận kịch Chekhov: "một điều giả dụ như là không-bi đát"; "miêu tả, không phải một hành động, nhưng một điều kiện"; nỗi thống khổ ở đây là do cảm nghĩ của chúng ta - những con người sinh tử lão bịnh - về thế gian; chúng ta: mồi ngon của thời gian, và của đổi dời. Khả năng của Chekhov - khi "bi đát hóa" nỗi "không-bi đát", thảm kịch của điều vô ích, của chuyện thường ngày - thật mãnh liệt, ở Three Sisters, trong đó, bước đi thời gian sói mòn dần mọi hy vọng về tương lai vẹn toàn, qua chuyến về thành phố, nơi đồng nhất với quá khứ lý tưởng của họ. "Nó đâu mất rồi? Đâu? Đâu? Chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở về được Moscow, chẳng bao giờ... giờ này, tôi thấy rõ điều đó."


 


Như Gilman chỉ ra, rất nhiều nhân vật của Chekhov mong ước trở nên một người nào khác, ở một nơi chốn nào khác, "kịch" bắt họ trở về nơi chốn, con người, là họ hiện giờ. Nhưng ở đây không có vấn đề "số mệnh, căn phần". Diễn tiến đơn tuyến, ước lệ đưa đến nút mở chót, được thay thế bằng điều mà Gilman gọi là "trường bi kịch" (dramatic field): chuỗi phản ứng đưa đến cảm nhận về sự mất mát. Chúng ta chỉ nhìn thấy những nhân vật, một khi, bị giam cứng vào vùng ao tù đóng váng, họ chẳng còn chi để mà vui đùa, giải trí, ngoại trừ những câu nói dấm dẳn, những mẩu chuyện nhát gừng, đong đưa giữa hoài nhớ, và nhận thức, được đánh dấu bằng những trống vắng, bằng đột biến, từ khôi hài qua nghiêm trọng. Như Karlinsky chỉ ra, một trong những tư tưởng "chìa khóa" của Chekhov, là trong bản tự thuật tóm tắt (resumé), theo đó, tác giả khẳng định, nghề y của ông đã có một ảnh hưởng quan trọng đến sáng tác văn học. Ông nhấn mạnh, nhà văn phải trung thành với thực tại thực nghiệm, về thế giới, hành vi cư xử của con người; và đưa ra những nhân vật, với những cái nhìn "khách quan tuyệt hảo". Khi một truyện ngắn của ông bị coi là không có một thái độ rõ ràng về chủ nghĩa bi quan, ông trả lời: công việc của nhà văn không phải là giải quyết những vấn đề như là Thượng Đế, bi quan... nhưng ghi nhận, ai, trong điều kiện nào, đã nói, hay đã nghĩ thế này thế nọ, về Thượng Đế, về bi quan.


 


Trên tờ TLS, July 18, 97, John Stokes, khi điểm cuốn Anton Chekhov: A Life (Donald Rayfield, nhà xb HaperCollins, 674 trang, 1997), đã cho rằng chủ nghĩa nhân bản Chekhovian, vốn nhập thân vào những nhân vật thầy thuốc, mãnh liệt, vì nó kính trọng "tiếng hát nhân ngư" từ cõi tư riêng (the siren-songs of privacy), từ nỗi bầm rập, té lên té xuống, của con người. Những đức hạnh của con người, "chân thật nhất, hướng thượng nhất, nhưng cũng khó khăn nhất", có cội rễ ở từ "Sod", tên con mongoose, hay mangu, của Chekhov. Ông nói, những đặc tính của con vật, là "can đảm, tò mò, và rất mến con người". Con vật Sod tội nghiệp có cơ hội là bỏ chạy, cuối cùng chấm dứt cuộc đời, tại Sở Thú Moscow. Chủ của nó cũng chia sẻ với con vật thân yêu của ông, "đặc tính" chạy trốn đó, nhất là khi có đàn bà dính vô! Rayfield cho biết Chekhov sợ sex như sợ bệnh nghiền; nếu ông đầu hàng, nó sẽ tiêu huỷ tự do và tài năng sáng tạo của ông. Thù Zola, khi miêu tả những cuộc tình "nhà nghề, thô bỉ", ông đã viết về một gái điếm Nhật, "nghề riêng ăn đứt", đến nỗi "bạn cảm thấy không phải đang tình tự, mà là tham dự một lớp cao học, về nghệ thuật cưỡi ngựa." Tuy đẹp trai, nhưng qua cuốn tiểu sử của Rayfield, chúng ta thấy đây là một con người với những cuộc tình "bỏ đi". Thê thảm nhất là cuộc tình với "Lika" Mizinova, một người đẹp nghệ sĩ. Trong nhiều năm họ chia sẻ hoan lạc, hiến dâng, và sự lạnh lùng, dửng dưng.


 


"Tin tưởng vào Chúa, một chuyện quá dễ dàng. Đám "mật vụ" nhà thờ người Tây Ban Nha (inquisitors), tin vào Chúa. Không, bạn phải tin vào con người! Niềm tin này, chỉ có thể khả hữu, ở một số rất ít những con người hiểu và cảm thấy Christ.", một truyện ngắn Giáng Sinh của Chekhov đã kết thúc như vậy, nhưng đã bị kiểm duyệt đục bỏ.


 


NQT


 


 


Hội thảo 100 năm ngày mất của Sêkhốp


Sáng 1/7/2004, tại Trung tâm khoa học và văn hóa Nga (501 Kim Mã - Hà Nội) đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học về truyện ngắn và kịch Sêkhốp, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông (1860-2004)


Tại cuộc hội thảo, 7 tham luận của các GS, TS, các nhà nghiên cứu, nhà văn đã đưa ra những cách tiếp cận khác nhau đối với sáng tác của Sêkhốp cũng như đóng góp thêm những tiếng nói trong việc tôn vinh ông là nhà cách tân nền văn học hiện thực cổ điển thế kỷ XIX, mở con đường mới cho văn học, nghệ thuật thế kỷ XX.


 


Để lý giải vấn đề trên, TS. Đào Tuấn Ảnh đã chọn cho mình một cách tiếp cận mới: xem xét sáng tác của Sêkhốp trong mối liên hệ với những thành tựu của văn hoá, nghệ thuật Nga giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (tức thời kỳ diễn ra quá trình sáng tác của nhà văn). PGS-TS. Phạm Vĩnh Cư lại chọn cho mình một con đường khác, để chứng minh Sêkhốp là nhà văn xuôi tự sự, nhà viết kịch giàu tính cách tân, ông chia quá trình sáng tác của Sêkhốp làm 5 phần. Phần 1: Thể tài và thể loại trong truyện ngắn Sêkhốp; phần 2: Cảm thức cuộc sống trong truyện và kịch Sêkhốp; phần 3: Cái hài và cái nghiêm; phần 4: Chủ đề và cốt truyện; phần 5: Tác giả, nhân vật và người thưởng thức truyện Sêkhốp.


 


TS. Đỗ Hải Phong lại có những nhận định khi nói về "lớp nghĩa hàm ẩn", "độ sâu văn bản", "chủ nghĩa tâm lý mạch ngầm", "sự mỉa mai nội tại", "mạch ngầm trữ tình" trong các truyện ngắn và truyện vừa của Sêkhốp. Theo ông Phong mạch ngầm văn bản ẩn hiện dưới điều được kể không chỉ làm tăng dung lượng thông tin, xúc cảm thích ứng với nguyên tắc "kiệm ngôn" cho những tác phẩm văn xuôi "thể loại nhỏ" của nhà văn, nó còn góp phần làm nên diện mạo riêng của Sêkhốp trên văn đàn. Khai thác được mạch ngầm văn bản của Sêkhốp thực chất mới là tìm đến được điều quan trọng nhất trong sáng tác của ông.


 


Đặc biệt, bài tham luận của PGS-TS. Lê Nguyên Cẩn về vấn đề đưa truyện ngắn "Người trong bao" vào chương trình Văn học nước ngoài lớp 11, sách cải cách có thích hợp hay không? Vì theo ông đây chưa phải là truyện ngắn thuộc loại hay nhất và độc đáo, thể hiện nhiều phong cách truyện ngắn Sêkhốp. Ưu điểm của truyện là dễ đọc, dễ đáp ứng yêu cầu giảm tải đối với học sinh PTTH, song cũng rất khó dạy bởi tác phẩm không được trích trọn vẹn mà chỉ trích một vài đoạn phù hợp với số tiết được giảng. Như vậy sẽ là mất đi ý nghĩa thẩm mỹ của câu chuyện và chủ thể tiếp nhận chính là học sinh. Đây đang là vấn đề bức xúc không chỉ đối với đội ngũ giáo viên mà còn với các nhà nghiên cứu khoa học.


 


Ngoài ra, một số tham luận của GS. Phong Lê, TS. Lê Huy Bắc, nhà văn Vương Trí Nhàn... đã cho chúng ta thấy một giai đoạn tiếp nhận sáng tác văn học Sêkhốp ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam.


 


Cũng trong buổi hội thảo này, lần đầu tiên 20 truyện ngắn, truyện vừa trong số 1.000 tác phẩm của Sêkhốp như: "Cuộc đấu súng; Cây đàn cho Rosidn; Dọc đường; Một câu chuyện vặt vãnh..." (do TS. Đào Tuấn Ảnh dịch) sẽ được giới thiệu, bổ sung vào những tập truyện ngắn đã từng được dịch trước đây của ông.


VietNamNet


 


Một vài nét tiểu sử Antôn Sêkhốp


Antôn Sêkhốp sinh ra và lớn lên trong một gia đình thương nhân cấp thấp tại Thành phố Taganrog, nơi tận cùng của một vùng thảo nguyên trên bờ biển Azốp. Năm 1879, ông tốt nghiệp trường ĐH Tổng hợp khoa Y. Năm 1980, ông bắt đầu tham gia viết báo cho các tờ như: Con chuồn chuồn; Đồng hồ báo thức; Khán giả; Chuyện vặt... với những bút danh nghe rất kỳ dị: Người bẩn tính, Ban-đa-xtốp, Anh của em anh ta, Bác sĩ không có bệnh nhân, An-tôn-xôn, Người không nước mắt...


 


Tháng 3/1880, lần đầu tiên ông được in hai truyện ngắn trên tờ Con chuồn chuồn: "Bức thư của điền chủ miền sông Đông"; "Người thường gặp nhất trong các truyện ngắn, tiểu thuyết". Bắt đầu từ đây, sự nghiệp sáng tác của ông trở nên lẫy lừng với những tác phẩm sau này quen thuộc với hàng triệu độc giả trên toàn thế giới: "Người đàn bà và con chó nhỏ; Phòng số 6; Người trong bao; Con kỳ nhông; Lão quản Prisưbeep; Một chuyện đùa; Hai kẻ thù; Người đàn bà có căn gác nhỏ...".


Ông mất vào ngày 15/7/1904, hưởng 44 tuổi.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »