tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20520154
19.03.2012
Vũ Bằng
Tú Mỡ, nhà thơ trào phúng chết hai lần!

Nếu tin ấy được xác nhận, nhà thơ trào phúng Tú Mỡ quả là đã chết hai lần.


Tin ấy, đến với chúng tôi vào một ngày đầu năm năm Tân Hợi, như thế này: Tú Mỡ vừa tạ thế ở Hà Nội, thọ bảy mươi mốt tuổi.(1)


 


Tại sao lại chết hai lần?


Tôi nói chết hai lần là vì lúc bắt đầu kháng chiến chống Pháp, ông đã chết một lần rồi. Câu chuyện này một số lớn anh em văn nghệ từ Việt Bắc về Đồng Quan Cống Thần đều biết. Lúc ấy, Pháp nhảy dù ở Việt Bắc. Vì chạy chậm, ông bị quân đội Pháp bắt và giải về một đồn do một sĩ quan Pháp giữ. Tú Mỡ còn giữ khư khư ở trong tay cái cặp táp mang nhiều giấy má quan trọng của cơ quan vì lúc ấy ông giữ một chức vụ của Bộ Tài chánh. Trước đó, trong thời Pháp thuộc, Tú Mỡ làm ở Sở Tài chánh Hà Nội. Ra ngoài kia, ông tiếp tục công việc ấy. Bị bắt, với bằng chứng rõ ràng, Tú Mỡ không chối cãi. Ông bình tĩnh chờ chết. Nhưng tức một nỗi là tên đại úy thẩm vấn ông lại không chịu xử ngay, cứ giam lại ở đó. Thái độ ấy làm cho bất cứ ai cũng bực. Muốn bắn thì bắn ngay cho rảnh chuyện. Đằng này, viên đại úy trưởng đồn lại cứ “om” Tú Mỡ lại đấy. Mà lạ là ông ta đối xử với Tú Mỡ một cách không mấy tàn ác, cho tắm rửa ăn uống tử tế. Ai đã từng bị bắt thấy “địch” hành động như thế cũng phải nghi ngờ và đặt nhiều giả thuyết. Tú Mỡ cũng vậy. “Nó” chưa bắn hay là để “dụ” mình chăng? Hay là “nó” thâm, đang nghĩ một cách tra tấn gì thật độc ác, thật khoa học để mình phải khai hết những bí mật trong cơ quan mình phục vụ? Thôi, nhưng mà đàng nào cũng chết, mà nó cho mình ăn uống tử tế thì tội gì chẳng ăn? Mai mốt ra sao, mặc. Tú Mỡ chờ. Tôi không hiểu trong đầu óc lúc ấy ông nghĩ những gì, nhưng chắc chắn là lì đến bực nào, lúc ấy lòng dạ cũng bi ai lắm. Ờ, lì đến như Cao Bá Nhạ là cùng chớ gì? Ấy mà lúc bị bắt ở Hương Tích cho vào cũi đem đi, Cao Bá Nhạ cũng não nuột trong lòng, thốt ra Tự tình khúc tiếc nuối không biết bao nhiêu thứ :


Đuôi con mắt châu sa thấm giấy,


Đầu ngón tay máu chảy pha son,


Người đau phong cảnh cũng buồn,


Thông gầy như trúc, cúc mòn như mai.


Mối tâm sự rối mười phần thảm,


Gánh gia đình nặng tám năm dư,


Khi ngày mong bức xá thư,


Khi đêm than bóng, khi trưa hỏi lòng.


Kháng chiến chống Pháp, ai mà còn sợ chết? Nhưng là thế nhân có thất tình, Tú Mỡ tiếc nuối không có gì lạ hết. Thì vào giữa một đêm kia, viên đại úy Pháp tự nhiên cho một viên chức mời Tú Mỡ vào phòng giấy “có việc”. Thôi, thế cũng xong. “Nó” hỏi xong rồi nó bắn. Như thế lại thoát nợ chớ cứ dây dưa mãi thế này, bực lắm. Tú Mỡ tưởng tượng viên đại úy sẽ để lộ cái mặt thực vô cùng tàn ác của hắn ra và tự nhủ: “Tàn ác cách gì thì cũng chỉ đến chết mà thôi”. Nhưng ông đã tưởng tượng sai, viên đại úy lại mời ông ngồi tử tế. Thế mới thâm đấy nhé: nó làm ra mặt hiền, rồi chưa biết chừng nó rút súng ra bắn mình liền tại chỗ. Nhưng cóc cần. Theo “pơ lơ tông” ra bị bắn cả một bọn rồi dục xác xuống sông hay bị bắn trong phòng cũng vậy mà thôi. Tú Mỡ vừa ngồi vừa để ý xét nét từng hành động của viên đại úy. Mỗi phút lại càng làm cho Tú Mỡ ngạc nhiên hơn: viên đại úy Pháp không hỏi tội của ông, công tác của ông trong hàng ngũ kháng chiến, lại vớ va vớ vẩn nói chuyện học hành với ông và bàn luận về văn Việt và văn Pháp vì Tú Mỡ nói tiếng Pháp thạo mà viên đại úy, sau một cuộc điều tra, lại biết Tú Mỡ là một nhà thơ có tiếng. Câu chuyện kéo dài đến quá nửa đêm. Viên đại úy nói:


- Đây là cái cặp táp của ông với đủ giấy tờ, không suy suyển. Ông giữ lấy.


Giữ  lấy để làm gì? Hay là “nó” giở một cái mẹo gì đây? Tú Mỡ vừa cầm lấy cái cặp vừa “nghe ngóng binh tình”. Thì chẳng thấy có gì lạ hết. Tú Mỡ lên ngồi nói chuyện. Lần này, viên đại úy lại nói về xứ sở của y và tâm sự với Tú Mỡ là lúc y sang Việt Nam, y có để lại trong một căn nhà nhỏ ở Rue Bleue một người vợ đẹp lắm có mang sáu tháng. Hừ hừ, cái lối mật thám nó vẫn cứ hay giở cái trò dớ dẩn ra như vậy. Nhưng bịp được mình còn khuya. Ngoài miệng nói vài câu thông cảm, Tú Mỡ lúc bấy giờ cảm thấy ở trong mình, ruột rối tung lên như cái đồng hồ đứt dây thiều. Không phải là vì sợ y, nhưng rối ruột không hiểu viên đại úy muốn giở trò gì và muốn tiến tới đâu.


Lúc ấy đêm khuya thẳm. Bốn bề vắng lặng. Viên đại úy đứng dậy bảo:


- Thôi, bây giờ ta đi.


Đúng quá, có sai đâu. Tên Pháp ba xạo này nói chuyện tình cảm xong rồi, bây giờ bảo Tú Mỡ đi là để bắn đây. Đã nhất định như thế người ta không còn sợ nữa. Tú Mỡ đi theo viên đại úy. Y bảo Tú Mỡ đi lên một chiếc xe díp, rồi trèo lên sau rồ máy tự lái lấy đi vèo vèo. Ở đàng xa, trời sáng dần dần, trông đã hơi rõ mặt người. Tú Mỡ nhìn thẳng vào viên đại úy. Viên đại úy cũng nhìn Tú Mỡ. Từ lúc lên xe, cả hai người không nói gì với nhau. Đến lúc bấy giờ, y mới nói:


- Thôi, đây hết địa phận tề rồi. Bên kia là vùng kháng chiến. Anh còn có thì giờ nghĩ lại.


- Nghĩ lại thế nào?


- Anh không nhớ lúc đứng dậy lên xe, tôi có hỏi anh mấy lần là anh muốn gì, về Hà Nội hay trở lại với kháng chiến, thì anh nhất định trở về với kháng chiến sao? Tôi không khuyên anh gì hết. Tôi trọng ý kiến anh. Anh có thay đổi ý kiến không?


- Thưa ông, không. Tôi trở về với kháng chiến vì đó là bổn phận của tôi mà cũng vì vợ con tôi hiện nay vẫn còn ở cả ngoài kháng chiến.


- Vậy, anh xuống đi. Và chúc anh may mắn.


Thế là nghĩa lý gì? “Nó” lại thả mình à? Tú Mỡ càng không hiểu. “Nó” bảo mình đi, ừ thì đi; nhưng đi vài bước, Tú Mỡ băn khoăn, quay lại và lần này thành thực hỏi:


- Thế ra ông thả tôi thực hay sao?


- Anh biết đấy, lựa là phải hỏi.


- Xin cảm ơn. Nhưng ông có thể cho tôi biết quý danh và lý do ông thả tôi không?


- Ông chẳng cần biết tên tôi làm gì. Còn lý do thả ông, bởi vì ông hỏi, tôi xin nói: Tôi sang đây để lại một vợ có mang. Vợ chồng đương yêu thương nhau mà phải xa cách, ai mà lại không thấy xót xa trong lòng? Phục vụ quân đội được hai tháng thì một hôm tôi bị Việt Minh bắt giữ. Tôi yên trí không còn bao giờ được trở về quê hương để nhìn vợ nhận con. Thì may làm sao, người đại đội trưởng bắt được tôi chỉ giữ tôi có hai ngày chuyện trò tâm sự với tôi, thảo luận với tôi về cuộc chiến tranh nhơ bẩn này rồi cho tôi về. Từ đó, tôi thành ra một người khác. Tôi nhớ cái ơn ấy và tôi nguyện sẽ hành động cách nào để cho xứng đáng với tấm lòng đó. Anh là người đầu tiên tôi gặp để đem thi hành ý nghĩ đó, tôi ngờ rằng sau anh, tôi còn tái diễn hành động ấy.


Là một nhà thơ chuyên môn cười cợt, Tú Mỡ lúc ấy cũng thấy se sắt cả lòng. Anh bắt tay cảm tạ viên đại úy và cúi đầu rảo bước về khu anh ở. Cả nhà trông thấy khóc thét lên vì yên trí là ma hiện về. Thì ra có người đã báo tin cho nhà ông biết là ông đã bị bắt và Tây đã bắn chết rồi. Tú Mỡ đã chết thực. Chứng cớ là ở giữa nhà có bày bàn thờ, trên để một bức hình của anh. Tú Mỡ nhìn một lúc rồi cũng tưởng luôn mình đã chết thực. Nhưng vì đi đường đói quá, mà trên bàn thờ lại để cúng một đĩa bánh lọc và một đĩa giò, Tú Mỡ hạ tuốt xuống ăn tì tì và hỏi:


- Thôi, tôi chẳng cần phải lễ tôi làm gì. Đói quá, ăn đã rồi nói chuyện sau.


 


Lần này, Tú Mỡ còn có trở về nữa không?


Chết rồi mà lại trở về ăn uống và trò chuyện với vợ con như... người sống, đó cũng là một đề tài để cho Tú Mỡ làm thơ trào phúng, nhưng không hiểu làm sao, từ đó đến nay tôi chưa thấy Tú Mỡ làm một bài thơ nào như vậy. Ở khu về, rồi đi vào miền Nam, thỉnh thoảng có một vài tin tức cho tôi hay là Tú Mỡ vẫn khỏe tuy đã lớn tuổi rồi, cho tới một ngày đầu năm Tân Hợi thì có tin đồn mất thật. Chắc chắn lần này, Tú Mỡ không về nữa và dù có cầu xin thế nào đi nữa, ông cũng không thể đưa cái thân gầy xác ve về ăn bánh lọc và giò như trước nữa - nếu tin chúng tôi nhận được quả là xác thực.


Thôi, cũng cứ cho là được đi. Ở vào cái thời chiến tranh này, ăn tới cái thượng thọ bảy mươi như thế, phải nói là hiếm có. Nếu ai biết Tú Mỡ từ lúc còn trẻ, chắc chắn không có mấy người dám tin rằng ông lại có thể đi tới được... cao độ ấy. Là vì ngay từ lúc còn trẻ tuổi, Tú Mỡ đã gầy yếu hom hem, mà theo ý kiến của đa số người mình thì những người ốm o như thế, khó mà thọ được. Nhưng Tú Mỡ cứ sống nhăn. Dù nắng hay mưa, dù rét hay nóng, ông cứ ngày ngày hai buổi đạp một cái xe đạp tàng đi làm việc. Đi lẫn vào trong đám công nhân, Tú Mỡ đằng thẳng ra không được ai chú ý, nhưng trái lại, ai cũng phải chú ý đến Tú Mỡ vì ngoài cái áo the tàng và đôi giày mõm nhái ra, Tú Mỡ quanh năm đội một cái nón dứa có quai bằng lụa thắt lấy cằm. Tại sao lại chú ý như vậy?


Thực ra, vào thời buổi ấy, mặc áo ta, đội nón dứa, đi giày Tây, lái xe đạp đi ngoài đường, không phải chỉ có một mình Tú Mỡ. Các ông quan nhỏ và những tay sai của thực dân vẫn ăn mặc như thế, và có một đặc thù là cuốn cái tà áo dài đằng sau lại khi đi xe đạp. Tú Mỡ cũng ăn mặc như thế, nhưng có một điểm đặc biệt khác người là ông gắn một cái còi xe hơi vào xe đạp, mỗi khi đến chỗ đông thì bấm bí bon, bí bon ầm ĩ cả lên, còn cái nón dứa của ông thì sơn vàng, để lộ ba chữ Nho trắng “Hồ Trọng Hiếu”. Không hiểu Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu kẻ ba chữ đó vào nón là vì tinh nghịch, hay là vì sợ đi xe đạp bị “ác-si-đăng”(1) chết mà không có ai biết nạn nhân tên là gì nên phải kẻ như thế để cho người ta biết. Dù sao, ba chữ “Hồ Trọng Hiếu” cũng đã được nhiều người biết từ lúc ông còn trẻ, mới đi làm việc cho Tây, nhưng biết thế thôi, chớ về đời riêng của Hiếu thì chỉ có mấy anh em thân biết mà thôi.


Lúc ấy, tôi còn nhỏ so với Hồ Trọng Hiếu, nhưng tôi biết rõ về đời ông là nhờ vì Hiếu là bạn thân của cậu ruột tôi và bà thân mẫu của ông Hiếu là bạn buôn bán “hài” và vàng mã của bà ngoại tôi. Nhà Hiếu ở Hàng Hòm, nhà bà tôi ở đầu Hàng Hài, hai nhà như một. Tuy tôi ở Hàng Gai nhưng gần như suốt ngày tôi ở bên bà ngoại tôi nên Hồ Trọng Hiếu tuy không hơn tuổi tôi nhiều, vẫn coi tôi như cháu và thường dắt tôi về nhà cho tôi mượn truyện để đọc và nói chuyện về đời các con côn trùng như bươm bướm, nhền nhện, ngựa trời, đông trùng hạ thảo cho tôi nghe. Bây giờ còn giữ được nguyên vẹn cảm tình gì đối với ông Hiếu, ấy là ở chỗ ông Hồ Trọng Hiếu là một người “hiền lành như đếm”, yêu chiều trẻ con rất mực và nhũn nhặn, khiêm nhường hết sức.


Cách đây không lâu - dưới trào Ngô Đình Diệm - tôi có đọc một bài báo của một nhà văn trẻ tuổi nào đó (không cần nói tới tên làm gì) nhân bàn về thơ trào phúng có viết đại khái rằng Hồ Trọng Hiếu là một anh “sì nốp” vì phục ông Hồ Chí Minh quá nên đổi họ là họ Hồ (cũng như mấy ông lính ngoại quốc theo kháng chiến lấy tên là Hồ Chí Tài, Hồ Chí Sanh) chớ thực ra Tú Mỡ là họ Nguyễn: Nguyễn Văn Hiếu.


Muốn chửi các nhà văn tiền chiến thế nào cũng được, ai có quyền gì ngăn cản; nhưng vu cáo cho Tú Mỡ đến như thế thì... phải tội! Tôi có biết nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu: đó là nhà thơ đã trước tác ra bài thơ Ông Táo:


Năm ba ông Táo dạo chơi xuân,


Đội mũ đi hia chẳng mặc quần.


Trời hỏi làm sao ăn mặc thế,


Thưa rằng: hạ giới có duy tân.


mà báo Duy Tân lầm là của Tú Xương và Ngô Tất Tố lầm là thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.


Hồ Trọng Hiếu không phải là Nguyễn Văn Hiếu. Từ lúc cha sinh mẹ đẻ, Tú Mỡ vẫn là họ Hồ. Cái gì không biết chớ Tú Mỡ nhất định không bao giờ lại trơ trẽn đến thay cả họ mình đi như có người ở đây, thấy Ngô Đình Diệm lên hương, đã đổi họ mình ra họ Ngô và tán ông Ngô là dòng dõi vua Ngô Quyền.


Ngay từ lúc đi làm với Tây, Tú Mỡ đã tỏ ra là người có khả năng, có tư thế, đi làm rất chăm chỉ nhưng không phải vì thế mà sợ Tây. Ông ít nói, Tây không hề làm khó dễ với ông, nhưng ông không vì thế mà quên căm hờn thực dân Pháp, chứng cớ là ngay từ hồi ấy ông đã có nhiều bài thơ châm chọc bọn người thống trị, nhất là tay sai của Pháp (tức là bọn quan lại), châm chọc kín đáo, nhẹ nhàng (chớ không dữ dội và huỵch toẹt như sau này trên hai tờ Phong Hóa, Ngày Nay).


Ấy là thời kỳ ông bắt đầu viết thơ vui trên tờ kỷ yếu “Việt Nam Thanh niên hội” của sinh viên trường Cao đẳng, đặt trụ sở ở đường Vọng Đức (Hà Nội), mà chủ nhiệm là một người Pháp: Ô. Paul Monet.


 


Tại sao Tú Mỡ lại chỉ viết thơ trào phúng?


Tôi đọc bài thơ cười đầu tiên của Tú Mỡ trên kỷ yếu “Việt Nam Thanh niên hội” là do cậu tôi là Trương Văn Bách đưa cho đọc. Có lẽ về sau này trong nước có nhiều người đọc thơ, yêu thơ và rất có thể phục thơ Tú Mỡ, nhưng người đầu tiên nhận thức được cái tài trào lộng của Tú Mỡ, chính là Trương Văn Bách.


Lần đầu tiên đọc Tú Mỡ, tôi không thể tưởng tượng sao một người “lơ mơ” như Hồ Trọng Hiếu lại có thể làm thơ tài như thế - nhất là thơ ấy lại đăng trong một kỷ yếu dầy cộp, bìa xanh, vẽ ở ngoài một cây đa cổ thụ, lúc ấy nổi tiếng là một tập san quan trọng, do toàn những bực tài ba bỉnh bút. Nói “lơ mơ” thực quả tôi không có ý “hạ thấp” Tú Mỡ. Quả là như thế: ốm yếu, hom hem, như một người mắc bịnh gì kinh niên, cằm lẹm, nói nhỏ nhẹ gần như không ra tiếng. Theo chỗ biết của tôi, ông là một người đạo đức, luôn luôn sống theo đúng lễ giáo thánh hiền, nói tiếng Pháp thông thạo, nhưng không mấy khi nói, trừ trường hợp bất đắc dĩ phải dùng - khác hẳn với đa số thanh niên lúc bấy giờ là thời kỳ có những “ông tây An Nam” động một tí là “xổ” hàng tràng tiếng Pháp.


Bây giờ tôi không còn nhớ đầu đề một bài thơ trào phúng của ông mà tôi được đọc trên tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” nhưng còn mang máng nhớ rằng ông đả kích một ông đốc học ở Thái Bình - ông đốc Q. này dẫm phải phân Tây đi đâu cũng nói tiếng Tây, lúc nào cũng vuốt mũi cho lõ như mũi Tây, thét rồi tưởng mình là Tây thực, một hôm, đi dạo chơi nhà Bô Đa (tức là nhà Magasins Réunis ở đường Paul Bert Hà Nội) bị một ông nhà quê chạm phải. Ông đốc Q. lùi lại ba bước khịt mũi ra dáng tởm và chửi ông nhà quê nọ là “sale Annamite” - thằng An Nam dơ bẩn - đến nỗi có một người đầm đi qua đó phải bật lên cười rũ rượi và chửi ông đốc nọ một trận nên thân.


Tôi không nhớ các bài thơ khác, nhưng mang máng nhớ rằng Tú Mỡ hồi ấy (ký tên thật trên báo là Hồ Trọng Hiếu) nhằm rất nhiều vào các bà ngồi đồng, các người Việt mất giống và các ông quan nịnh Tây hành hạ đồng bào.


Chính vào thời kỳ này, Hồ Trọng Hiếu đã đẻ ra Lý Toét mà ông khai sinh ra ở làng Đình Dù (Bắc Ninh). Cái tên Lý Toét lúc ấy có nhiều người nói tới để chế nhạo những người “quỷnh”, những anh “hấp lìm”. Hồ Trọng Hiếu là người đầu tiên đưa Lý Toét lên tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” mà tiếng Tây kêu là “Foyer des étudiants annamites”. Nhưng vì tập kỷ yếu này không được phổ biến nhiều trong dân chúng, nên Lý Toét không được ai nhắc tới, mà chính cái tên Hồ Trọng Hiếu cũng không được nhiều người biết. Về sau này, tôi còn nhớ Hồ Trọng Hiếu còn viết thơ đăng vài tờ báo nữa - cùng với Nam Hương Bùi Huy Cường viết thơ ngụ ngôn - nhưng cái tiếng tăm của Hồ Trọng Hiếu cũng chẳng may mắn hơn ở trên tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội”.


Phải đợi đến lúc Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long ra tờ Phong Hóa và tuần báo Ngày Nay, cái tên Tú Mỡ (bút hiệu của Hồ Trọng Hiếu) mới nổi bật được lên và được kể là thơ trào phúng “có hạng” trong làng văn, làng báo. Nhưng đó là chuyện sau.


Tôi còn nhớ lúc ông Hồ Trọng Hiếu viết thơ cười cho tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” cho đến khi ông hợp tác chặt chẽ với hai tờ Phong Hóa, Ngày Nay - theo chỗ biết của riêng tôi - thì ông không hề có một bài nào viết bằng văn xuôi trên báo. Phải nói ông là một chuyên viên thơ trào phúng. Nhưng tại sao ông lại chỉ chuyên về thơ trào phúng?


Hẳn là ông có một thích thú riêng, một lý do riêng, để chuyên về loại thơ này, nhưng hồi ấy theo lời các bạn thân của ông tán gẫu với nhau - có khi sau lưng, có khi trước mặt ông - thì ông làm thơ trào phúng vì một nguyên nhân dễ hiểu: ông sợ vợ. Nói của đáng tội, bà Hồ Trọng Hiếu không phải là người dữ. Đó là một người đàn bà cổ kính, hơi mập hơn ông, quanh năm buôn bán tần tảo và sống theo nguyên tắc, mà ông Hiếu thì bề ngoài có vẻ “hiền” nhưng bên trong lại nghịch như ma, đi hát cô đầu “không chê được”. Ai đã từng hát cô đầu ở Bắc đều đã biết cái thú này không dung nạp được ánh mặt trời, nói một cách khác, đi nghe hát phải về đêm mới thú. Mà đi chơi về khuya một lần còn nói dối vợ được, hai lần còn nói dối vợ được, chớ đến ba lần thì nghe như hơi... khó, nên dù muốn cách thế nào, chớ đi về khuya hoài, mấy mà chẳng phải nể vợ, nếu không muốn cho ầm cửa ầm nhà.


Luận về sợ vợ, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu bàn rằng người ta sợ vợ vì ái thê, ái sinh úy, úy thê. Hiếu nọ cũng giống Hiếu kia: nể vợ mãi thành sợ, sợ quá, giấu được ít lâu, chớ mãi rồi anh em đều biết hết. Vì thế anh em mới kết luận rằng: Tú Mỡ sợ vợ nhiều khi tức không nói ra được, cứ giữ ở trong lòng. Giữ mãi không chịu nổi, cũng như người đàn bà có mang, chín tháng mười ngày phải đẻ, Tú Mỡ cũng phải đẻ ra văn mà bài văn đầu của ông là bài “rủa vợ” tế sống vợ. Mà một bài văn như thế, cố nhiên viết bằng văn xuôi mất thú, phải viết bằng thơ vui! Được cái đà ấy, Tú Mỡ tiếp tục làm thơ vui mãi, thét rồi thành thói quen, thấy cái gì buồn cười ấm ức trong lòng không làm thơ vui không chịu nổi.


Tôi không hiểu lý giải đó của các bạn thân của Tú Mỡ có đúng không, nhưng cứ xin ghi lại nơi đây. Nếu quả Tú Mỡ đã sang thế giới bên kia mà chợt vớ được bài này, chắc cũng cười xòa không giận, mà có khi lại còn thú vị là khác và ngâm lại đoạn bài văn sợ vợ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu: “Các anh cứ cười tôi đi, cóc cần, vì có vợ mới được sợ vợ, vì có vợ mới được sợ!”.


 


Ngôi sao Tú Mỡ chói sáng từ bao giờ?


Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu thật bắt đầu nổi tiếng, như trên kia đã nói, từ hai tờ Phong Hóa, Ngày Nay. Lúc này, Tú Mỡ gặp hai cái may hơn lúc viết cho tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội”: một là tờ Phong Hóa, tờ báo vui cười đầu tiên ở Bắc Việt (có thể nói là ở Việt Nam) bán rất chạy, nên thơ của Tú Mỡ được nhiều người đọc; hai là cho tới lúc bấy giờ, các báo chí chuyên về trào lộng bằng văn xuôi, thỉnh thoảng mới có thơ vui, mà Phong Hóa thì kỳ nào cũng có một hai bài nên được người đọc chú ý và thích thú.


Chẳng mấy lúc thơ vui của Tú Mỡ (đặt dưới đề mục Dòng nước ngược) thành cái “tủ” của báo và bút hiệu Tú Mỡ được người ta nói tới nhiều. Về sau này, có nhiều “Tú” ra đời như “Tú Sơn”, “Tú Phe”, “Tú Nạc”, “Tú Lơ Mông”, đều là theo Tú Mỡ, mà Tú Mỡ lấy chữ “Tú” ở bút hiệu cũng là bắt chước “Tú Xương” mà ông mến phục. Nhưng tại sao lại là “Tú Mỡ”?


Trong khi ông cộng tác với tờ Phong Hóa, tôi đã có dịp ngồi nói chuyện với ông khá lâu ở nhà cậu tôi ở số 2 phố Hàng Hài. Tôi có hỏi tại sao ông lại đặt tên là Tú Mỡ thì ông cho biết là có hai lý do: một là ông nhái Tú Xương, ông Trần Tế Xương là Tú Xương thì ông là Tú Mỡ; hai là ông gầy ốm có tiếng, người chỉ trơ xương và đi lò dò như con cò thì ông “chơi trội” đặt tên là Tú Mỡ để xem họa may có vì làm thơ chửi đời mà... bán hơn được tí nào chăng.


Trên kia đã nói là Tú Mỡ khai sinh cho Lý Toét trên tờ kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” nhưng không ai để ý. Sau đó, Tú Mỡ lại đưa Lý Toét sang Tứ Dân Văn Uyển cũng của người Pháp làm chủ nhiệm - Ô. Henri Tissot - nhưng báo này cũng không chạy và Lý Toét vẫn không được ai biết tới.


Nói cho thật đúng, Tú Mỡ đẻ ra Lý Toét nhưng nuôi nấng cho Lý Toét nên người, có danh, có phận, có tăm, có tiếng, phải kể đến Nguyễn Tường Tam. Cùng với sự “lên hương” của thơ Dòng nước ngược, Lý Toét bỗng chốc thành một nhân vật điển hình trong văn học sử Việt Nam, đi đâu, ngồi đâu thiên hạ cũng buồn cười về những hành vi của Lý Toét. Đồng thời, thơ vui cười của Tú Mỡ vào thời này cũng sắc nét hơn vì hai lý do:


- Tú Mỡ có một cơ quan thường xuyên để bày tỏ nhân sinh quan của mình về xã hội lúc bấy giờ.


- Làng báo, làng văn lúc bấy giờ tương đối tự do hơn trước.


Tờ Phong Hóa bị đóng cửa, tờ Ngày Nay ra thay thế, Tú Mỡ viết ít hơn trước, cho đến khi đại chiến thứ hai bùng nổ, Tú Mỡ gần như treo bút. Có người bảo rằng ông phải nghỉ viết như thế là vì giám đốc Sở Tài chánh Đông Dương buộc ông phải viết cam đoan bỏ nghề viết báo, “nếu không thì bị bắt bỏ tù” nhưng nhiều người khác cho rằng đó chỉ là một “chuyện đồn đại”: Tú Mỡ không viết nữa vì không có cơ quan nào “đãi ngộ” Tú Mỡ như tờ Phong Hóa nữa, mà ngoài ra còn vì Tú Mỡ, trước phong cách “Tây đi Nhật tới”, cũng phải giữ gìn vì bao nhiêu bạn như Nguyễn Tường Long, Trần Khánh Dư đều bị Nhật bắt giam đầy ải.


Đến lúc Tây trở lại Hải Phòng, toàn dân kháng chiến, Tú Mỡ ở lại với gia đình ở Hà Nội rồi theo kháng chiến lên Việt Bắc, làm bổn phận của người công dân lúc bấy giờ là diệt thực dân để tranh thủ độc lập cho đất nước.


Trong mấy năm trời kháng chiến tôi không gặp Tú Mỡ lần nào, nhưng ở Đọi Đệp cứ mỗi phiên chợ Đồng Quan gặp anh em ở Việt Bắc về, tôi vẫn được nghe tin tức về Tú Mỡ và biết rằng ông vẫn mạnh, nhưng tôi không thấy mấy ai đem về kể lại cho tôi nghe một bài thơ trào phúng của ông. Là vì tại ông đã lớn tuổi, không còn trước tác nữa? Hay là tại công tác bận rộn ở ngoài kia không còn cho phép ông rảnh rỗi để làm thơ nữa?


Cho mãi đến tận năm ngoái tôi mới lại được tin về Tú Mỡ. Lần này, không phải do các anh em kháng hay hồi chánh về kể lại, như lúc tôi la cà ở Chợ Đại, Chợ Kẹo, ở Đọi Đệp hay Ngăm, Đần, nhưng do một nữ ký giả người ngoại quốc thuật lại sau những tháng sống dưới bom đạn ở Hà Nội năm 1968.


Madeleine Riffaud - tên nữ ký giả - cho biết rằng Tú Mỡ, trong những ngày đầu tiên Bắc Việt bị ném bom, vẫn khỏe mạnh, tuy ông đã bảy mươi tuổi rồi.


“… Nhà thơ trào phúng đó gặp tôi nhiều lần và có một lần đã trò chuyện với tôi rất lâu, cùng với Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên. Ông bận một bộ quần áo bà ba đen, tóc hoa râm nhưng vẫn rậm, không xói. Theo lời các bạn hữu khác kể lại thì lúc này ông mập mạp hơn khi còn trẻ tuổi và sống yên ổn với gia đình trong một căn nhà xinh xẻo có vườn trồng rau ở một ngoại ô Hà Nội. Ông vẫn làm thơ và thơ ông vẫn đượm một tinh thần trào lộng sâu sắc như khi ông còn trẻ”.


Vẫn theo lời nữ ký giả, ở gần nơi Tú Mỡ ở có nhiều giàn cao xạ. Nhiều anh em khuyên ông nên tạm di tản đi nơi khác, nhưng ông không chịu vì ông cho biết là ông thấy có một cái thú riêng ở đấy: cái thú được xem bắn máy bay đến oanh kích Bắc Việt. Bài thơ trào phúng mà Madeleine Riffaud dịch ra tiếng Pháp trong cuốn Au Nord Vietnam (ở Bắc Việt) liên quan đến cái thú ấy: Tú Mỡ tả một cái máy bay bị rớt ngay ở gần nhà ông, trong một bụi chuối và kết cục ông đã chơi chữ “cây chuối” và “ăn củ chuối của ông đây này”.


Đọc bài thơ đó, người ta vẫn thấy giọng thơ của Tú Mỡ không thay đổi: lấy thời sự làm thơ tự nhiên và nhất khí, nên dễ nhớ cũng như bài thơ Nam Hải dị nhân, Sư cô ở cữ, Cái chuông ông trùm... ngày trước. Ngày trước, sống thái bình, những bài thơ của Tú Mỡ được người ta đọc chơi. Bây giờ thì khác. Theo nữ ký giả Riffaud, thơ của Tú Mỡ có tác dụng của những bài vè truyền miệng, một thứ văn dân gian để cho người ta kể lể với tính cách tuyên truyền trong dân chúng như tục ngữ, phong dao vậy.


Ngày xưa, để chống lại phong kiến, dân gian đã đặt ra những ca dao, tục ngữ nhằm chống lại những tai to mặt lớn của chính quyền phong kiến, những “lô cốt tinh thần” do quan lại xây nên như:


Chập cheng thôi lại chập cheng,


Con gà sống thiến để riêng cho thày.


                                           (nhạo bọn đồng cốt quàng xiên)


Thày lo xem tướng cho người,


Tướng thày thì để cho ruồi nó bâu.


                                           (nhạo bọn bói, tướng)


Ban ngày quan lớn như thần,


Ban đêm quan lớn tần mần như ma.


                                           (nhạo bọn quan lại)                   


Sư đang tụng niệm nam mô,


Thấy cô xách giò mò cua lên chùa


Lòng sư luống những mơ hồ


Bỏ kinh, bỏ kệ tìm cô hỏi chào.


Ai ngờ cô đi đàng nào,


Tay cầm tràng hạt ra vào băn khoăn.


                                           (nhạo bọn tu hú)


Thì bây giờ, bên kia vĩ tuyến 17, người Việt Nam vẫn áp dụng ca dao, vè tả thực để làm “đòn bút” đánh vào thành trì ý thức hệ của những người chống họ. Tú Mỡ là một trong những người thơ làm những ca dao tả thực đó, những bài vè ngộ nghĩnh dễ đọc, dễ nhớ để cho cán bộ đem đi “kể” trong những đám đông, trong những hội hè, đình đám (cũng như thời Trung cổ ở Âu châu, những troubadour(1) đi kể những bản anh hùng ca vậy).


Ở bên này vĩ tuyến, có cái “mốt” càng khó hiểu, càng cách biệt dân chúng, càng trừu tượng thì lại càng được coi là mới, là hợp thời, là “trẻ”, chẳng biết bên nào phải, bên nào trái?!


Sài Gòn, đầu năm Tân Hợi


Văn Học số 127 (1-5-1971)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Thực tế, Tú Mỡ mất ngày 13-7-1976, thọ 76 tuổi – (NBT).




(1) Tiếng Pháp: tai nạn – (NBT).




(1) Tiếng Pháp: người hát rong, người kể chuyện rong – (NBT).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »